Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ y học với đề tài "Nghiên cứu kết quả thay khớp háng toàn phần do dính khớp trên bệnh nhân viêm cột sống dính khớp" do nghiên cứu sinh Nguyễn Trung Tuyến thực hiện tại Trường Đại học Y Hà Nội (khóa 32), thuộc chuyên ngành Chấn thương chỉnh hình và tạo hình, mã số chuyên ngành 62720129, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Xuân Thùy. Công trình được hoàn thành và bảo vệ năm 2020.
Viêm cột sống dính khớp (VCSDK) là bệnh lý viêm khớp mạn tính chưa rõ nguyên nhân hoàn toàn, thuộc nhóm bệnh lý cột sống thể huyết thanh âm tính, gặp chủ yếu ở nam giới trẻ tuổi (chiếm tỷ lệ từ 80% đến 90%, trong đó độ tuổi dưới 30 chiếm tới 80%). Bệnh gây tổn thương đặc trưng tại cột sống và các khớp gốc chi (khớp háng, khớp gối), diễn tiến kéo dài dẫn đến xơ dính, cốt hóa dây chằng, biến dạng xương khớp và tàn phế. Trong các biến chứng ngoại vi, dính khớp háng hai bên hoặc một bên ở tư thế co quắp là tổn thương nặng nề nhất, khiến người bệnh mất hoàn toàn biên độ vận động, không thể đứng thẳng, không thể ngồi xổm và suy giảm nghiêm trọng chất lượng cuộc sống.
Ở giai đoạn muộn khi khớp háng đã bị dính xương hoặc dính xơ hoàn toàn, điều trị nội khoa và phục hồi chức năng không còn khả năng tái tạo diện khớp. Phẫu thuật thay khớp háng toàn phần (TKHTP) là chỉ định điều trị ngoại khoa nhằm phục hồi chức năng vận động và giải phóng tư thế dính co rút. Tuy nhiên, phẫu thuật thay khớp háng trên bệnh nhân VCSDK dính khớp là một can thiệp kỹ thuật phức tạp: giải phẫu ổ cối và chỏm xương đùi biến dạng mất mốc giải phẫu bình thường, xơ dính phần mềm quanh khớp, chất lượng xương suy giảm (loãng xương, xẹp chỏm), tư thế bệnh nhân co cứng gây khó khăn cho công tác vô cảm (cột sống cứng đờ làm mất khả năng gây tê tủy sống, cột sống cổ dính gây trở ngại lớn cho đặt nội khí quản).
Tại Việt Nam, kỹ thuật thay khớp háng toàn phần đã được triển khai từ thập kỷ 70 của thế kỷ 20 và ứng dụng phổ biến trong hơn một thập kỷ qua. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống đánh giá toàn diện về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị phẫu thuật thay khớp háng toàn phần trên nhóm đối tượng đặc thù bị dính khớp háng do viêm cột sống dính khớp còn rất hạn chế. Luận án được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống này với hai mục tiêu cụ thể:
- Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh lý dính khớp háng có viêm cột sống dính khớp.
- Đánh giá kết quả điều trị thay khớp háng toàn phần do dính khớp trên bệnh nhân viêm cột sống dính khớp.
Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân được chẩn đoán xác định viêm cột sống dính khớp có biến chứng dính khớp háng, được chỉ định và thực hiện phẫu thuật thay khớp háng toàn phần. Nghiên cứu được thu thập dữ liệu tại các trung tâm phẫu thuật chấn thương chỉnh hình lớn: Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức (Khoa Phẫu thuật Chấn thương 2, Khoa Điều trị theo yêu cầu 1C, Viện Chấn thương chỉnh hình), Bệnh viện Đại học Y Hà Nội (Khoa Ngoại A) và Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn (Khoa Chấn thương chỉnh hình).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Lịch sử phẫu thuật thay khớp nhân tạo trên thế giới ghi nhận ý tưởng đầu tiên từ năm 1880 bởi bác sĩ người Đức Themistocles Gluck khi sử dụng ngà voi để chế tạo chỏm nhân tạo. Phẫu thuật thay khớp háng cho bệnh nhân viêm cột sống dính khớp bắt đầu được ghi nhận từ năm 1965 bởi G. Arden (sử dụng khớp McKee - Farrar) và năm 1966 bởi J. Charnley. Trải qua các giai đoạn phát triển, y văn quốc tế đã công bố nhiều công trình nghiên cứu đánh giá hiệu quả phục hồi chức năng và tuổi thọ của khớp nhân tạo ở bệnh nhân VCSDK:
| Tác giả & Năm công bố |
Cỡ mẫu & Thiết kế |
Thời gian theo dõi |
Kết quả chức năng & Tuổi thọ khớp |
| Walker & Sledge (1991) |
19 bệnh nhân VCSDK |
Trung bình 4,5 năm |
Tỷ lệ đi lại không cần hỗ trợ tăng từ 15,7% (3/19) lên 53% (10/19); 42% (8/19) đi bộ không giới hạn khoảng cách. |
| Sochart & Porter (1997) |
43 khớp Charnley (có xi măng) |
Trung bình 23 năm |
Tuổi thọ khớp đạt 92% (10 năm), 72% (20 năm), 70% (30 năm). 71% bệnh nhân đi bộ đường dài không cần gậy. Lỏng ổ cối là nguyên nhân mổ lại phổ biến. |
| Tang & Chiu |
Bệnh nhân VCSDK |
- |
Điểm Harris Hip Score (HHS) cải thiện từ trung bình 27,4 trước mổ lên 88,8 sau mổ. |
| Bhan |
Bệnh nhân VCSDK |
- |
Điểm Harris cải thiện từ trung bình 49,5 trước mổ lên 82,5 sau mổ. |
| Brinker |
Bệnh nhân VCSDK |
6 năm |
Điểm Harris cải thiện từ trung bình 48,4 trước mổ lên 89,1 sau mổ. |
| Sweeny |
276 lần thay đầu, 64 lần thay lại |
Dài hạn (Kaplan-Meier) |
Tuổi thọ khớp sau 10, 15, 20 năm lần lượt là 90%, 79%, 65% (thay lần đầu) và 75%, 61%, 61% (thay lại). |
| Lehtimaki và cs (2001) |
76 khớp VCSDK (tuổi TB: 40) |
8 – 28 năm |
Tuổi thọ khớp lần đầu đạt 80% (10 năm), 66% (15 năm) và 62% (20 năm). |
| Joshi và cs (2002) |
181 khớp / 103 BN (tuổi TB: 47; 69,9% thay 2 bên) |
Trung bình 10,3 năm (2 – 27 năm) |
23,2% dính khớp trước mổ. Tuổi thọ khớp đạt 71% sau 27 năm. 96% giảm đau; cốt hóa lạc chỗ gặp ở 11,6% khớp; 13,8% mổ lại do lỏng khớp. |
| Shih và cs (1995) |
74 khớp / 46 BN (52 khớp xi măng, 22 khớp không xi măng) |
Dài hạn |
Tuổi thọ chung đạt 78% sau 10 năm. Nhóm xi măng có 28% lỏng khớp, nhóm không xi măng chỉ 5% lỏng thân đùi. |
| Lee SH (2017) |
30 BN VCSDK đối chứng 30 BN hoại tử vô khuẩn chỏm |
Sau phẫu thuật |
Nhóm VCSDK có thời gian mổ dài hơn (120,2 ± 26,2 phút so với 79,5 ± 11,1 phút), lượng dẫn lưu lớn hơn (764,5 mL so với 510,5 mL). Điểm Harris tăng từ 55,6 lên 92,8; tầm vận động tăng từ 146,5° lên 254,7°. |
| Ding L (2018) |
20 BN không dính (25 khớp) vs 23 BN dính khớp (40 khớp) |
Trung bình 27 tháng |
Bệnh nhân nhóm dính khớp có điểm hài lòng sau mổ cao hơn đáng kể nhờ cải thiện chức năng và tự chăm sóc. |
| Xu J (2017) |
54 BN / 81 khớp thay không xi măng |
Trung bình 3,6 năm (2 – 8 năm) |
Điểm VAS giảm từ 6,7 xuống 1,5; điểm Harris tăng từ 31,2 lên 86,1; góc gấp tăng từ 6,7° lên 82,5°, góc duỗi từ 1,8° lên 15,4°. Tỷ lệ cốt hóa lạc chỗ là 14,9%. |
| Ye C (2014) |
15 BN / 30 khớp thay 2 bên cùng lúc (không xi măng) |
Trung bình 29,3 tháng |
BASFI giảm từ 7,53 xuống 2,40; điểm Harris tăng từ 24,8 lên 83,8; tổng biên độ vận động tăng từ 78,73° lên 209,73°. |
| Zhu XB (2019) |
21 khớp phẫu thuật đường mổ phía trước |
Trung bình 26 tháng |
Điểm Harris đạt 91,2 ± 5,3; tổng biên độ di động đạt 217,1 ± 29,7°; điểm đau giảm xuống 1,2 ± 0,5. |
| Yim SJ (2018) |
12 BN / 16 khớp có xi măng |
Tối thiểu 10 năm |
Điểm Harris tăng từ 58 lên 92; co rút gấp giảm từ 13° xuống 5°; tầm vận động tăng 106°. |
| Wanchun Wang (2014) |
13 BN / 26 khớp dính 2 bên (ROM 0°) |
Trung bình 128,4 tháng |
Điểm Harris tăng từ 22,1 lên 91,7. Tuổi thọ khớp đạt 100% (5 năm), 92,3% (10 năm) và 73,1% (13 năm). |
| Zang L (2014) |
131 BN / 195 khớp VCSDK |
> 2 năm |
Khoảng thời gian trung bình từ khi khởi phát VCSDK đến khi phẫu thuật thay khớp là 13,7 năm. |
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là đánh giá toàn diện kết quả phẫu thuật thay khớp háng toàn phần trên bệnh nhân dính khớp do VCSDK tại Việt Nam, phân tích các chỉ số đặc thù của bệnh lý (BASDAI, BASFI, BASRI-h, ASQoL), đánh giá tính an toàn kỹ thuật (vị trí đặt linh kiện theo khoảng an toàn Lewinnek, phân loại ống tủy Dorr, các biến chứng trong và sau mổ) và mối tương quan giữa sự phục hồi chức năng cơ học với chất lượng cuộc sống người bệnh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở giải phẫu, sinh lý và cơ sinh học khớp háng
Khớp háng là khớp chỏm cầu lớn nhất cơ thể, cấu tạo gồm ổ cối và đầu trên xương đùi. Ổ cối có diện nguyệt tiếp khớp phủ sụn (chiếm độ dày khoảng 6% đường kính chỏm), khuyết ổ cối, sụn viền và dây chằng ngang. Chỏm xương đùi có hình 2/3 khối cầu với đường kính từ 38 đến 60 mm. Cổ xương đùi dài 30–40 mm, tạo với thân xương đùi góc cổ thân bình thường từ 125° đến 130° và góc ngả trước từ 10° đến 15° (có thể tới 30°). Hệ thống dây chằng gồm dây chằng trong (dây chằng tròn) và ba dây chằng ngoài (dây chằng chậu đùi với bó trên dày 8–10 mm, rộng 1–2 cm; dây chằng mu đùi hợp thành hình chữ N hoa của Bertin; dây chằng ngồi đùi và dây chằng vòng).
Cấu trúc xương đầu trên xương đùi gồm hệ thống vỏ xương đặc (dày nhất ở vòng cung Adam) và các bè xương xốp: hệ quạt (chịu lực ép chính), hệ vòm (nhóm néo chính), mào Meckel, cựa xương, cùng hai điểm yếu cấu trúc là tam giác Ward và tâm mấu chuyển. Mạch máu nuôi cổ chỏm bắt nguồn từ động mạch mũ đùi ngoài, động mạch mũ đùi trong (nhánh của động mạch đùi sâu) và động mạch dây chằng tròn (nhánh của động mạch bịt). Về cơ sinh học chịu lực, khi đứng khớp háng chịu lực gấp 2 lần trọng lượng cơ thể (Mc Leish và Charnley), khi đi bộ (vận tốc 0,8–1,6 m/s) lực nén tác động từ 4,1 đến 6,9 lần trọng lượng cơ thể, và khi chạy nhảy, lên xuống cầu thang lực có thể lên tới 10–12 lần trọng lượng cơ thể.
Bệnh học viêm cột sống dính khớp và các tiêu chuẩn đánh giá
Bệnh có mối liên hệ mật thiết với kháng nguyên bạch cầu HLA-B27 (chiếm 75–95% ở bệnh nhân so với 4–8% trong quần thể; tại Việt Nam là 87% so với 4%). Sinh bệnh học đặc trưng bởi hiện tượng viêm do cytokine (TNF-α, IL-6) và quá trình tạo xương bệnh lý mới qua trung gian protein WNT và protein hình thái xương.
Các công cụ và tiêu chuẩn đánh giá trong nghiên cứu gồm:
- Chẩn đoán bệnh: Tiêu chuẩn New York sửa đổi năm 1984 và hướng dẫn chẩn đoán ASAS năm 2009.
- Tổn thương khớp cùng chậu trên X-quang: Phân loại 5 mức độ theo Braun (2002) từ độ 0 (bình thường), độ 1 (thưa xương), độ 2 (bờ khớp không đều, khuyết xương nhỏ), độ 3 (hẹp khe khớp, xơ xương), đến độ 4 (dính khớp hoàn toàn).
- Tổn thương khớp háng trên X-quang: Chỉ số BASRI-h (Bath Ankylosing Spondylitis Radiology Index - hip) chia 5 giai đoạn:
| Giai đoạn BASRI-h |
Đặc điểm tổn thương trên X-quang |
| 0 |
Bình thường |
| 1 |
Hẹp khe khớp từng phần |
| 2 |
Hẹp khe khớp, bề rộng khe khớp còn lại > 2 mm |
| 3 |
Hẹp khe khớp nặng, khe khớp < 2 mm hoặc có gai xương |
| 4 |
Biến dạng đầu xương hoặc gai xương ≥ 1 cm |
- Hình thái ống tủy xương đùi: Phân loại theo Dorr (Type A, Type B, Type C).
- Mức độ hoạt động bệnh và chức năng: Chỉ số BASDAI (0–10 điểm qua 6 câu hỏi, hoạt động bệnh khi BASDAI ≥ 4); chỉ số vận động chức năng BASFI (0–10 điểm qua 10 câu hỏi); thang điểm chức năng khớp háng Harris Hip Score (HHS); bảng đánh giá chất lượng cuộc sống ASQoL (Ankylosing Spondylitis Quality of Life); thang đo mức độ đau VAS (0–10).
- Đánh giá vị trí linh kiện: Đo góc nghiêng và góc ngả trước của ổ cối nhân tạo theo thước Liaw (2006), so sánh với khoảng an toàn của Lewinnek (góc nghiêng 40° ± 10°, góc ngả trước 15° ± 10°); kiểm tra định vị chuôi khớp và chênh lệch chiều dài chi.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp hai phương pháp: hồi cứu và tiến cứu trên các bệnh nhân dính khớp háng do VCSDK được phẫu thuật thay khớp háng toàn phần.
Quy trình phẫu thuật thực hiện bằng bộ dụng cụ thay khớp háng toàn phần của hãng Stryker:
- Tư thế bệnh nhân nằm nghiêng, đường rạch da theo đường mổ Gibson (hoặc Hardinge, Smith Peterson, Harris).
- Mở cân căng mạc đùi, cắt chỗ bám khối cơ chậu hông mấu chuyển, mở bao khớp bộc lộ cổ xương đùi.
- Do khớp dính xương/xơ hoàn toàn, tiến hành cắt cổ xương đùi tại chỗ, dùng đục lấy bỏ chỏm xương đùi dính chặt trong ổ cối.
- Giải phóng tổ chức xơ dính và gai xương quanh viền ổ cối, doa ổ cối đến xương xốp chảy máu, đặt cup ổ cối nhân tạo theo góc định hướng và cố định bổ sung bằng vis.
- Bộc lộ đầu trên xương đùi, doa mở ống tủy, đóng chuôi khớp (loại không xi măng hoặc có xi măng), nắn trật thử nghiệm với các cỡ chỏm để kiểm tra độ vững, độ căng phần mềm và biên độ vận động trước khi lắp đặt thành phần chính thức.
- Điều trị hậu phẫu: Kháng sinh dự phòng, kiểm soát đau, phòng ngừa huyết khối tĩnh mạch sâu, hướng dẫn tập phục hồi chức năng sớm từ ngày đầu sau mổ.
Số liệu được nhập, xử lý và phân tích bằng các thuật toán thống kê y học chuyên dụng; tính toán các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm định sự khác biệt trước và sau mổ, phân tích tương quan tuyến tính giữa điểm Harris và điểm ASQoL. Đề tài tuân thủ các quy chuẩn đạo đức trong nghiên cứu y sinh học.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
Chương tổng quan hệ thống hóa toàn diện các kiến thức nền tảng:
- Cấu trúc giải phẫu học định khu của khớp háng: ổ cối, chỏm, cổ, khối mấu chuyển, hệ thống dây chằng, bao khớp, bao hoạt dịch và mạng lưới mạch máu nuôi dưỡng cổ chỏm. Phân tích cơ học khớp háng với các số liệu biên độ vận động thụ động theo lứa tuổi của Kaufman Kento R. và phạm vi vận động trung bình của người Việt Nam (N. Tiến Bình, Trần Lê Đồng, Đỗ Xuân Hợp):
| Vận động (độ) |
N. Tiến Bình |
Trần Lê Đồng |
Đỗ Xuân Hợp |
Giá trị trung bình |
| Gấp |
100 |
120 |
120 |
113 |
| Duỗi |
30 |
20 |
30 |
28 |
| Dạng |
40 |
55 |
45 |
48 |
| Khép |
20 |
45 |
30 |
31 |
| Xoay ngoài (duỗi) |
50 |
45 |
45 |
48 |
| Xoay trong (duỗi) |
40 |
20 |
45 |
35 |
- Bệnh học viêm cột sống dính khớp: Nguyên nhân di truyền (vai trò nhiễm sắc thể số 6, phức bộ hòa hợp tổ chức HLA-B27), vai trò nhiễm khuẩn khởi động (Klebsiella, Chlamydia), các biểu hiện lâm sàng khởi phát và toàn phát tại cột sống, khớp cùng chậu, khớp ngoại biên (háng 90%, gối 80%, cổ chân 30%, vai 30%) và ngoài khớp (mắt, tim mạch, phổi).
- Tổn thương khớp háng trong VCSDK: Phân tích tổn thương đại thể (viêm màng hoạt dịch, dày bao khớp, mòn sụn, dính khớp xơ và xương), mô bệnh học (vai trò của TNF-α, IL-6, protein WNT), hình ảnh siêu âm (phì đại hoạt dịch, tràn dịch khớp > 5 mm), cộng hưởng từ (phù tủy xương, bắt thuốc bao khớp) và X-quang (chỉ số BASRI-h, BASRI-s).
- Phác đồ điều trị nội khoa (NSAIDs: Piroxicam 20mg, Diclofenac 150mg; thuốc điều trị cơ bản: Sulfasalazin 1000–2000mg, Methotrexat 7,5–15mg; Corticoid tại chỗ và toàn thân; thuốc sinh học ức chế TNF-α: Infliximab, Etanercept).
- Phẫu thuật thay khớp háng: Đánh giá các khó khăn đặc thù về vô cảm, phẫu thuật bộc lộ khớp dính, các đường mổ tiếp cận (Gibson, Hardinge, Smith Peterson, Harris) và các biến chứng kinh điển (nhiễm trùng, trật khớp, gãy xương quanh chuôi, tổn thương thần kinh, cốt hóa lạc chỗ).
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 2 thiết lập khung phương pháp luận chặt chẽ:
- Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân: Chẩn đoán VCSDK theo tiêu chuẩn New York 1984 hoặc ASAS 2009, có tổn thương dính khớp háng nặng nề (BASRI-h giai đoạn 3–4 hoặc giai đoạn 1–2 nhưng đau đớn dữ dội, mất cơ năng), được chỉ định thay khớp háng toàn phần. Tiêu chuẩn loại trừ gồm các trường hợp chống chỉ định phẫu thuật, nhiễm trùng cấp tính hoặc không đầy đủ dữ liệu theo dõi.
- Kỹ thuật mổ chi tiết: Sử dụng bộ dụng cụ Stryker, phẫu thuật qua đường mổ Gibson. Mô tả tường tận các thì phẫu thuật đối với khớp háng dính xương: kỹ thuật cắt cổ xương đùi tại chỗ hai nhát cắt, kỹ thuật đục rời chỏm xương đùi dính liền ổ cối, doa tạo hình đáy và thành ổ cối, bắt vis tăng cường độ vững ổ cối nhân tạo, kỹ thuật doa tủy xương đùi và đặt chuôi khớp đúng góc ngả trước và góc nghiêng.
- Quy trình vô cảm: Đánh giá các phương án gây mê nội khí quản (sử dụng ống soi mềm khi cột sống cổ cứng) và gây tê khi giải phẫu cho phép.
- Hệ thống tiêu chí lượng giá sau mổ: Thang điểm đau VAS, chỉ số hoạt động bệnh BASDAI, chỉ số chức năng BASFI, thang điểm Harris, bảng điểm ASQoL; đo đạc vị trí ổ cối trên X-quang thường quy theo phương pháp Liaw (2006) đối chiếu với khoảng an toàn Lewinnek; đo chênh lệch chiều dài hai chi dưới; ghi nhận tai biến trong mổ và biến chứng sớm, biến chứng muộn sau mổ.
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu thực nghiệm thu được từ nhóm bệnh nhân nghiên cứu:
- Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng trước mổ: Phân bố bệnh nhân chủ yếu ở độ tuổi lao động trẻ, ưu thế áp đảo ở nam giới; thời gian từ khi phát hiện triệu chứng bệnh đến khi được phẫu thuật thay khớp kéo dài nhiều năm; tỷ lệ dính khớp háng hai bên chiếm tỷ trọng cao; 100% bệnh nhân có tổn thương viêm khớp cùng chậu giai đoạn tiến triển (độ 3, độ 4 theo Braun); tổn thương khớp háng trên X-quang phần lớn ở giai đoạn BASRI-h 3 và 4; phân bố hình thái ống tủy xương đùi theo Dorr chủ yếu là Type A và Type B.
- Thông số phẫu thuật và điều trị: Tỷ lệ các phương pháp vô cảm được áp dụng; thời gian phẫu thuật trung bình cho mỗi khớp thay; khối lượng máu mất và lượng máu cần truyền trong mổ và sau mổ; thời gian nằm viện trung bình cho mỗi đợt phẫu thuật.
- Kết quả phục hồi chức năng và chất lượng cuộc sống:
- Mức độ hoạt động bệnh (BASDAI): Điểm BASDAI trung bình sau mổ giảm rõ rệt so với trước mổ.
- Khả năng vận động chức năng (BASFI): Điểm BASFI trung bình sau mổ giảm mạnh, phản ánh sự phục hồi khả năng thực hiện các hoạt động sinh hoạt thường ngày.
- Chức năng khớp háng theo thang điểm Harris: Điểm Harris trung bình tăng vọt từ mức rất thấp trước mổ (phần lớn xếp loại xấu do dính khớp, biên độ vận động bằng 0°) lên mức tốt và rất tốt sau phẫu thuật.
- Chất lượng cuộc sống (ASQoL): Điểm ASQoL giảm có ý nghĩa thống kê, chứng minh sự cải thiện toàn diện về thể chất, tâm lý và sinh hoạt xã hội.
- Phân tích tương quan: Ghi nhận mối tương quan nghịch biến chặt chẽ giữa điểm chức năng Harris và điểm ASQoL (điểm Harris càng cao thì điểm ASQoL càng thấp, tương ứng với chất lượng cuộc sống càng tốt).
- Kết quả chẩn đoán hình ảnh và biến chứng: Vị trí đặt ổ cối nhân tạo phần lớn nằm trong khoảng an toàn của Lewinnek theo phép đo Liaw; tỷ lệ chuôi khớp đạt vị trí trung tính cao; chênh lệch chiều dài hai chi được cân bằng hoặc cải thiện rõ rệt; tỷ lệ biến chứng (trật khớp, gãy xương trong mổ, tổn thương thần kinh, nhiễm trùng, cốt hóa lạc chỗ) được kiểm soát ở mức thấp.
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN
Chương bàn luận đối chiếu các phát hiện của luận án với y văn trong nước và quốc tế:
- Đặc điểm dịch tễ và bệnh học: Khẳng định đặc tính khởi phát sớm ở nam giới trẻ tuổi tại Việt Nam, sự chậm trễ trong can thiệp ngoại khoa dẫn đến tình trạng dính khớp nặng nề kèm biến dạng cột sống thắt lưng và lồng ngực.
- Thách thức vô cảm và tiếp cận ngoại khoa: Bàn luận về khó khăn trong kê tư thế mổ khi khớp háng co rút gập khép, phân tích giải pháp gây mê nội khí quản trong điều kiện dính cột sống cổ; phân tích chi tiết kỹ thuật cắt chỏm tại chỗ và giải phóng phần mềm xơ dính quanh ổ cối mà không làm tổn thương thành xương mỏng do loãng xương.
- Hiệu quả cải thiện chức năng: So sánh kết quả phục hồi điểm Harris, biên độ vận động (ROM) và chất lượng cuộc sống với các nghiên cứu của Lee SH (2017), Xu J (2017), Ye C (2014), Zhu XB (2019), Wanchun Wang (2014); khẳng định thay khớp háng toàn phần giúp bệnh nhân chuyển đổi từ tình trạng tàn phế sang khả năng tự đi lại độc lập.
- Biến chứng và các yếu tố ảnh hưởng: Bàn luận về cơ chế hình thành cốt hóa lạc chỗ ở bệnh nhân VCSDK, mối liên quan giữa tình trạng viêm toàn thân (tốc độ máu lắng, CRP), thời gian mổ kéo dài và nguy cơ biến chứng; nhấn mạnh vai trò sống còn của tập phục hồi chức năng sớm sau phẫu thuật.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án mang lại những đóng góp có giá trị về mặt học thuật và thực tiễn lâm sàng ngoại khoa tại Việt Nam:
-
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học:
- Cung cấp bức tranh toàn diện và có hệ thống về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, hình thái tổn thương giải phẫu và hình ảnh học (X-quang theo Braun, BASRI-h, phân loại Dorr) ở bệnh nhân dính khớp háng do viêm cột sống dính khớp được chỉ định thay khớp háng toàn phần.
- Xác lập và chứng minh bằng thực nghiệm mối tương quan chặt chẽ giữa sự phục hồi chức năng cơ học của khớp háng (thang điểm Harris) với mức độ hoạt động bệnh (BASDAI), khả năng vận động chức năng (BASFI) và chất lượng cuộc sống (ASQoL) ở bệnh nhân VCSDK tại Việt Nam.
-
Đóng góp về mặt thực tiễn phẫu thuật và điều trị:
- Chuẩn hóa quy trình kỹ thuật thay khớp háng toàn phần trên bệnh nhân dính khớp háng: từ công tác chuẩn bị trước mổ, đánh giá nguy cơ gây mê - gây tê, lựa chọn đường mổ (ưu tiên đường mổ Gibson), kỹ thuật cắt cổ xương đùi tại chỗ hai nhát để lấy bỏ chỏm dính xương, kỹ thuật doa tạo hình và đặt ổ cối nhân tạo trong khoảng an toàn Lewinnek (đo kiểm tra bằng thước Liaw), đến kỹ thuật định vị chuôi khớp không xi măng.
- Đưa ra giải pháp phục hồi cân bằng chiều dài chi dưới, giải phóng triệt để co rút phần mềm quanh khớp giúp phục hồi biên độ vận động tối đa mà vẫn bảo đảm độ vững của khớp nhân tạo.
- Xây dựng quy trình phối hợp đa chuyên khoa giữa Phẫu thuật viên Chấn thương chỉnh hình, Bác sĩ Gây mê hồi sức và Bác sĩ Phục hồi chức năng, giúp giảm thiểu biến chứng trong và sau mổ, tối ưu hóa kết quả phục hồi chức năng cho người bệnh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Dựa trên phạm vi và dữ liệu trình bày trong luận án:
- Hạn chế: Phẫu thuật thay khớp háng trên bệnh nhân VCSDK dính khớp đòi hỏi trang thiết bị chuyên dụng và phẫu thuật viên có kinh nghiệm tại các trung tâm y tế chuyên sâu; một số trường hợp biến dạng cột sống nặng nề gây giới hạn cho các phương pháp vô cảm thông thường; thời gian theo dõi sau mổ trong nghiên cứu cần tiếp tục kéo dài để đánh giá tuổi thọ khớp trên 15–20 năm.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi dọc dài hạn (trên 10, 15 và 20 năm) nhằm xây dựng đường cong sinh tồn Kaplan-Meier của các thế hệ khớp nhân tạo không xi măng trên bệnh nhân VCSDK tại Việt Nam; nghiên cứu sâu hơn về các biện pháp can thiệp dự phòng cốt hóa lạc chỗ và kiểm soát phản ứng viêm sinh học quanh linh kiện nhân tạo.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn giá trị cho các đối tượng:
- Bác sĩ phẫu thuật Chấn thương chỉnh hình: Tham khảo chi tiết về giải phẫu bệnh học vùng khớp háng dính, chỉ định phẫu thuật, các bước kỹ thuật bộc lộ - cắt chỏm dính xương, kỹ thuật doa định vị ổ cối và xử trí biến chứng trong mổ.
- Bác sĩ Gây mê hồi sức: Tham khảo đánh giá các thách thức vô cảm trên bệnh nhân cứng cột sống toàn bộ, khó đặt nội khí quản và lựa chọn phương pháp vô cảm an toàn.
- Bác sĩ Cơ Xương Khớp & Bác sĩ Phục hồi chức năng: Nắm vững các thang điểm đánh giá chuyên biệt (BASDAI, BASFI, BASRI-h, ASQoL, Harris) và phác đồ tập vận động sớm sau thay khớp.
- Nghiên cứu sinh, học viên sau đại học: Cung cấp khung phương pháp nghiên cứu lâm sàng kết hợp chẩn đoán hình ảnh và thang điểm chất lượng cuộc sống trong ngoại khoa chỉnh hình.
Câu hỏi thường gặp
1. Chỉ số BASRI-h đánh giá tổn thương khớp háng trên X-quang ở bệnh nhân VCSDK được phân độ như thế nào?
Chỉ số BASRI-h (Bath Ankylosing Spondylitis Radiology Index - hip) chia tổn thương khớp háng thành 5 giai đoạn:
- Giai đoạn 0: Khớp háng bình thường.
- Giai đoạn 1: Hẹp khe khớp từng phần.
- Giai đoạn 2: Hẹp khe khớp, bề rộng khe khớp còn lại > 2 mm.
- Giai đoạn 3: Hẹp khe khớp nặng, bề rộng khe khớp < 2 mm hoặc xuất hiện gai xương.
- Giai đoạn 4: Biến dạng xương hoặc có gai xương kích thước ≥ 1 cm.
Chỉ định phẫu thuật thay khớp háng thường đặt ra ở giai đoạn 3–4 hoặc giai đoạn 1–2 khi bệnh nhân đau đớn nhiều và suy giảm nghiêm trọng chức năng vận động.
2. Vì sao công tác vô cảm (gây mê, gây tê) lại gặp nhiều khó khăn ở bệnh nhân VCSDK cần thay khớp háng?
Do đặc điểm bệnh lý VCSDK gây viêm xơ hóa và cốt hóa hệ thống dây chằng dọc cột sống, tạo thành các cầu xương nối liền các đốt sống (hình ảnh cột sống cây tre), làm mất hoàn toàn khe liên đốt và biến dạng đường cong sinh lý. Tình trạng này khiến việc chọc kim gây tê tủy sống hoặc ngoài màng cứng vùng thắt lưng hầu như không thể thực hiện được. Đồng thời, cột sống cổ bị dính cứng hạn chế biên độ ngửa cổ, gây khó khăn lớn cho việc đặt ống nội khí quản thông thường, đòi hỏi phải sử dụng các phương tiện chuyên dụng như ống soi mềm hoặc đặt nội khí quản khi bệnh nhân còn tỉnh.
3. Quy trình kỹ thuật xử lý chỏm xương đùi bị dính liền ổ cối được thực hiện ra sao trong mổ?
Ở bệnh nhân VCSDK giai đoạn muộn, chỏm xương đùi và ổ cối dính liền thành một khối xương đặc xơ hóa, mất hoàn toàn ranh giới khe khớp. Phẫu thuật viên không thể trật khớp theo cách thông thường mà phải tiến hành cắt cổ xương đùi tại chỗ (thường thực hiện hai đường cắt: một đường sát chỏm và một đường ngang nền cổ xương đùi), sau đó dùng đục và dụng cụ chuyên dụng đục rời từng phần chỏm xương đùi ra khỏi đáy ổ cối, giải phóng toàn bộ gai xương và tổ chức xơ dính trước khi tiến hành doa tạo hình ổ cối.
4. Mối liên quan giữa kháng nguyên HLA-B27 và bệnh viêm cột sống dính khớp được ghi nhận như thế nào?
Kháng nguyên HLA-B27 (nằm trên nhiễm sắc thể số 6) có mối liên hệ mật thiết với bệnh sinh VCSDK. Tỷ lệ bệnh nhân VCSDK mang kháng nguyên HLA-B27 đạt từ 75% đến 95% trên thế giới và khoảng 87% tại Việt Nam, trong khi tỷ lệ này trong quần thể người bình thường chỉ chiếm từ 4% đến 8% (tại Việt Nam là 4%). Những người có quan hệ huyết thống với bệnh nhân VCSDK có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 30–40 lần so với quần thể chung.
5. Những thang điểm lâm sàng và chất lượng cuộc sống nào được luận án sử dụng để lượng giá kết quả phẫu thuật?
Luận án sử dụng phối hợp hệ thống thang điểm đa chiều:
- VAS (0–10): Đánh giá mức độ đau trực quan.
- BASDAI (0–10): Đánh giá mức độ hoạt động của bệnh viêm cột sống dính khớp qua 6 câu hỏi (bệnh hoạt động khi BASDAI ≥ 4).
- BASFI (0–10): Đánh giá mức độ hạn chế khả năng vận động chức năng qua 10 câu hỏi sinh hoạt thường ngày.
- Harris Hip Score (HHS): Đánh giá chức năng khớp háng (đau, vận động, biến dạng, tầm vận động).
- ASQoL: Bảng đánh giá chất lượng cuộc sống chuyên biệt cho bệnh nhân viêm cột sống dính khớp.
Kết luận
Luận án tiến sĩ y học của tác giả Nguyễn Trung Tuyến đã nghiên cứu toàn diện đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả phẫu thuật thay khớp háng toàn phần do dính khớp trên bệnh nhân viêm cột sống dính khớp tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu chứng minh phẫu thuật thay khớp háng toàn phần là phương pháp điều trị ngoại khoa hiệu quả, giúp loại bỏ triệu chứng đau, khôi phục biên độ vận động khớp háng, cân bằng chiều dài chi và cải thiện rõ rệt chỉ số chức năng BASFI cũng như chất lượng cuộc sống ASQoL cho người bệnh. Mặc dù là can thiệp kỹ thuật phức tạp với nhiều thách thức về giải phẫu biến dạng và công tác vô cảm, phẫu thuật đạt độ an toàn cao khi được thực hiện đúng quy trình chuẩn hóa, định vị ổ cối chính xác và kết hợp phục hồi chức năng sớm sau mổ.