CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về vi khuẩn axit lactic (LAB) 1. Khái niệm về vi khuẩn axit lactic Vi khuẩn lactic là một nhóm các vi sinh vật có chung sản phẩm trao đổi chất cuối cùng là acid lactic, đây là sản phẩm từ quá trình lên men của các carbohydrate. LAB là các vi khuẩn Gram dương (+), có dạng trực khuẩn hay cầu khuẩn, ít di động, không sinh bào tử và đặc tính catalase âm tính (Herich, 2002).
Chúng có thể hô hấp kị khí hoặc kị khí tùy tiện. Một số loài có thể sinh trưởng được khi có oxi. LAB thu nhận năng lượng nhờ phân giải carbohydrate và sinh acid lactic. Khoảng nhiệt độ cho LAB hoạt động khá rộng.
Nhiệt độ sinh trưởng cho LAB ưa ấm là 25oC - 30oC, ưa nhiệt là 40oC – 45oC và ưa lạnh là thấp hơn 5oC (Khalid, 2011). Các loài vi khuẩn lactic có khả năng rất khác nhau tạo thành acid trong môi trường và sức chịu đựng acid cũng khác nhau. Đa số các trực khuẩn lactic đồng hình tạo thành acid cao hơn (khoảng 2-3,5%), liên cầu khuẩn (khoảng 1%). Các trực khuẩn này có thể phát triển được ở pH = 4-3,8 còn cầu khuẩn không thể phát triển được ở môi trường này.
Hoạt lực lên men tốt nhất của trực khuẩn lactic ở vùng pH = 5,5-6. Vi khuẩn lactic có hoạt tính protease, chúng phân hủy được protein của sữa tới peptide và acid amin. Hoạt tính này có ở các loài khác nhau, thường trực khuẩn là cao hơn. Chúng chịu được trạng thái khô hạn, bền vững với CO2 và cồn ethylic, nhiều loài vẫn sống được trong môi trường có 10-15% cồn hoặc cao hơn, một số trực khuẩn bền với NaCl tới 7-10% (Nguyễn Văn Thanh, 2001).
Nhóm LAB bao gồm nhiều chi khác nhau và bao gồm bốn chi tiêu biểu: Lactobacillus, Streptococcus, Leucononstoc và Pediococcus. Chi Bifidobacterium cũng được coi là thuộc về LAB. Hơn nữa, có một vài chi cũng thuộc dòng Lactobacilli: Aerococcus, Carnobacterium, Enterococcus, Oenococcus, Sporolactobacillus, Tetragenococcus, Vagococcus, và Weissella (Halasz, 2009). Dựa vào sản phẩm lên men, người ta phân vi khuẩn lactic thành 2 nhóm: + Lên men đồng hình: Là con đường lên men tạo ra 70-90% axit lactic.
Một số chủng lên men đồng hình: Lactobacillus bulgaricus, Streptococcus thermophilus. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Lên men dị hình: Là con đường lên men tạo ra ít hơn 50% axit lactic và tạo ra các sản phẩm khác như axit lactic, CO2 và Etanol. Một số chủng lên men dị hình: Lactobacillus casei, Bifidobacteria. Đặc điểm sinh lý, sinh hóa của LAB 1.
Nhu cầu dinh dưỡng Nhu cầu dinh dưỡng được phân làm ba loại là nhu cầu thiết yếu, nhu cầu kích thích, và nhu cầu không thiết yếu (Letort, 2001). Các chất dinh dưỡng thiết yếu có tác động tuyệt đối đến sự phát triển của vi khuẩn và không thể phát triển khi không có các chất dinh dưỡng này. Các chất dinh dưỡng kích thích sự trưởng của vi khuẩn và sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng này có thể dẫn đến sự sinh trưởng kém. Các chất dinh dưỡng không thiết yếu không có ảnh hưởng đến sự phát triển của vi khuẩn, không tăng cường hay ức chế.
Tuy nhiên, chất dinh dưỡng, dù là thiết yếu, kích thích, hoặc không cần thiết, đóng một vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa và kiểm soát các hoạt động trao đổi chất. Do vai trò quan trọng của chất dinh dưỡng trong hoạt động trao đổi chất của LAB, nhu cầu dinh dưỡng của LAB được chú ý nhiều hơn (Saeed, 2013). Nhu cầu về carbohydrates Carbohydrates là nguồn cacbon và năng lượng chính, hình thành các thành phần thiết yếu trong môi trường của LAB cho sự sinh trưởng và chức năng bình thường (Donnell, 2011).Các nguồn carbon và năng lượng có thể sử dụng hầu hết các loại đường, nhưng một số lượng lớn các chủng LAB thích glucose (Kim, 2009).Tuy nhiên, các chủng LAB đã cho thấy sự ưu tiên giữa các loại đường khác nhau và trong khả năng lên men các loại đường khác nhau có thể ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của chúng. Do đó, sự sinh trưởng và các hoạt động trao đổi chất của LAB có thể bị ảnh hưởng bởi các nguồn carbon trong môi trường nuôi cấy (Degeest, 2001).
Sự khác nhau về nhu cầu carbohydrates giữa các chủng LAB có thể được sử dụng để điều tra, lựa chọn và xác định. Fructose được bổ sung trong môi trường MRS để phù hợp với sự tăng trưởng của L. bulgaricus và MRS bổ sung maltose thích hợp cho sự khác biệt giữa L. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lactulose là một chất dẫn xuất lactose, thích hợp cho sự tăng cường sinh trưởng của các chủng L.
Do đó, mặc dù glucose thường được sử dụng trong môi trường nuôi cấy LAB, nhưng các loài LAB và thậm chí là các chủng cho thấy sự ưu tiên trong số các loại đường cho sự sinh trưởng tối ưu và hoạt động trao đổi chất. Nồng độ đường cũng có thể ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và chức năng của LAB. Nhu cầu về amino acids và peptides LAB có nhiều nhu cầu về axit amin và peptide để đáp ứng nhu cầu nitơ phức tạp của chúng (Savijoki, 2006). Sự tiến hóa của môi trường phức tạp phức tạp dẫn đến việc lựa chọn dinh dưỡng thụ động có liên quan đến các điều kiện môi trường ưa thích và khác nhau giữa các loài LAB (Von Wright, 2011).
Amino axit và peptide có thể thu được từ các protease hoặc quá trình phân giải protein. Các nhu cầu về peptide khác nhau giữa các chủng LAB, do đó các peptide có thể là nhân tố sinh trưởng thiết yếu hoặc nhân tố kích thích, một số chủng có thể phát triển mà không có chúng (Barrangou, 2011). Sinh trưởng của LAB phụ thuộc vào các axit amin từ các nguồn nitơ hữu cơ và sự sinh trưởng của LAB bị hạn chế bởi các axit amin từ nguồn nitơ vô cơ (Savijoki, 2006). Các axit amin và peptit có thể được cung cấp từ các nguồn nitơ hữu cơ khác nhau như sữa gầy, cao men, tryptone, soy peptones, cao thịt bò, cao malt,…(Aguirre, 2008).Bên cạnh đó, peptide cũng có thể được cung cấp bởi các nguồn nitơ vô cơ như Ure, (NH4) 2SO4, NaNO3.
Tuy nhiên, peptone, cao men, cao thịt bò thường được sử dụng cho sự sinh trưởng bình thường của LAB (Vazquez, 2004). Khi thay thế cao nấm men, peptone, cao thịt bò trong môi trường bằng cao nấm men và peptone, L. casei có thể sinh trưởng trong khi các chủng lactobacilli khác như L. lactis không thể sinh trưởng.
Do đó việc thay thế cao thịt bò, cao nấm men, và peptone với các nguồn nitơ khác có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự sinh trưởng. Nhu cầu về axit béo Các axit béo thường liên kết với các hợp chất khác như glycerol, đường hoặc phosphate để tạo thành lipid. Lipid là thành phần của cấu trúc tế bào 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Axit béo có nhiều chức năng sinh học được xác định một cách đầy đủ; tuy nhiên, dữ liệu về vai trò của axit béo và chất béo như là yếu tố tăng trưởng cho LAB vẫn còn hạn chế (Desbois, 2010).
Sự tương tác giữa sự phát triển vi sinh vật và các axit béo bao gồm LAB đã chỉ ra tác dụng kháng khuẩn của axit béo (Desboi, 2010). Do đó, axit béo có thể ức chế sự phát triển của vi sinh vật, nhưng một lượng nhỏ chất béo như 0,1% có xu hướng kích thích sự phát triển của vi khuẩn (Jenkins, 2003). Bên cạnh đó, hiệu quả ức chế của axit béo phụ thuộc nhiều hơn vào pH (Kankaanpa, 2001). Ngoài ra, mặc dù hiệu quả kháng khuẩn của axit béo đã được nghiên cứu kỹ lưỡng, cơ chế chính xác mà các axit béo ức chế sự phát triển của vi khuẩn chưa được xác định rõ (Desbois, 2010; Jenkins, 2003).
Nhu cầu vitamin Vitamin cần thiết cho LAB có thể được chia thành ba nhóm: vitamin thiết yếu, kích thích và không thiết yếu. Nếu môi trường nuôi cấy bỏ qua các vitamin thiết yếu, sinh trưởng LAB có thể giảm 67%. Vitamin kích thích dẫn đến giảm từ 34 đến 66% sự sinh trưởng khi bỏ qua, các vitamin không thiết yếu dẫn đến giảm nhiều nhất 65% sự sinh trưởng nếu bỏ qua. Pantothenic, axit nicotinic và riboflavin là các chất thiết yếu cho hầu hết các chủng LAB (Letort, 2001; Wegkamp, 2010).
Sự sinh trưởng của lactobacilli cần thiamine trong arabinose, ribose và gluconate đóng vai trò như một cofactor phosphoketolase, một enzym tham gia vào quá trình phosphate pentose. Axit ascorbic không ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của một số chủng LAB nhưng nó là yếu tố tăng trưởng cần thiết cho các chủng khác (Wegkamp, 2010). Do đó, nhu cầu vitamin của LAB thể hiện nhiều sự khác biệt giữa các chủng, và một số vitamin có thể thay thế lẫn nhau. Tuy nhiên, từng chủng có nhu cầu từ một đến bốn vitamin cho sự sinh trưởng bình thường.
Nhu cầu chất khoáng Khoáng chất đóng một vai trò thiết yếu trong hoạt động tăng trưởng và enzyme của vi khuẩn (Foucaud, 1997). Một số loài LAB như Leuconostoc mesenteroides không thể sinh trưởng khi thiếu ion kim loại, cho thấy nhu cầu thiết yếu của các ion kim loại (Foucaud, 1997). Các ion kim loại thiết yếu có một số chức 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năng: 1) như các chất kích hoạt hoặc đồng kết hợp của một loạt các enzyme, 2) trong vận chuyển màng, 3) như các thành phần của các phân tử hoặc cấu trúc phức tạp (Hébert, 2004). Mangan (Mn2+) là ion cần thiết cho sự phát triển và hoạt động trao đổi chất của hầu hết các sinh vật bao gồm LAB.
Mn2+ có tác động sinh học đối với cấu trúc và hoạt hóa enzyme như glutamin synthetase, RNA polymerase, và phosphatase kiềm (Fitzpatrick, 2001). Magnesium (Mg2+) là một thành phần thiết yếu khác cho sự phát triển của LAB và các hoạt động trao đổi chất. Mg2+ kích thích sự phát triển của LAB và cải thiện sự tồn tại của LAB. Mg2+ là oligoelement thiết yếu cho sự phát triển của L.
Mg2+ cũng là một ion kim loại thiết yếu cho sự sinh trưởng của S. Mg2+ và Mn2+ được bổ sung vào môi trường tối thiểu của L. plantarum đảm bảo sự sinh trưởng (Wegkamp, 2010). Hoạt động trao đổi chất Hoạt động trao đổi chất của LAB bao gồm sự phân hủy các carbohydrate khác nhau và các hợp chất liên quan để thu được năng lượng và các phân tử cacbon (Sanchez, 2008).
Các hoạt động trao đổi chất khác như phá vỡ protein, lipid, và các hợp chất khác cũng rất quan trọng đối với sự sinh trưởng bình thường. Do đó, các hoạt động trao đổi chất của LAB có thể bao gồm trao đổi carbohydrate, protein, lipid và các hoạt động trao đổi chất khác. Trao đổi carbohydrate Carbohydrate là nguồn năng lượng chính cho sự sinh trưởng của vi khuẩn.