CHƯƠNG 1: CÁC PHƯƠNG PHÁP THIẾT KẾ MẶT ĐƯỜNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM, CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHỌN CẤU TẠO KẾT CẤU MẶT ĐƯỜNG Ô TÔ 1.1 Các phương pháp thiết kế mặt đường trên thế giới và ở Việt Nam 1.1 Các phương pháp lý thuyết: - Lập các mô hình và chương trình tính toán rồi qua thực nghiệm để kiểm tra nhằm xác định điều kiện bền. Các tính chất thông thường là xác định ứng suất do xe chạy gây ra trong các lớp mặt đường bằng lý thuyết và so sánh các ứng suất này với cường độ cho phép của vật liệu làm đường thường lấy theo kinh nghiệm. - Trong nhóm này có rất nhiều phương pháp của Trung Quốc, của Anh, của Pháp hay của Liên Xô cũ, phương pháp hiện hành của Bộ Giao thông vận tải: quy trình thiết kế áo đường mềm 22 TCN 211-06 và Quy trình thiết kế áo đường cứng 22 TCN 223-95 ….1 Phương pháp theo 22 TCN 211-06: a) Nội dung phương pháp: Công tác thiết kế áo đường mềm gồm các nội dung chủ yếu sau: - Thiết kế cấu tạo kết cấu nền áo đường là chọn và bố trí hợp lý các lớp vật liệu phù hợp với chức năng và yêu cầu của các tầng, lớp áo đường, chọn các giải pháp tăng cường độ và sự ổn định cường độ trong khu vực tác dụng. - Phải tuân theo nguyên tắc thiết kế tổng thể nền áo đường, tức là trong mọi trường hợp phải chú trọng các biện pháp nâng cao cường độ và sự ổn định cường độ của khu vực tác dụng để tạo điều kiện cho nền đất tham gia chịu lực cùng với áo đường đến mức tối đa, từ đó giảm được bề dày áo đường và hạ giá thành xây dựng.
Đồng thời, còn phải sử dụng các biện pháp tổng hợp khác nhau (biện pháp sử dụng vật liệu và tổ hợp các thành phần vật liệu, biện pháp thoát nước cho các lớp có khả năng bị nước xâm nhập) để hạn chế các tác dụng của ẩm và nhiệt đến cường độ và độ bền của mỗi tầng, lớp trong kết cấu áo đường và đặc biệt là biện pháp hạn chế các hiện tượng phá hoại bề 5 mặt đối với lớp mặt trên cùng do xe chạy gây ra. - Phải chọn và bố trí đúng các tầng, lớp vật liệu trong kết cấu áo đường sao cho phù hợp với chức năng của mỗi tầng, lớp và bảo đảm cả kết cấu đáp ứng được những yêu cầu cơ bản như trên đồng thời phù hợp với khả năng cung ứng vật liệu, khả năng thi công và khả năng khai thác duy tu, sửa chữa, bảo trì sau này. - Phải sử dụng tối đa các vật liệu và phế thải công nghiệp tại chổ (sử dụng trực tiếp hoặc có gia cố chúng bằng chất kết dính vô cơ hoặc hữu cơ). Ngoài ra, phải chú trọng vận dụng các kinh nghiệm về xây dựng và khai thác áo đường trong điều kiện cụ thể của địa phương đường đi qua.
- Tính toán kiểm tra cường độ chung và cường độ trong mỗi lớp kết cấu áo đường xác định bề dày mỗi lớp kết cấu áo đường theo các tiêu chuẩn kết cấu cho phép. - Tính toán, thiết kế tỉ lệ các thành phần hạt và tỉ lệ phối hợp giữa vật liệu hạt khoáng với chất liên kết cho mỗi loại vật liệu sử dụng rồi kiểm nghiệm các đặc trưng cơ học của các vật liệu đó để đưa ra yêu cầu cụ thể đối với vật liệu sử dụng cho mỗi lớp kết cấu. Theo yêu cầu nêu trên, nội dung tính toán chính là tính toán kiểm tra 3 tiêu chuẩn cường độ dưới đây: - Kiểm toán ứng suất cắt ở trong nền đất và các lớp vật liệu chịu cắt trượt kém so với trị số giới hạn cho phép để đảm bảo trong chúng không xảy ra biến dạng dẻo (hoặc hạn chế sự phát sinh biến dạng dẻo). - Kiểm toán ứng suất kéo uốn phát sinh ở đáy các lớp vật liệu liền khối nhằm hạn chế sự phát sinh nứt dẫn đến phá hoại lớp đó.
- Kiểm toán độ võng đàn hồi thông qua khả năng chống biến dạng biểu thị bằng trị số môđun đàn hồi Ech của cả kết cấu nền áo đường so với trị số môđun đàn hồi yêu cầu Eyc. Tiêu chuẩn này nhằm đảm bảo hạn chế được sự phát triển của hiện tượng mỏi trong vật liệu các lớp kết cấu dưới tác dụng 6 trùng phục của xe cộ, do đó đảm bảo duy trì được khả năng phục vụ của cả kết cấu đến hết thời hạn thiết kế. - Cơ sở của phương pháp tính toán theo ba tiêu chuẩn giới hạn nêu trên là lời giải của bài toán hệ bán không gian đàn hồi nhiều lớp có điều kiện tiếp xúc giữa các lớp là hoàn toàn liên tục dưới tác dụng của tải trọng bánh xe (được mô hình hóa là tải trọng phân bố đều hình tròn tương đương với diện tích tiếp xúc của bánh xe trên mặt đường), đồng thời kết hợp với kinh nghiệm sử dụng và khai thác đường trong nhiều năm để đưa ra các quy định về các tiêu chuẩn giới hạn cho phép [4]. b) Các thông số tính toán: * Tải trọng và lưu lượng xe chạy: - Tải trọng tiêu chuẩn: Khi tính toán cường độ của kết cấu nền áo đường theo 3 tiêu chuẩn nêu trên, tải trọng trục tính toán tiêu chuẩn được quy định là trục đơn của ô tô.
Các tải trọng tính toán này được tiêu chuẩn hóa như bảng 1.1 Tải trọng trục tính toán tiêu chuẩn Tải trọng trục tính toán Áp lực tính toán lên bề Đường kính vệt tiêu chuẩn, P (kN) mặt đường, p (Mpa) bánh xe, D (cm) 100 0,6 33 120 0,6 36 - Lưu lượng xe: Lưu lượng xe chạy cuối thời kỳ khai thác tính theo công thức: Ni =Nl x (1 + r ) t Trong đó: Ni: Lưu lượng xe chạy cuối kỳ khai thác (xe/ ngày đêm). Nl: Lưu lượng xe năm đầu tính toán (xe/ ngày đêm). r: Tốc độ tăng trưởng xe. t: Thời gian tính toán t=20 năm với đường làm mới và t=15 năm với 7 đường cải tạo nâng cấp.
- Các thông số tính toán của đất nền như mô đun đàn hồi E0, lực dính C, góc nội ma sát , được xác định ở các điều kiện bất lợi nhất về chế độ thủy nhiệt. Để xác định được các thông số này cần tiến hành thông qua các thí nghiệm trong các điều kiện bất lợi nhất. Khi thiết kế, các thông số này thường dựa vào các bảng tra tham khảo từ nước ngoài mà chưa có các nghiên cứu quy mô trong điều kiện Việt Nam. - Trên quan điểm thiết kế tổng thể mặt đường, các thông số nền đất là các chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng đến kết quả tính toán bởi vậy cần phải xác định chính xác các thông số này.
c) Các khó khăn trong thực tế thiết kế mặt đường mềm sử dụng tiêu chuẩn 22 TCN 211-06. Phương pháp thiết kế kết cấu áo đường theo tiêu chuẩn 22TCN 211-06 là phương pháp kế thừa và thay phương pháp thiết kế kết cấu áo đường theo tiêu chuẩn 22TCN 211-93, vì thế đã kế thừa những kinh nghiệm của phương pháp thiết kế theo tiêu chuẩn 22TCN 211-93 qua thực tiễn, từ đó thiết kế áo đường chất lượng hơn, giá thành hợp lý hơn, đồng thời, đáp ứng được xu thế đa dạng hóa các loại tải trọng thực tế đang sử dụng để quy đổi về tải trọng tính toán chính xác hơn. Tuy nhiên, cũng do kế thừa phương pháp thiết kế áo đường 22TCN 211 -93 nên để nâng cao hiệu quả thiết kế của phương pháp cần phải quan tâm các hạn chế dưới đây: - Phương pháp tính toán cường độ và chiều dày các lớp vật liệu trong kết cấu áo đường mềm trên cơ sở của ba tiêu chuẩn trạng thái giới hạn, lời giải tìm ứng suất và biến dạng của lý thuyết đàn hồi, các thông số thực nghiệm và kinh nghiệm, kết quả tính phụ thuộc vào các tham số đầu vào như: lưu lượng xe, tải trọng xe, đặc trưng tính toán vật liệu của đất nền nên việc xác định các thông số phù hợp là vấn đề cần nghiên cứu kỹ và thống nhất. Sự ảnh hưởng của chế độ thủy nhiệt để tính toán cần cụ thể trong từng điều kiện.
8 - Cơ sở lý thuyết của bài toán là hệ đàn hồi đặt trên bài toán không gian vô hạn đàn hồi như thực tế vật liệu kết cấu áo đường và nền đất không phải là vật liệu đàn hồi đồng nhất, đẳng hướng mà là vật liệu đàn hồi dẻo nhớt. Do đó kết quả tính chỉ là gần đúng với sự làm việc thực tế của áo đường. - Các toán đồ được lập với hệ hai lớp, nếu có nhiều hơn hai lớp thì phải dùng công thức tính quy đổi lớp trên nguyên tắc độ cứng tương đương, việc tính đổi và hệ số β thêm vào chỉ là gần đúng. Hiện nay, một số quy trình Trung Quốc, Liên Bang Nga và sách đã có kết quả giải hệ đàn hồi ba lớp, việc tính đổi sẽ chính xác hơn.
Mặt khác, với sự phát triển máy tính điện tử thì việc giải bài toán hệ đàn hồi nhiều lớp không còn là vấn đề phức tạp nữa. - Chưa có cách tính toán trực tiếp cường độ và độ ổn định của tầng mặt áo đường dưới tác dụng của nhiệt độ và chế độ thay đổi nhiệt độ. Các khó khăn trong thực tế thiết kế mặt đường mềm sử dụng tiêu chuẩn 22 TCN211-06 được rà soát và liệt kê như sau: c1). Một số hiện tượng hư hỏng kết cấu khá phổ biến trong thực tế chưa được bao gồm trong các trạng thái giới hạn kiểm toán kết cấu mặt đường, như là: - Hư hỏng dạng nứt parabol hoặc hiện tượng trượt trồi do ứng suất cắt trượt trong lớp bê tông nhựa mặt đường và của vật liệu móng rời rạc, kém dính khi xét đến thành phần lực ngang của tải trọng bánh xe; - Hiện tượng nứt phản ánh từ vết nứt mặt đường cũ hay từ móng gia cố vô cơ hoặc khe nối của móng bê tông nghèo; - Hư hỏng do biến dạng không hồi phục của mặt đường không được xét đến do giả thiết tính toán của hệ đàn hồi nhiều lớp.