Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam được đánh giá là một trong những trung tâm đa dạng sinh học thực vật hàng đầu khu vực Đông Nam Á, với khoảng 12.948 loài thực vật được ghi nhận, trong đó có xấp xỉ 3.948 loài được sử dụng làm thuốc chữa bệnh. Nguồn tài nguyên cây thuốc tự nhiên phân bố rộng khắp các hệ sinh thái rừng, gắn liền với kho tàng tri thức bản địa phong phú của 54 dân tộc anh em. Tuy nhiên, áp lực từ việc khai thác quá mức, tập quán canh tác nương rẫy cùng sự suy giảm diện tích rừng tự nhiên đã khiến khoảng 40% trữ lượng cây thuốc ngoài tự nhiên bị suy thoái nghiêm trọng, kéo theo nguy cơ mai một vốn tri thức y học cổ truyền quý giá.

Nhằm giải quyết bài toán cấp thiết trên, luận văn thạc sĩ lâm học của tác giả Phan Duy Thành dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Đỗ Hoàng Chung tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên đã tập trung thực hiện đề tài nghiên cứu tri thức bản địa về khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc của các cộng đồng dân địa phương tại xã Khâu Tinh, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là điều tra, phát hiện, định danh khoa học và tư liệu hóa toàn diện các bài thuốc dân gian, các loài cây thuốc được cộng đồng bản địa sử dụng, từ đó xác định các loài có giá trị cao cần ưu tiên bảo tồn và đề xuất giải pháp phát triển bền vững. Phạm vi không gian nghiên cứu được tiến hành trên toàn bộ diện tích tự nhiên 8.445,8 ha của xã Khâu Tinh, nơi có diện tích đất lâm nghiệp chiếm tới 86% (tương đương 7.270 ha) thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên Na Hang. Thời gian triển khai thu thập dữ liệu thực địa kéo dài từ tháng 9/2014 đến tháng 9/2015.

Ý nghĩa của đề tài được khẳng định qua việc lượng hóa thành công nguồn tài nguyên thực vật dược liệu phục vụ trực tiếp cho 1.212 nhân khẩu thuộc 249 hộ gia đình trên địa bàn, đồng thời cung cấp luận cứ khoa học thực chứng để hỗ trợ công tác quản lý tài nguyên rừng đặc dụng và duy trì sinh kế xanh cho đồng bào miền núi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết dân tộc thực vật học kết hợp với khung lý thuyết quản lý bền vững lâm sản ngoài gỗ và bảo tồn đa dạng sinh học dựa vào cộng đồng. Trong đó, 4 khái niệm trung tâm được vận dụng xuyên suốt gồm:

  1. Tri thức bản địa: Hệ thống kiến thức, kỹ năng, tập quán và kinh nghiệm thực tiễn được các cộng đồng dân tộc thiểu số đúc kết, lưu truyền qua nhiều thế hệ thông qua truyền miệng hoặc thực hành sinh hoạt hàng ngày.
  2. Lâm sản ngoài gỗ: Toàn bộ các sản phẩm sinh học có nguồn gốc từ rừng ngoại trừ gỗ tròn, đóng vai trò tạo nguồn thu nhập bổ sung và cung cấp dược liệu chăm sóc sức khỏe.
  3. Bảo tồn tại chỗ và bảo tồn chuyển vị: Chiến lược duy trì và bảo vệ các nguồn gen thực vật nguy cấp ngay tại môi trường sống tự nhiên hoặc di thực vào các vườn ươm, vườn thực vật nhân tạo có kiểm soát.
  4. Chỉ số tính tổn thương của loài: Thước đo tổng hợp phản ánh mức độ đe dọa sinh tồn của loài cây thuốc dựa trên tần suất khai thác, tính đặc thù sinh cảnh và khả năng tái sinh tự nhiên.

Mô hình nghiên cứu kết hợp hài hòa giữa đánh giá định lượng phân loại học thực vật và đánh giá định tính giá trị xã hội học của các bài thuốc cổ truyền.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thu thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp thông qua cỡ mẫu khảo sát đại diện tại toàn bộ 4 thôn bản thuộc xã Khâu Tinh gồm Khau Phiêng, Nà Lũng, Khâu Tinh và Tát Kẻ với sự tham gia của 249 hộ gia đình thuộc 3 nhóm dân tộc chính: Tày (chiếm 42% số hộ), H'Mông (chiếm 41,2% số hộ) và Dao (chiếm 15,7% số hộ).

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng để xác định 45 người cung cấp tin then chốt là các già làng, trưởng bản, thầy lang và những người am hiểu sâu sắc về cây thuốc dân gian. Tác giả sử dụng bộ công cụ đánh giá nhanh nông thôn (RRA) và đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA), triển khai thông qua 2 kỹ thuật cốt lõi: phỏng vấn liệt kê tự do và phỏng vấn bán cấu trúc theo bảng hỏi chuẩn bị trước.

Trên thực địa, tác giả thực hiện các chuyến khảo sát tuyến xuất phát từ trung tâm các bản làng tỏa ra 4 hướng sinh cảnh rừng khác nhau. Mẫu thực vật được thu hái trực tiếp, ghi chép tường tận đặc điểm hình thái thân, lá, hoa, quả và xử lý ép tiêu bản thực vật học theo kích thước quy chuẩn 45 cm x 30 cm. Quá trình định danh khoa học sử dụng phương pháp hình thái so sánh, đối chiếu trực tiếp với bộ sách Danh lục các loài thực vật Việt Nam, Từ điển cây thuốc Việt Nam và thẩm định từ các chuyên gia phân loại thực vật của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.

Để xếp hạng mức độ ưu tiên bảo tồn, nghiên cứu áp dụng ma trận cho điểm 4 tiêu chí độc lập gồm: độ hữu ích (thang 0-2 điểm), khả năng tiếp cận nơi sống (thang 0-1 điểm), tính chuyên biệt nơi sống (thang 0-2 điểm) và mức độ tác động đe dọa sinh tồn (thang 0-2 điểm). Tiến độ nghiên cứu được phân bổ chặt chẽ theo 3 giai đoạn: thu thập tư liệu thứ cấp (tháng 9-11/2014), khảo sát thực địa và giám định mẫu (tháng 12/2014 - 5/2015), xử lý số liệu thống kê nội nghiệp bằng phần mềm Microsoft Excel (tháng 6-9/2015).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra thực địa đã định danh và lập danh lục khoa học chi tiết cho 110 loài thực vật làm thuốc được các cộng đồng dân gian xã Khâu Tinh khai thác và sử dụng. Số lượng loài này thuộc 59 họ thực vật và phân bố ở 2 ngành thực vật bậc cao có mạch: Ngành Hạt trần với 1 họ, 1 loài (cây Kim giao - Nageia fleuryi) và Ngành Hạt kín chiếm ưu thế tuyệt đối với 58 họ, 109 loài.

Trong tổng số 59 họ thực vật ghi nhận, phổ họ cho thấy tính phân hóa đa dạng rõ rệt. Họ Cúc (Asteraceae) chiếm vị trí dẫn đầu với 11 loài (chiếm 10% tổng số loài), tiếp theo là Họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) với 5 loài (chiếm 4,55%), Họ Lúa (Poaceae) có 5 loài (chiếm 4,55%), Họ Đậu (Fabaceae) có 4 loài (chiếm 3,64%), Họ Tiết dê (Menispermaceae) có 4 loài (chiếm 3,64%), Họ Gừng (Zingiberaceae) có 3 loài (chiếm 2,73%) và Họ Ráy (Araceae) có 3 loài (chiếm 2,73%).

Về dạng sống, thảm thực vật cây thuốc phân bố đa dạng thành 4 nhóm chính: dạng thân thảo chiếm tỷ lệ cao nhất với khoảng 42,7%, dạng thân leo và dây leo chiếm 25,5%, cây bụi chiếm 19,1% và cây thân gỗ lớn chiếm 12,7%. Đáng chú ý, nghiên cứu đã phát hiện và ghi nhận sự hiện diện của nhiều loài dược liệu quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ cây thuốc cần ưu tiên bảo tồn như: Lan kim tuyến (Anoectochilus calcareus), Bảy lá một hoa (Paris polyphylla), Bình vôi đỏ (Stephania rotunda), Ba kích ruột gà (Morinda officinalis), Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria), Đẳng sâm (Codonopsis javanica), Cốt khí (Reynoutria japonica) và Hà thủ ô đỏ (Fallopia multiflora).

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh mối tương quan chặt chẽ giữa dạng sống của loài thực vật và tập quán thu hái của người dân. Thông qua biểu đồ cơ cấu bộ phận sử dụng, có thể nhận thấy người dân địa phương thu hái lá chiếm tỷ trọng cao nhất (khoảng 38,2%), tiếp đến là rễ và thân củ (chiếm 29,1%), toàn cây (chiếm 18,2%), vỏ thân (chiếm 8,2%) và quả/hạt (chiếm 6,3%). Việc khai thác tập trung vào rễ, củ ngầm đối với các loài như Bình vôi đỏ, Ba kích, Đẳng sâm tạo ra tác động hủy diệt trực tiếp đến khả năng phục hồi quần thể tự nhiên, làm suy giảm mật độ tái sinh rừng từ 30% đến 40% tại các khu vực nương rẫy cũ và chân núi đá vôi.

Khi so sánh với các nghiên cứu tương tự tại Vườn quốc gia Tam Đảo (với 459 loài cây thuốc) hay vùng đệm Vườn quốc gia Yok Đôn (với 69 loài), hệ thực vật cây thuốc tại xã Khâu Tinh thể hiện tính đặc trưng sâu sắc của vùng núi đá vôi Đông Bắc thuộc cánh cung Lô Gâm. Các cộng đồng dân tộc Tày, H'Mông, Dao đã tích lũy kho tàng tri thức phong phú chữa trị 16 nhóm bệnh khác nhau, nổi bật là các bài thuốc trị bệnh phong thấp, đau nhức xương khớp, bệnh đường tiêu hóa, bệnh ngoài da, thuốc bổ dưỡng sau sinh và thuốc giải độc rắn cắn.

Tuy nhiên, thảo luận nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khoảng 85% tri thức bản địa này chỉ tồn tại dưới dạng truyền miệng trong phạm vi gia đình dòng họ, thiếu sự ghi chép thành văn bản. Do xu thế hiện đại hóa và sự thâm nhập của tân dược, ước tính có tới 15-20% nguồn tri thức cổ truyền của các nghệ nhân cao tuổi đang đứng trước nguy cơ bị lãng quên hoặc biến mất hoàn toàn sau mỗi chu kỳ thế hệ.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả đánh giá thực trạng phân bố và mức độ đe dọa đối với 110 loài cây thuốc, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược đồng bộ nhằm bảo tồn và phát huy bền vững nguồn tài nguyên dược liệu bản địa:

  1. Thiết lập mô hình vườn ươm và nhân giống bảo tồn ngoại vi (Ex-situ): Khởi động xây dựng từ 5 đến 10 vườn cây thuốc mẫu tại các hộ gia đình nòng cốt và trạm y tế xã trong giai đoạn 2016-2018. Ưu tiên nhân giống thuần hóa các loài quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cao như Lan kim tuyến, Bảy lá một hoa, Ba kích và Đẳng sâm; do Ủy ban nhân dân xã Khâu Tinh phối hợp cùng Trạm Khuyến nông huyện Na Hang trực tiếp tổ chức.
  2. Xây dựng quy chế khai thác lâm sản ngoài gỗ bền vững gắn với giao khoán bảo vệ rừng: Ban hành cam kết cộng đồng về mùa vụ và kích thước thu hái, nghiêm cấm triệt để việc khai thác tận diệt rễ củ cây thuốc non nhằm duy trì tỷ lệ tái sinh tự nhiên trên 60%; do Ban quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Na Hang và Hạt Kiểm lâm chủ trì giám sát.
  3. Tư liệu hóa và số hóa toàn bộ hệ thống tri thức y học dân gian: Tổ chức biên soạn cẩm nang y học bản địa song ngữ, số hóa thông tin nhận dạng và phương thức bào chế của 100% các bài thuốc gia truyền trong thời gian 12-18 tháng; do Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên thực hiện.
  4. Phát triển vùng chuyên canh dược liệu dưới tán rừng tự nhiên gắn với chuỗi giá trị thương mại: Tổ chức liên kết giữa 249 hộ dân với các doanh nghiệp sản xuất đông dược uy tín để bao tiêu sản phẩm đầu ra, đặt mục tiêu nâng mức thu nhập bình quân từ dược liệu của người dân địa phương tăng thêm từ 30% đến 40% trong vòng 5 năm; do các Hợp tác xã Nông lâm nghiệp huyện Na Hang điều phối vận hành.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và dữ liệu thực chứng của bản luận văn mang lại giá trị thực tiễn to lớn cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:

  1. Nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên chuyên ngành Lâm học, Thực vật học, Dược liệu học: Sử dụng công trình như một tài liệu tham khảo chuẩn mực về danh lục 110 loài thực vật dược liệu vùng núi Đông Bắc, phương pháp luận nghiên cứu dân tộc học thực vật và kỹ thuật giải phẫu tiêu bản thực vật.
  2. Cán bộ quản lý khu bảo tồn thiên nhiên và cơ quan kiểm lâm: Vận dụng hệ thống số liệu về 7.270 ha đất rừng lâm nghiệp tại Khâu Tinh để xây dựng kế hoạch phân vùng bảo vệ nghiêm ngặt, thiết lập đường băng kiểm soát tuần tra bảo tồn nguồn gen quý hiếm trong Sách đỏ Việt Nam.
  3. Doanh nghiệp kinh doanh dược liệu và hợp tác xã y học cổ truyền: Khai thác tiềm năng vùng nguyên liệu sạch, tiếp cận các công thức phối ngũ cây thuốc bản địa độc đáo của người Tày, H'Mông, Dao để nghiên cứu phát triển các sản phẩm chăm sóc sức khỏe có giá trị gia tăng cao.
  4. Sinh viên đại học và cao học khối ngành nông lâm y sinh học: Nắm vững các bước thực hành đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA/RRA), phương pháp thiết kế tuyến điều tra thực địa và kỹ năng xây dựng ma trận đánh giá ưu tiên bảo tồn sinh học.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn đã ghi nhận chính xác bao nhiêu loài cây thuốc tại xã Khâu Tinh? Công trình nghiên cứu đã tiến hành khảo sát thực địa, thu mẫu và định danh chính xác 110 loài thực vật làm thuốc thuộc 59 họ, phân bố ở 2 ngành thực vật bậc cao có mạch, phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho 1.212 người dân địa phương.

Những họ thực vật nào chiếm ưu thế lớn nhất về số lượng loài cây thuốc? Họ Cúc (Asteraceae) chiếm ưu thế lớn nhất với 11 loài (chiếm 10% tổng số loài), tiếp theo là Họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) và Họ Lúa (Poaceae) mỗi họ có 5 loài, Họ Đậu (Fabaceae) và Họ Tiết dê (Menispermaceae) mỗi họ có 4 loài.

Các loài thực vật quý hiếm nào ghi nhận tại địa bàn đang có nguy cơ bị đe dọa cao? Nghiên cứu ghi nhận nhiều loài dược liệu quý hiếm có mặt trong Sách đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ cây thuốc bị đe dọa nghiêm trọng do tập quán khai thác rễ củ như: Lan kim tuyến, Bảy lá một hoa, Ba kích ruột gà, Bình vôi đỏ, Đẳng sâm và Hoàng đằng.

Phương pháp nghiên cứu nào được ứng dụng để tiếp cận tri thức bản địa? Tác giả đã ứng dụng kết hợp hai phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) và đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA), thông qua kỹ thuật phỏng vấn liệt kê tự do, phỏng vấn bán cấu trúc và điều tra thực địa theo tuyến cùng 45 người cung cấp tin then chốt.

Vì sao khai thác rễ củ lại gây áp lực nghiêm trọng lên quần thể cây thuốc tự nhiên? Thu hái rễ củ chiếm tới 29,1% cơ cấu bộ phận sử dụng, hành vi này triệt hạ hoàn toàn cơ quan sinh dưỡng và khả năng sinh sản của cây, làm mật độ cá thể các loài dây leo và cây thảo giảm tới 30-40% nếu không được khoanh nuôi bảo vệ kịp thời.

Kết luận

  • Công trình đã thiết lập một hệ thống danh mục thực vật hoàn chỉnh gồm 110 loài cây thuốc thuộc 59 họ thực vật bậc cao có mạch tại xã Khâu Tinh, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang.
  • Tư liệu hóa thành công kho tàng tri thức bản địa phong phú của 3 dân tộc Tày (42%), H'Mông (41,2%) và Dao (15,7%) trong việc thu hái, bào chế các bài thuốc điều trị 16 nhóm bệnh thông thường và hiểm nghèo.
  • Xác lập cơ sở khoa học thực chứng để đánh giá mức độ tổn thương sinh học và xác định danh sách các loài thực vật nguy cấp trong Sách đỏ Việt Nam cần được ưu tiên bảo tồn nguồn gen.
  • Hoàn thiện hệ thống 4 giải pháp khả thi kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn nguyên vị, bảo tồn chuyển vị và phát triển kinh tế nông lâm nghiệp sinh thái cho 249 hộ dân vùng đệm.
  • Đề xuất lộ trình nghiên cứu mở rộng trong 12 đến 24 tháng tới nhằm phân tích định lượng hoạt chất hóa sinh của các loài thảo dược đặc hữu và thương mại hóa chuỗi giá trị cây thuốc Nam.

Các cơ quan quản lý lâm nghiệp, tổ chức bảo tồn đa dạng sinh học và cộng đồng khoa học được khuyến nghị đẩy mạnh ứng dụng các kết quả nghiên cứu của luận văn vào thực tiễn quy hoạch vùng dược liệu bền vững tại khu vực miền núi phía Bắc.