Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm dịch tễ mở khí quản ở trẻ em 1. Lịch sử mở khí quan ở trẻ em Vào thé kỷ thứ hai trước Công nguyên, Asclepiades được cho là đã thực hiện phẫu thuật mở khí quản đầu tiên ở Rome. Đến thế kỷ thứ 15, một bác sĩ người Y — Antonio M.
Brasovala đã thực hiện thành công phẫu thuật mở khí quản trên một bệnh nhân bị tắc nghẽn đường thở do amiđan quá phát. Năm 1766, Caron mô tả một phẫu thuật mở khí quản trên một bệnh nhân 7 tuổi có dị vật đường thở. Đây được coi là ca phẫu thuật mở khí quản thành công đầu tiên ở trẻ em [1], [4]. Năm 1833, Trousseau báo cáo đã cứu được 50 trẻ em mắc bệnh bạch hầu nhờ phẫu thuật mở khí quản.
Đây cũng là báo cáo đầu tiên trong lịch sử mô tả các kỹ thuật chăm sóc sau mở khí quản. Tuy nhiên, phải đến đầu những năm 1900, phẫu thuật mở khí quản mới được chuẩn hóa bởi bác sĩ tai mũi họng Chevalier Jackson, từ đó, mở khí quản đã trở thành một phẫu thuật quan trọng trong hồi sức và cấp cứu nhi khoa [1], [4], [5]. Tỷ lệ mở khí quan ở trẻ em Mở khí quản là một trong những phẫu thuật quan trọng, được thực hiện phô biến nhất trong các đơn vi điều trị tích cực ở người lớn với tỷ lệ được báo cáo khoảng 10 — 24% bệnh nhân thở máy, ngược lại, phẫu thuật này ít phổ biến hơn ở trẻ em. Tuy nhiên, vào cuối những năm 1900, do sự phát triển của phương pháp đặt nội khí quản và sự phát triển trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe trẻ em, nhu cầu hỗ trợ thông khí kéo dài tăng lên, phẫu thuật mở khí quản ngày càng được thực hành nhiều hơn ở trẻ em trong các trường hợp tắc nghẽn đường hô hấp trên hay thở máy kéo dài [1].
Giải phẫu, sinh lý thanh-khí quản 1. Giải phẫu thanh quản Ø —— Nắp thanh man LO cho mạch thanh quản ~SZ trên và nhánh trong Nếp phéu than kinh thanh quan “nap thanh môn trên đi qua _~ Củ chêm _~ Cac cơ phéu chéo va ngang — Củ sing ý tân n phe Se Cơ 4 nhẫ sau phêuu sat _ Cơ phéeu tấp thanh môn —— Cũ phu chéo Cơ phéu ngang _ _—Phẳn đứng Ì ca nhân giãn —— Phần chếch | Bick Nhin sau Nhin bén phai Hình 1. Giải phẫu thanh quản Thanh quản (TQ) là một thành phần của ngã tư đường ăn và đường thở. Thanh quản được cau tạo bởi một khung gồm 9 loại sụn khác nhau, liên kết với nhau bởi dây chăng, các khớp và cơ.
Diy chẳng shin phỉa eu I8. Khửp nhẳn giáp 17. Khdp nhằn pte Cát vạn của thank quản và Các sụn ce Khanh quản và xương wut thông (nhàn từ pia truck inémg inhic từ phóa saul Hình 1. Các sun thanh quan nhìn từ phía trước va phía sau Có hai loại sụn: sụn đơn (sụn giáp, sụn nhẫn, sụn nắp thanh quản, sụn liên phéu) va sụn kép (sụn phêu, sụn sừng, sun chém, sun vung, sụn thóc).
Các dây chằng và các khóp. * Các màng và dây chăng - Màng giáp — móng - Màng nhẫn - giáp: cấu trúc day và chắc, nối giữa sụn giáp và sụn nhẫn, là nơi rạch khi mở khí quản trong trường hợp tối cấp. - Màng nhãn - khí quản: nối sụn nhẫn và khí quản, là nơi rạch khi mở khí quản trong trường hợp mở khí quản cao. - Dây chang nhẫn - phéu: nối sụn nhẫn với sụn phéu.
* Các khớp: khớp nhãn - giáp, khớp nhẫn - phễu, khớp hoặc dây chằng nối sụn phéu vào sụn ving. Các cơ Thanh quản di chuyền bởi các cơ: lên trên bởi các cơ tram móng, xuống bởi các cơ dưới móng. Câu trúc trong của thanh quản * Thanh quản được chia làm 3 tầng: - Tang trên thanh môn: là tiền đình TQ + Phía dưới tiền đình là băng thanh thất: hai nẹp nhỏ hơn dây thanh, nằm song song với dây thanh. + Buồng Morgagni: là khoảng rỗng giữa dây thanh và băng thanh that.
- Tang thanh môn: gồm hai dây thanh, mau thanh âm và khe thanh môn. + Dây thanh: là một cái nep di từ cực trước (góc sụn giáp) ra cực sau TQ (sụn phéu). Cấu tạo gồm 3 lớp: lớp niêm mạc là lớp tế bào Malpighi mỏng bám sát vào dây chăng, không có mạch máu; lớp cân và lớp cơ. "Thiết đồ đứng doc qua thanh quan.
Thiét đồ đứng ngang qua thanh quan và khí quản. I:Tiềnđình 2: Sụnnắp 3: Sụn giáp 4: Sụnnhẫn 5: Dây chang thanh âm 9: Nếp thanh âm 10: Băng thanh thất 20: Hạ thanh môn 22: Cơ giáp phễu 24: Thanh thất 25: Dây thanh 26: Khí quản 27: Sừng trên sụn giáp 28: Hạnh nhân lưỡi 29: Xoang lê 30: Dây thanh 31: Cơ nhẫn phéu bên 32: Tuyến giáp Hình 1.3: Thiết đồ cắt đứng doc và đứng ngang qua thanh quản + Thanh môn: là khoảng cách hình tam giác giữa hai dây thanh. Đầu trước của thanh môn gọi là mép trước, đầu sau gọi là mép sau. Thanh môn là nơi hẹp nhất của TQ.
- Tang ha thanh môn: Hạ thanh môn được giới han từ mat dưới day thanh đến bờ dưới sụn nhẫn. Mạch và than kinh * Một số điểm khác biệt giữa TQ trẻ em và TQ người lớn - Vị trí: TQ trẻ em nằm ở vị trí cao hơn TQ người lớn. Ở thai nhi, sụn nhẫn ở gần đốt sống cổ 4, khi trẻ lớn, sụn nhẫn sẽ xuống dần đến đốt sống cô 6 và dừng lai ở đốt sống cô 7 khi trưởng thành. Màng giáp móng ngắn hơn, do đó xương móng sẽ nằm phía trước cực trên tuyến giáp.
Tư thế của xương móng che cực trên tuyến giáp là một mốc giải phẫu đề mở khí quản [25], [37]. - Kích thước: khi mới sinh, kích thước giữa TQ của trẻ em và người lớn có tỷ lệ 1/3. Hai mau thanh của sụn phéu chiếm gần nửa thanh môn, ở người lớn chỉ chiếm 1/4 - 1/7 chiều dai của thanh môn, sụn phéu và mô mềm tạo nên bờ sau trong của TQ cũng lớn [44]. - Hình thể: ở trẻ em, sụn thanh thiệt hơi ngả ra sau, thường hẹp hơn và có thé dạng ống hoặc omega.
Thanh môn có dang khuôn 5 cạnh khi hít vào vì hai dây thanh hơi ngả xuống vào hạ thanh môn, do đó khẩu hình của thanh môn sẽ thành hình elip với đường kính rộng hơn theo chiều trước sau [25], [37]. - Câu tạo dây thanh: ở trẻ em, mô dưới niêm mạc lỏng lẻo và mềm mại hơn, do đó dễ có phản ứng phù nề, làm hẹp khẩu kính đường thở và dễ gây khan tiếng, khó thở [44].Sinh lý thanh quản [11] Thanh quản có 4 chức năng: thở, bảo vệ đường hô hấp dưới, nói và nuốt. Giải phẫu khí quản [11]. Khí quản là một ống xơ sụn nối liền thanh quản với phế quản gốc phải và trái.
Độ dai của khí quản thay đổi theo tuôi, và thậm chi thay đổi theo tư thế của đầu. Cụ thể như sau: Bang 1. Kích thước của khí quan ( Theo Engel 1962) 2. Chiéu dai trung Duong kinh trung binh (mm) mộ bình (cm) Phải - Trái Trước — Sau 0-1 tháng 4,0 5,7 6,0 1-3 thang 3,8 6,5 6,8 3-6 tháng 4,2 7,2 7,6 6-12 thang 4,3 7,0 7,8 1-2 tudi 4,5 8,8 9,4 2-3 tudi 5,0 9,4 10,8 3-4 tudi 5,3 9,1 11,2 6-8 tudi 5,7 10,4 11 10-12 tuổi 6,3 9,3 12,4 14-16 tudi 7,2 13,5 13,7 Người lớn 9,15 14,4 16,5 Vé mat cau tao, khi quan tao nén boi 16 — 20 vong sun, thanh cua khi quan gồm nhiều lớp.
Liên quan ở khí quản cỗ - Phía sau với thực quản - Hai bên liên quan với thùy bên tuyến giáp, tuyến cận giáp, dây thần kinh quặt ngược, động mạch giáp trạng dưới và xa hơn có một chút bó mạch thần kinh cảnh và động mạch giáp dưới. - Ở phía trước: Da và tổ chức dưới da, cân cô nông, cân cổ giữa và eo tuyến giáp nằm ngay sát mặt trước các vòng sụn 2-3 của khí quản và sựu có mặt của nó làm cho chúng ta xác định được mở khí quản cao, trung bình hay thấp. Mở cao hay còn gọi là mở trên eo qua vòng sun 1-2. Mở trung bình là mở qua eo di qua vòng sụn 3-4.
Mở thấp hay mở dưới eo, di qua vòng sụn 5-6-7. Phía dưới eo tuyến giáp có đám rối tĩnh mạch dưới eo nhận máu của các tĩnh mạch nhỏ dưới eo tuyến giáp. Những tĩnh mạch này có thể phông lên hất là ở trẻ nhỏ hay người già hoặc trong những trường hợp suy hô hấp, dé bị ton thương gây chảy máu trong khi mở khí quản đặc biệt là mở khí quản thấp. Đặc điểm giải phẫu, sinh lý thanh — khí quản trẻ em: e VỊ trí: TQ trẻ em nằm ở vị trí cao hơn TQ người lớn.
Ở thai nhi, sụn nhẫn ở gần đốt song cô 4, khi trẻ lớn, sụn nhẫn sé xuống dần đến đốt sống cô 6 và dừng lại ở đốt sống cổ 7 khi trưởng thành. e Kích thước: khi mới sinh, kích thước giữa TQ của trẻ em va người lớn có tỷ lệ 1/3. e Hình thé: Họng, hau trẻ em tương đối hẹp và ngắn, có hướng thang đứng, hình phéu hep, sun mém va nhan. e Cấu tạo dây thanh và niêm mac: Long thanh khí phế quản trẻ em tương đối hẹp, tổ chức đàn hồi kém phát triển, vòng sụn mềm hon so với người lớn, dễ biến dạng, niêm mạc nhiều mạch máu, mô dưới niêm mạc lỏng lẻo dé bị pha nề xuất tiết gây khókhăn cho mở khí quan [1], [12].
Chỉ định mở khí quản ở trẻ em Mở khí quản lần đầu tiên được quan sát thấy trong các bản vẽ Ai Cập vào năm 3600 trước Công nguyên và được thực hiện thường xuyên khi bệnh dịch bạch hầu xảy ra ở thế kỷ thứ 18. 10 Chỉ định cho phẫu thuật mở khí quản đã thay đổi đáng kế trong những năm qua, phản ánh những thay đổi trong chăm sóc sức khỏe trẻ em. Trước khi có sự phát triển của vắc-xin phòng các bệnh lý nhiễm trùng, tắc nghẽn đường thở do viêm nhiễm đường hô hấp trên do vi khuẩn, virus là chỉ định chủ yếu của phẫu thuật mở khí quản [1], [13]. Ngày nay, do sự phát triển của phương pháp đặt nội khí quản và vắc-xin cho nhiễm trùng đường hô hấp trên cùng sự gia tăng số lượng bệnh nhân được điều trị tại don vị điều trị tích cực với nhu cầu hỗ trợ hô hap kéo dài, chỉ định mở khí quản đã thay đối và đa dang [2], [14].
Các chi định mở khí quản ở trẻ em bao gồm [1].