MỞ ĐẦU CHƢƠNG 1-TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG TỰ BẢO VỆ CỦA CÁC TẦNG CHỨA NƢỚC 1. Tình hình nghiên cứu trên Thế giới 1. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam CHƢƠNG 2 - ĐẶC ĐIỂM CHUNG VÙNG THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2. Đặc điểm địa lý tự nhiên 2.
Đặc điểm Địa chất - ĐCTV 2. Hiện trạng khai thác nƣớc dƣới đất 2. Hiện trạng các nguồn gây ô nhiễm CHƢƠNG 3-NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG TỰ BẢO VỆ CÁC TẦNG CHỨA NƢỚC 3. Các yếu tố đánh giá khả năng tự bảo vệ của các tầng chứa nƣớc 3.
Cơ sở lý thuyết phƣơng pháp đánh giá khả năng tự bảo vệ của các tầng chứa nƣớc 3. Phƣơng pháp đánh giá bằng hệ thống mô hình Drastic 3. Kết quả đánh giá 3. Phân tích kết quả đánh giá CHƢƠNG 4-ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO VỆ VÀ KHAI THÁC HỢP LÝ NƢỚC DƢỚI ĐẤT VÙNG NGHIÊN CỨU 4.
Hiện trạng các nguồn gây bẩn ảnh hƣởng đến khả năng tự bảo vệ của các tầng chứa nƣớc qh và qp 4. Bảo vệ nƣớc dƣới đất vùng Thanh Trì, Hà Nội 4. Giải pháp công trình 4. Giải pháp phi công trình 4.
Giải pháp khai thác nƣớc dƣới đất hợp lý, bền vững KẾT LUẬN 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG TỰ BẢO VỆ CỦA CÁC TẦNG CHỨA NƢỚC 1. Tình hình nghiên cứu trên Thế giới Điều tra và đánh giá khả năng tự bảo vệ nƣớc dƣới đất trên thế giới đƣợc thực hiện ngày càng phổ biến và đã trở thành một phần quan trọng trong điều tra cơ bản về tài nguyên nƣớc dƣới đất. Trên thế giới có nhiều công trình điều tra, đánh khả năng tự bảo vệ tầng chứa nƣớc. Điển hình nhƣ ở Mỹ đã tiến hành thực hiện các dự án nhƣ: Mức độ nhạy cảm nhiễm bẩn nƣớc dƣới đất ở Minesota do Porcher thực hiện 1988; Hệ thống tiêu chuẩn để xác định vị trí các bãi thải ở Mỹ do Legrand thực hiện năm 1988; Tính toán nhiễm bẩn Nitrat nƣớc dƣới đất ở Mỹ do Viện nƣớc dƣới đất và môi trƣờng, Đại học Oklahoma thành lập năm 1988, … Ở vùng Trung Cận Đông có các dự án: bản đồ dễ tổn thƣơng nƣớc dƣới đất vùng Irbid do Margane và các cộng sự thực hiện năm 1997 và 1999; khu vực Nam Amman do Hijazi và các cộng sự thực hiện năm 1999,.
Ở khu vực Châu Âu có các dự án: Lập bản đồ khả năng dễ bị nhiễm bẩn của Bỉ do sở Tài nguyên nƣớc và môi trƣờng vùng Flemish (Bỉ) thành lập năm 1987; Khả năng dễ bị nhiễm bẩn của nƣớc dƣới đất đối với sự ô nhiễm của Nitrat do các hoạt động canh nông ở Anh do sở điều tra đất trồng của Anh, Wale và sở địa chất Anh (Carter, Plamer và Moukhouse) thành lập năm 1987; Đánh giá độ nhạy cảm của tầng chứa nƣớc đối với sự lắng đọng acid ở châu Âu do Holnberg Johnston và Maxe thuộc viện nghiên cứu quốc tế về phân tích hệ thống ứng dụng (IFASA) thành lập năm 1987,… Các dự án điều tra đánh giá khả năng tự bảo vệ nƣớc dƣới đất đã đƣợc tiến hành và có đầy đủ cơ sở khoa học và thực tiễn ứng dụng vào thực tế từ hàng thập kỷ qua. Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều các rất nhiều phƣơng pháp đánh giá mức độ ô nhiễm và khả năng tự bảo vệ của tầng chứa nƣớc dƣới đất khác nhau, 7 căn cứ vào đặc điểm cụ thể mà các quốc gia trên thế giới sẽ lựa chọn cho mình một phƣơng pháp phù hợp, ví dụ nhƣ: - Phƣơng pháp DRASTIC đƣợc sử dụng rộng rãi ở Mỹ và gần 20 nƣớc trên toàn thế giới và đặc biệt đối với các tầng chứa nƣớc bở rời. - Phƣơng pháp GLA và các phiên bản của chúng - phƣơng pháp PI - đƣợc sử dụng ở Đức và một số nƣớc châu Âu và Ả rập. Đây là phƣơng pháp ứng dụng cho các loại đất đá khác nhau.
- Phƣơng pháp GOD đƣợc sử dụng ở một số nƣớc châu Âu. - Phƣơng pháp POSH đƣợc sử dụng ở nhiền nƣớc châu Âu. Ba phƣơng pháp sau đƣợc sử dụng rộng rãi ở châu Âu và vùng Ả rập tuy nhiên, cả 03 phƣơng pháp này chƣa quan tâm đến đặc điểm tầng chứa nƣớc mà chỉ quan tâm tới đới thông khí trong khi hai phƣơng pháp GOD và POSH yêu cầu đánh giá các nguồn ô nhiễm. Đối với khu vực số liệu về mực nƣớc, đặc tính thuỷ lực, thông số địa chất thuỷ văn hạn chế sẽ áp dụng phƣơng pháp GOD để đánh giá khả năng tự bảo vệ của các tầng chứa nƣớc.
Nhìn chung, mỗi phƣơng pháp đều có một đặc điểm riêng của nó, nhƣng có chung một mục đích là xác định đƣợc những vùng đặc biệt nƣớc dƣới đất có khả năng dễ bị nhiễm bẩn, để từ đó có thể đƣa ra các giải pháp hữu hiệu để phòng ngừa, bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá - nƣớc dƣới đất. Trong những năm vừa qua, phƣơng pháp DRASTIC cũng đã đƣợc ứng dụng ở Việt Nam và đặc biệt hiệu quả đối với đất đá bở rời. Do đó phƣơng pháp này có thể đƣợc lựa chọn để đánh giá khả năng tự bảo vệ của tầng chứa nƣớc bở rời tại vùng Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 1.
Công tác điều tra, đánh giá khả năng tự bảo vệ của các tầng chứa nước Ở Việt nam, vấn đề đánh giá khả năng tự bảo vệ tầng chứa nƣớc cũng đã đƣợc đề cập đến từ cuối những năm 80 của thế kỷ trƣớc. Đầu tiên Nguyễn Kim Cƣơng, 1988 đã đề cập đến vấn đề này trong bài báo “Bảo vệ tài nguyên nƣớc 8 dƣới đất” đƣợc đăng trong tạp chí Địa chất, số 6, tiếp đó Nguyễn Văn Lâm (2000), Phạm Quý Nhân (2000, 2008, 2012), Vũ Ngọc Trân (2002), Bùi Trần Vƣợng (2008), Hồ Minh Thọ (2010), Vũ Thị Minh Nguyệt (2008), … bằng các đề tài của mình đã tiến hành nghiên cứu đánh giá khả năng tự bảo vệ của các tầng chứa nƣớc khác nhau cho từng vùng riêng biệt. Mục đích của các phƣơng pháp là thành lập đƣợc bản đồ khả năng tự bảo vệ của các tầng chứa nƣớc. Để thành lập đƣợc bộ bản đồ này cần xác định đƣợc phƣơng pháp đánh giá khả năng tự bảo vệ của các tầng chứa nƣớc.
Khả năng tự bảo vệ của tầng chứa nƣớc chính là khả năng tự chống lại của tầng chứa nƣớc khi bị ảnh hƣởng bất lợi do chất ô nhiễm tác động lên. Đánh giá khả năng tự bảo vệ của tầng chứa nƣớc chính là việc kiểm tra “sức khoẻ nội tại” của tầng chứa nƣớc trƣớc những nguy cơ nhiễm bẩn tác động đến tầng chứa nƣớc. Từ việc đánh giá này, là cơ sở nền tảng cho việc khoanh định các đới bảo vệ các tầng chứa nƣớc cũng nhƣ các công trình khai thác. Trong những năm qua, tại Việt Nam cũng đã sử dụng khá nhiều phƣơng pháp đã áp dụng rộng rãi trên thế giới nhƣ: DRASTIC, GOD, POSH, GLA, PI, EPIK.
Các dự án điển hình cho các phƣơng pháp này nhƣ đề án "Đánh giá khả năng tự bảo vệ của các tầng chứa nƣớc đồng bằng sông Hồng (DRASTIC), đề án "Bảo vệ nƣớc dƣới đất các đô thị lớn" (GOD). Cơ sở của các phƣơng pháp này là dựa vào các yếu tố để đánh giá mức độ tự bảo vệ của tầng chứa nƣớc nhƣ: môi trƣờng lớp thổ nhƣỡng, địa mạo, chiều sâu tới NDĐ, môi trƣờng NDĐ, các vật liệu của đới vadose cung cấp cho NDĐ, hệ số thấm của TCN, khoảng cách tới điểm khai thác gần nhất cung cấp nƣớc sinh hoạt, chiều sâu tới đá gốc, tính thấm của đới thông khí, chiều dày và hàm lƣợng của đới bão hòa. để thành lập đƣợc bản đồ khả năng tự bảo vệ của các tầng chứa nƣớc. Năm 2011, dự án “Nâng cao năng lực đánh giá và quản lý tài nguyên nƣớc Việt Nam, Capas” đã ban hành dự thảo Hƣớng dẫn khoanh đới bảo vệ công trình 9 khai thác nƣớc dƣới đất.
Do điều kiện áp dụng và phổ biến trên toàn lãnh thổ, nên việc nghiên cứu ban hành hƣớng dẫn cụ thể chi tiết cho tất cả các tầng chứa nƣớc, các lƣu vực và khu vực khác nhau vấp phải những khó khăn và vƣờng mắc. Sau nhiều lần Hội thảo đến nay vẫn chƣa đƣợc thể chế hoá bằng văn bản quy phạm pháp luật. Việc khoanh định đới bảo vệ các công trình khai thác nƣớc cụ thể hiện mới chỉ đƣợc thực hiện thí điểm tại các địa bàn tỉnh Thái Bình với 1 công trình đƣợc khoanh vùng là Nhà máy nƣớc Hƣng Nhân; tại tỉnh Nam Định là công trình khai thác nƣớc dƣới đất của Công ty May Sông Hồng - Xuân Trƣờng - Nam Định do nhóm tác giả Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nƣớc thực hiện, tại tỉnh Hà Nam do Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra miền Bắc thực hiện và tại tỉnh Ninh Bình do Trung tâm Tƣ liệu và Thông tin Tài nguyên nƣớc thực hiện cho công trình khai thác nƣớc trong đá Karst. Việc khoanh định đới bảo vệ đều đƣợc dựa trên bản đồ nhạy cảm ô nhiễm nƣớc dƣới đất và các hệ thống dữ liệu địa chất, địa chất thuỷ văn, sử dụng đất, khai thác nƣớc dƣới đất, quan trắc động thái nƣớc dƣới đất,… để tổng hợp và lựa chọn phƣơng pháp tính toán và xác định.
Sau khi các đới đã thiết lập, với ranh giới của mỗi đới sẽ đƣợc tổ chức thiết lập hệ thống hàng rào, biển báo, cảnh báo nhằm bảo vệ công trình và chất lƣợng nƣớc dƣới đất. Hiện nay, Sở Tài nguyên và Môi trƣờng Thái Bình đang soạn thảo và trình UBND tỉnh Thái Bình về việc Quy định khoanh đới bảo vệ nƣớc dƣới đất tại các công trình khai thác trên địa bàn tỉnh. Nhƣ vậy, việc nghiên cứu, xác định cơ sở khoa học và thực tiễn để khoanh đới bảo vệ cho các công trình khai thác tại từng khu vực, từng tầng chứa nƣớc ở địa phƣơng cụ thể còn thiếu. Các hƣớng dẫn khoanh vùng bảo vệ chƣa đƣợc ban hành.
Công tác bảo vệ, điều tra và quy hoạch tài nguyên nước dưới đất - Hiện nay, nhóm công tác điều tra, quy hoạch tài nguyên nƣớc đã và đang 10 đƣợc tiến hành rộng khắp trên toàn quốc, hiện chiếm 22,28% khối lƣợng công việc toàn ngành tài nguyên nƣớc. Công tác điều tra, quy hoạch tài nguyên nƣớc dƣới đất nói riêng trƣớc đây cũng nhƣ hiện này còn nhiều bất cập do chƣa có đánh giá khả năng tự bảo vệ các tầng chứa. Do vậy, việc xem xét đánh giá khả năng tự bảo vệ của các tầng chứa nƣớc ảnh hƣởng nhƣ thế nào đến số lƣợng, chất lƣợng nƣớc dƣới đất là điều cấp thiết.