Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường cho thuê lại lao động một hướng điều chỉnh của pháp luật lao động việt nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường phân tích hướng điều chỉnh pháp luật lao động Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

Chuyên ngành

Pháp luật lao động

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Nghiên cứu khoa học cấp trường

2012

211
8
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

1. NHÓM CHUYÊN ĐỀ 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHO THUÊ LẠI LAO ĐỘNG VÀ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT VỀ CHO THUÊ LẠI LAO ĐỘNG

1.1. Chuyên đề 1: Khái niệm và bản chất cho thuê lại lao động

1.2. Chuyên đề 2: Các quan hệ pháp luật phát sinh từ hoạt động cho thuê lại lao động

1.3. Chuyên đề 3: Pháp luật quốc tế về cho thuê lại lao động

1.4. Chuyên đề 4: Pháp luật và thực tiễn hoạt động cho thuê lại lao động ở một số quốc gia trên thế giới

1.5. Chuyên đề 5: Nguyên tắc, phạm vi, nội dung và hình thức pháp luật điều chỉnh hoạt động cho thuê lại lao động

2. NHÓM CHUYÊN ĐỀ 2: THỰC TRẠNG ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT VỀ CHO THUÊ LẠI LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM

2.1. Chuyên đề 6: Pháp luật hiện hành về hoạt động dịch vụ việc làm ở Việt Nam

2.2. Chuyên đề 7: Thực tiễn hoạt động cho thuê lại lao động ở Việt Nam

3. NHÓM CHUYÊN ĐỀ 3: NHỮNG ĐỀ XUẤT NHẰM XÁC ĐỊNH HƯỚNG ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT (LAO ĐỘNG) VỀ CHO THUÊ LẠI LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM

3.1. Chuyên đề 8: Sự cần thiết của việc điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động cho thuê lại lao động ở Việt Nam

3.2. Chuyên đề 9: Quan điểm, định hướng xây dựng pháp luật điều chỉnh hoạt động cho thuê lại lao động ở Việt Nam

3.3. Chuyên đề 10: Thiết kế khung pháp luật điều chỉnh hoạt động cho thuê lại lao động ở Việt Nam

3.4. Chuyên đề 11: Đề xuất các quy định pháp luật về điều kiện đối với doanh nghiệp cho thuê lao động ở Việt Nam

3.5. Chuyên đề 12: Đề xuất các quy định về các loại hợp đồng trong lĩnh vực cho thuê lại lao động ở Việt Nam

3.6. Chuyên đề 13: Bảo vệ quyền lợi của NLĐ cho thuê lại và những yêu cầu đặt ra đối với việc điều chỉnh pháp luật

3.7. Chuyên đề 14: Bảo vệ DN cho thuê và DN thuê lại lao động trong hoạt động cho thuê lại lao động và những vấn đề đặt ra đối với việc điều chỉnh pháp luật

3.8. Chuyên đề 15: Các biện pháp bảo đảm thực hiện hoạt động cho thuê lại lao động ở Việt Nam

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Nghiên cứu khoa học và pháp luật lao động

Nghiên cứu khoa học đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích và đề xuất các giải pháp điều chỉnh pháp luật lao động Việt Nam. Trong bối cảnh kinh tế thị trườnghội nhập quốc tế, việc cải cách pháp luật lao động là cần thiết để đáp ứng nhu cầu phát triển thị trường lao động. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật lao động, đặc biệt là trong lĩnh vực cho thuê lại lao động.

1.1. Khái niệm và bản chất cho thuê lại lao động

Cho thuê lại lao động là hoạt động mà một doanh nghiệp tuyển dụng lao động và sau đó cho doanh nghiệp khác thuê lại để sử dụng trong một thời gian nhất định. Bản chất của hoạt động này là mối quan hệ ba bên giữa doanh nghiệp cho thuê, người lao động và doanh nghiệp thuê lại. Nghiên cứu chỉ ra rằng, hoạt động này mang lại sự linh hoạt cho thị trường lao động nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro về quyền lợi của người lao động.

1.2. Pháp luật quốc tế và kinh nghiệm điều chỉnh

Nghiên cứu so sánh pháp luật quốc tế về cho thuê lại lao động từ các quốc gia như Đức, Nhật Bản và Trung Quốc cho thấy sự đa dạng trong cách tiếp cận. Các quốc gia này đều có quy định cụ thể để bảo vệ quyền lợi của người lao động trong hoạt động cho thuê lại. Kinh nghiệm từ các nước này là cơ sở quan trọng để Việt Nam xây dựng và hoàn thiện pháp luật lao động trong tương lai.

II. Thực trạng điều chỉnh pháp luật lao động tại Việt Nam

Thực trạng điều chỉnh pháp luật lao động tại Việt Nam hiện nay cho thấy sự thiếu đồng bộ và chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động. Hoạt động cho thuê lại lao động tuy đã xuất hiện từ lâu nhưng vẫn chưa được quy định rõ ràng trong hệ thống pháp luật. Điều này dẫn đến nhiều tranh chấp và bất cập trong thực tiễn.

2.1. Pháp luật hiện hành về dịch vụ việc làm

Theo quy định tại Điều 18 Bộ luật Lao động, hoạt động dịch vụ việc làm bao gồm tư vấn, giới thiệu việc làm và cung ứng lao động. Tuy nhiên, quy định này chưa bao hàm hoạt động cho thuê lại lao động, dẫn đến sự thiếu minh bạch trong quản lý và thực thi pháp luật.

2.2. Thực tiễn hoạt động cho thuê lại lao động

Thực tiễn cho thấy, hoạt động cho thuê lại lao động đã tồn tại từ những năm 2000, đặc biệt tại các khu công nghiệp lớn như TP.HCM, Đồng Nai và Bình Dương. Tuy nhiên, do thiếu quy định cụ thể, nhiều vụ tranh chấp liên quan đến quyền lợi của người lao động đã xảy ra, đặc biệt là vấn đề tiền lương và bảo hiểm xã hội.

III. Đề xuất điều chỉnh pháp luật lao động

Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực cho thuê lại lao động. Các đề xuất tập trung vào việc xây dựng khung pháp lý rõ ràng, bảo vệ quyền lợi của người lao động và doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo sự phát triển bền vững của thị trường lao động.

3.1. Xây dựng khung pháp luật điều chỉnh

Nghiên cứu đề xuất việc xây dựng khung pháp luật cụ thể để điều chỉnh hoạt động cho thuê lại lao động. Khung pháp luật này cần quy định rõ các điều kiện đối với doanh nghiệp cho thuê, quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động, cũng như trách nhiệm của các bên liên quan.

3.2. Bảo vệ quyền lợi người lao động

Một trong những trọng tâm của nghiên cứu là đề xuất các biện pháp bảo vệ quyền lợi của người lao động trong hoạt động cho thuê lại lao động. Các biện pháp bao gồm quy định về tiền lương, bảo hiểm xã hội và các phúc lợi khác, đảm bảo người lao động không bị thiệt thòi so với lao động chính thức.

21/02/2025
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường cho thuê lại lao động một hướng điều chỉnh của pháp luật lao động việt nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế

Trích đoạn nội dung tài liệu

BỘ TƯ PHÁP BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRUONG ĐẠI HỌC LUAT HÀ NOI A£) ¬ ĐÉTÀI _ NHIÊN CỨU KHOA HỌC CAP TRƯỜNG CHO THUÊ LAI LAO ĐỘNG - MỘT HƯỚNG DIEU CHỈNH CUA PHÁP LUAT LAO DONG VIỆT NAM TRONG DIEU KIỆN KINH TE THỊ TRƯỜNG VÀ HỘI NHAP QUOC TE (Mã số: LH 2011-05/DHL-HN) Chủ nhiệm dé tai: TS. Nguyễn Xuân Thu HÀ NỘI - 2012 MỤC LỤC Trang BÁO CÁO PHÚC TRÌNH Phần 1: Lời nói đầu Phần 2: Các kết quả nghiên cứu chủ yếu Phần 2: Kết luận 46 NỘI DUNG CÁC CHUYÊN ĐÈ Nhóm chuyên đề 1: Một số vấn đề lý luận về cho thuê lại lao động và điều chỉnh pháp luật về cho thuê lại lao động Chuyên đề 1: Khái niệm và bản chất cho thuê lại lao động 47 Chuyên dé 2: Các quan hệ pháp luật phát sinh từ hoạt động cho thuê lại 55 lao động Chuyên dé 3: Pháp luật quốc tế về cho thuê lại lao động 63 Chuyên để 4: Pháp luật và thực tiễn hoạt động cho thuê lại lao động ở 83 một số quốc gia trên thế giới Chuyên đề 5: Nguyên tắc, phạm vi, nội dung và hình thức pháp luật điều 98 chỉnh hoạt động cho thuê lại lao động Nhóm chuyên đề 2: Thực trạng điều chỉnh pháp luật về cho thuê lại lao động ở Việt Nam Chuyên đề 6: Pháp luật hiện hành về hoạt động dịch vụ việc làm ở Việt 108 Nam Chuyên đề 7: Thực tiễn hoạt động cho thuê lại lao động ở Việt Nam. 124 Nhóm chuyên đề 3: Những đề xuất nhằm xác định hướng điều chỉnh pháp luật (lao động) về cho thuê lại lao động ở Việt Nam Chuyên dé 8: Sự cần thiết của việc điều chỉnh pháp luật đối với hoạt 133 động cho thuê lại lao động ở Việt Nam Chuyên để 9: Quan điểm, định hướng xây dựng pháp luật điều chỉnh 143 hoạt động cho thuê lại lao động ở Việt Nam Chuyên dé 10: Thiết kế khung pháp luật điều chỉnh hoạt động cho thuê 152 lại lao động ở Việt Nam Chuyên dé 11: Đề xuất các quy định pháp luật về điều kiện đối với 162 doanh nghiệp cho thuê lao động ở Việt Nam Chuyên dé 12: Đề xuất các quy định vẻ các loại hợp đồng trong lĩnh vực 169 cho thuê lại lao động ở Việt Nam Chuyên đề 13: Bảo vệ quyền lợi của NLD cho thuê lại và những yêu cầu 175 đặt ra đôi với việc điêu chỉnh pháp luật Chuyên đề 14: Bảo vệ DN cho thuê và DN thuê lại lao động trong hoạt 184 động cho thuê lại lao động và những vân dé đặt ra đôi với việc điêu chỉnh pháp luật Chuyên dé 15: Các biện pháp bảo đảm thực hiện hoạt động cho thuê lại 195 lao động ở Việt Nam. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 204 NHUNG TU VIET TAT TRONG DE TÀI BLLD: Bộ luật Lao động DN: Doanh nghiệp HĐLĐ: Hợp đồng lao động NLĐ: Người lao động NSDLD: Nguoi sử dụng lao động ILO: Tổ chức Lao động Quốc tế DANH SÁCH CÁN BO THAM GIA DE TÀI TT HỌ VÀ TÊN NHIEM VU 1 | TS.

Nguyễn Xuân Thu - Chu nhiém Dé tai; - Viết Báo cáo phúc trình và các chuyên đề: 2,9, II; - Phối hợp viết chuyên đề 12 2 | ThS. Đỗ Thị Dung - Thư ký Đề tài; - Viết các chuyên đề: 6, 14.TS Nguyễn Hữu Chí Viết chuyên đề 5 4_ | TS. Trần Thị Thuý Lâm Viết các chuyên dé: 1, 8 5_ | TS. Nguyễn Hiền Phương Viết chuyên đề 7 6 | TS.

Hoàng Thị Minh Viết các chuyên đề: 3, 4, 15 7| TS. Đỗ Ngân Bình Viết chuyên dé 10 8 |PGS.TS Lê Thị Hoài Thu Viết chuyên đề 13 9 | ThS. Nguyễn Thị Tuyết Vân _ | Phối hợp viết chuyên dé 12 BAO CÁO PHÚC TRÌNH DE TÀI NCKH CAP TRUONG “Cho thuê lại lao động - Một hướng điều chỉnh của pháp luật lao động Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế” Phần 1: LỜI NÓI ĐẦU 1. TÍNH CÁP THIẾT CỦA ĐÈ TÀI Hoạt động dịch vụ việc làm là hoạt động quan trọng trong việc duy trì và phát triển thị trường lao động ở tất cả các quốc gia phát triển kinh tế thị trường.

Ở Việt Nam hiện nay, nội dung của hoạt động dịch vụ việc làm được quy định tại Điều 18 BLLĐ, bao gồm: tư vấn, giới thiệu việc làm cho NLD; cung ứng và tuyên lao động theo yêu cầu của NSDLD; thu thập, cung ứng thông tin vé thị trường lao động. Vấn dé đặt ra là: trong khuôn khố những nội dung đã quy định, liệu hoạt động dịch vụ việc làm đã đáp ứng được yêu cầu phát triển thị trường lao động ở Việt Nam hiện nay và thời gian tới hay chưa? Theo các phương tiện thông tin đại chúng, dịch vu cho thuê lại lao động đã xuất hiện ở Việt Nam từ những năm 2000 (khoảng năm 2001), điển hình phải kế đến các địa phương: thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương. Theo đó, một số DN (có giấy phép hoạt động giới thiệu việc làm) ký HĐLĐ với NLĐ, sau đó cho các DN khác có nhu cầu thuê lại trên cơ sở “Hợp đồng cung ứng lao động” hay “Hợp đồng dịch vụ lao động”. Hai loại đối tượng NLĐ được sử dụng cho thuê lại thường thấy là: lao động có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao và lao động phô thông.

Trong đó, dich vụ cho thuê lai lao động phô thông theo thời vụ hoặc hình thức tương tự là phô biến hơn. Cũng theo phản ánh của các phương tiện thông tin đại chúng, hoạt động cho thuê lại lao động đã tồn tại từ lâu nhưng dường như đặt ngoài sự quản lý, kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước về lao động cho đến khi phát sinh một sô vụ tranh châp có liên quan hoặc các cơ quan, tô chức hữu quan lên | tiếng. Dưới góc nhìn của những DN cung ứng lao động (bên cho thuê lại lao động) và DN thuê lại lao động thì đây là một hoạt động phù hợp với tính linh hoạt của thị trường lao động, đáp ứng nhu cau thực tế của các DN và NLD và nhìn chung là mang lại hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, dưới cách nhìn của tổ chức đại diện NLD (Công đoàn) cũng như của các cơ quan quan lý nhà nước thì hoạt động này trong thời gian qua đã gây nhiều thiệt thoi cho NLD là đối tượng cho thuê lại, như: NLĐ cho thuê lại bị bớt xén tiền lương, không được tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cũng như không được hưởng các phúc lợi xã hội như những NLĐ thuộc "biên chế" chính thức của DN thuê lại lao động.

Không ít các vụ tranh chấp lao động thời gian qua liên quan đến hoạt động cho thuê lại lao động đã minh chứng cho những lo ngại này. Đứng trước thực tế này, van dé đã va đang tranh luận là những nội dung về hoạt động dịch vụ việc làm theo quy định tại Điều 18 BLLĐ hiện nay có bao gồm hoạt động cho thuê lại lao động hay không? Câu trả lời trên thực tế nhận được ở Việt Nam trong thời gian qua không đồng nhất. Điều này thé hiện ở hai quan điểm dường như trái ngược nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng quy định về hoạt động dịch vụ việc làm tại Điều 18 BLLĐ không bao gồm hoạt động cho thuê lại lao động.

Những người theo quan điểm này còn dựa vào quy định về giao kết HDLD tại Điều 30 BLLĐ dé khang định chắc chắn rằng hiện tại Việt Nam không chấp nhận hoạt động cho thuê lại lao động. Quan điểm thứ hai cho rằng quy định về hoạt động dịch việc làm tại Điều 18 BLLĐ bao gồm cả hoạt động cho thuê lại lao động (nằm trong hoạt động cung ứng lao động). Những người theo quan điểm này còn cho rằng trong BLLĐ và các văn bản hướng dẫn thi hành BLLĐ không thấy có quy định cắm hoạt động cho thuê lại lao động và rằng trên thực tế đăng ký kinh doanh ở một số địa phương hoạt động này đã được chấp nhận trong “ngành nghề kinh doanh” khi đăng ký tại cơ quan nhà nước có thâm quyên về đăng ký kinh doanh (ví dụ: Hà Nội). Dư luận xã hội cũng chia làm hai luéng: ủng hộ và không ủng hộ hoạt động cho thuê lại lao động ở Việt Nam với những lý lẽ khác nhau.

Thái độ của các cơ quan quản lý nhà nước về lao động đã rõ ràng về vấn đề này thông qua các công văn trả lời chính thức của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và một số Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cho một số khu công nghiệp và DN. Tại Công văn số 3880/LĐTBXH ngày 01/10/2004 của Bộ Lao động - Thương bình và Xã hội tra lời Công ty TNHH Sài Gòn Nguyễn Gia, Công văn số 2891/LDTBXH -LDVL ngày 15/8/2007 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trả lời Công ty TNHH Shell Việt Nam (Đồng Nai) về hợp đồng cung ứng dịch vụ lao động và một số công văn của Sé Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai nhìn chung đều viện dẫn khoản 1 Điều 30 BLLĐ để đi đến kết luận là địch vụ lao động theo quy định của BLLĐ Việt Nam không bao gồm hoạt động cho thuê lại lao động và hoạt động này trên thực tế đã vi phạm cách thức giao kết HĐLĐ và vi phạm pháp luật lao động Việt Nam. Từ thái độ này của các cơ quan quản lý nhà nước về lao động khớp nối với thực tế đã có địa phương chấp nhận hoạt động cho thuê lại lao động trong nội dung đăng ký kinh doanh của DN (như đã đề cập) đã gây ra phản ứng tiêu cực từ phía các DN là tại sao cùng một hoạt động mà địa phương này cho phép con địa phương khác lại không cho phép? và không thể ngăn cản sự nghi ngờ về tinh minh bach của pháp luật cũng như tính minh bạch và công bằng trong công tác quản lý của nhà nước. Đúng là thực tế đó đã không thê phủ nhận sự thiếu tính liên thông cần thiết và sự không thống nhất trong hoạt động quản lý của các cơ quan chức năng trong thời gian qua.

Một vấn đề tiếp theo được đặt ra là: Trong tương lai, Việt Nam có nên chấp nhận hoạt động cho thuê lại lao động hay không? Và nếu có thì chấp nhận trong giới hạn nào? Câu trả lời tạm thời được thé hiện trong Dự án BLLD sửa đổi, bỗ sung của Việt Nam. Theo dự thảo BLLĐ (sửa đổi) trình Quốc hội Khóa XIII thông qua tai ky họp thứ 3 thì hoạt động cho thuê lại lao động sẽ được thừa nhận ở Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu khoa học: Điều chỉnh pháp luật lao động Việt Nam trong kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế là một tài liệu chuyên sâu phân tích những thay đổi cần thiết trong hệ thống pháp luật lao động Việt Nam để phù hợp với nền kinh tế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế. Tài liệu này không chỉ làm rõ các thách thức pháp lý hiện tại mà còn đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý lao động, đảm bảo quyền lợi của người lao động và người sử dụng lao động. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách và những ai quan tâm đến lĩnh vực lao động và pháp luật.

Để hiểu sâu hơn về các khía cạnh liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ luật học tính tương thích của pháp luật lao động Việt Nam với nhóm tiêu chuẩn lao động quốc tế về tự do hiệp hội thương lượng tập thể và một số kiến nghị, nghiên cứu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự phù hợp của pháp luật lao động Việt Nam với các tiêu chuẩn quốc tế. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ luật học hoàn thiện pháp luật về đại diện lao động phù hợp với tiêu chuẩn của hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương cung cấp cái nhìn chi tiết về việc hoàn thiện pháp luật đại diện lao động trong bối cảnh hội nhập. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học so sánh pháp luật về hợp đồng lao động Việt Nam và Hàn Quốc sẽ giúp bạn có góc nhìn so sánh giữa hai hệ thống pháp luật lao động, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm quý giá.