CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Da là cơ quan lớn nhất, được xem là “bề mặt tráng lệ của cơ thể” [1]. Da bao bọc toàn bộ cơ thể nên đóng vai trò đặc biệt quan trọng giúp bảo vệ con người khỏi các tác nhân độc hại khi tiếp xúc với môi trường. Tuy nhiên, theo thời gian do ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài như ô nhiễm môi trường, tia UV,… mà da dần mất đi cấu trúc vốn có, suy giảm chức năng, hình thành nếp nhăn. Không những thế, các yếu tố trên còn là nguyên nhân gây nên các rối loạn sắc tố, viêm da hay thậm chí gây ung thư da.
Từ xưa con người đã biết tạo ra những công thức làm đẹp và trị liệu cho da từ cây cỏ. Khi khoa học phát triển, nhiều kết quả nghiên cứu đã củng cố cơ sở lý luận cho các công thức này. Nhiều loài cây có khả năng điều trị một số rối loạn trên da như cúc La Mã làm giảm các triệu chứng viêm, áp xe, kích ứng,…[2]. Bên cạnh tác dụng chữa trị, thực vật còn là sản phẩm chăm sóc da hiệu quả như nhân sâm Hàn Quốc rất nổi tiếng với tác dụng chống oxy hóa và ức chế hình thành melanin [3].
Mặc dù các loại cây kể trên có rất nhiều lợi ích nhưng đôi khi việc ứng dụng vẫn còn hạn chế do giá thành cao, khó bảo quản. Do đó, việc tìm ra nguyên liệu có đầy đủ những lợi ích sinh học nhưng khắc phục được các vấn đề về giá cả và bảo quản sẽ mang lại triển vọng cho sự phát triển của ngành dược mỹ phẩm. Cà phê xanh là đối tượng được chọn để đánh giá tính khả thi trong đề tài này. Trong những năm gần đây, các sản phẩm lên men có nguồn gốc thực vật được người tiêu dùng đặc biệt quan tâm như kombucha, mỹ phẩm chứa dịch lên men của các loài thảo dược.
Bởi lẽ, quá trình lên men đã được nhiều công trình nghiên cứu chứng minh là có khả năng nâng cao hoạt tính của hợp chất, làm cho đối tượng trở nên tương thích sinh học hơn với cơ thể con người [4]. Do đó, đề tài chọn vấn đề này để tìm hiểu với mong muốn tìm ra các đặc tính nổi trội của hạt cà phê xanh sau khi lên men. Các kiến thức bao quát về cấu tạo da người, quá trình oxy hóa, viêm da và nguyên nhân hình thành sẽ được tìm hiểu trong chương này. Bên cạnh đó, tổng quan về hạt cà phê xanh và quá trình lên men cùng các loại chủng men cơ bản cũng được trình bày cụ thể.
Tìm hiểu về da, quá trình oxy hóa và phản ứng viêm trên da 1 Về mặt chức năng, da là một cơ quan đặc biệt nhất trên cơ thể người với cấu trúc phức tạp và đóng vai trò quan trọng [1]. Ngoài việc làm rào chắn bảo vệ cơ thể khỏi sự xâm nhập của vi khuẩn và các chất độc hại từ môi trường thì da còn giúp điều hòa sự thoát hơi nước, nhiệt độ cơ thể và mang lại cảm giác [5]. Vì sự phức tạp trong cấu trúc, da có thể mềm mại hay thô ráp và nhăn nheo tùy vào vị trí trên cơ thể [1]. Cấu trúc da Với diện tích bao phủ lớn 1,7 m2, da là cơ quan nặng nhất chiếm tới 15% tổng khối lượng cơ thể người.
Da có cấu trúc gồm 3 lớp riêng biệt: lớp biểu bì, lớp trung bì và lớp dưới da (lớp mỡ) (Hình 1.1 Cấu trúc của da [6] Lớp biểu bì (epidermis): là lớp mỏng nhất (~ 0,1 mm) chứa khoảng 95% tế bào sừng (keratinocyte) và các tế bào khác như tế bào hắc tố (melanocyte), tế bào Langerhans và tế bào Merkel. Lớp biểu bì lại được cấu tạo từ 4 lớp nhỏ hơn, từ dưới lên trên lần lượt là lớp đáy (stratum basale), lớp gai (stratum spinosum), lớp hạt (stratum granulosum) và lớp sừng (stratum corneum), riêng lòng bàn tay, bàn chân có thêm lớp sáng (stratum lucidum) (Hình 1. Chức năng chính của lớp biểu bì là sinh sản tế bào điều khiển quá trình thay da (keratin hóa), tế bào mới hình thành ở lớp đáy di chuyển lên phía trên thay cho các tế bào chết. Lớp tế bào chết trên lớp sừng bị bong ra ở dạng vảy nhỏ [6].
Lớp sừng giữ vai trò đặc biệt quan trọng giúp ngăn chặn tác hại của môi trường lên da, bảo vệ da khỏi ngoại lực và hạn chế thoát hơi nước, chất điện ly khỏi cơ thể [1, 5, 6].2 Cấu tạo lớp biểu bì [6] Lớp trung bì (dermis): chiếm gần 90% độ dày, có chức năng nâng đỡ. Trung bì là lớp sợi đàn hồi gồm collagen, elastin, chất nền (glucosaminoglycan), nguyên bào sợi, tế bào dendrocyte, tế bào mast, tế bào mô, mạch máu, dây thần kinh và bạch huyết. Lớp trung bì bao gồm lớp nhú bì (papillary dermis) và lớp lưới (reticular dermis), không có ranh giới rõ ràng giữa 2 lớp. Collagen nâng đỡ cơ học cho da, được sắp xếp ngang trong lớp lưới.
Elastin giúp tăng độ đàn hồi, được xếp lỏng lẻo theo mọi hướng. Chất nền hỗ trợ collagen và mô đàn hồi, có khả năng giữ nước và vận chuyển chất dinh dưỡng, hormone, phân tử lưu chất [6, 8]. Lớp mỡ (subcutaneous fat): là lớp cuối cùng gắn các cơ quan xương, cơ, bắp thịt đến da, lớp này chứa các dây thần kinh và các tế bào thịt. Mô mỡ thực hiện chức năng giảm chấn động và là nơi dự trữ năng lượng [5].
Quá trình oxy hóa trên da Vẻ ngoài của da là yếu tố then chốt trong trải nghiệm xã hội và bề ngoài của con người, có ảnh hưởng đáng kể về mặt cảm xúc và tâm lý đối với chất lượng cuộc sống. Cũng như các cơ quan khác, da sẽ phải trải qua quá trình lão hóa theo thời gian [9]. Lão hóa da là quá trình thoái hóa đa hệ liên quan đến da và hệ thống nâng đỡ bao gồm xương, sụn và các khoang dưới da. Các biểu hiện lâm sàng thường thấy bao gồm nhăn da, da khô và thô ráp, mất độ đàn hồi, chảy xệ [10].
Hơn nữa, những thay đổi liên quan đến tuổi tác của các mô liên kết dưới da còn tạo ra một môi trường vi mô cho các rối loạn trên da như suy giảm hỗ trợ tuần hoàn máu và kém lành vết thương [11]. Có 2 3 dạng lão hóa gồm lão hóa bên trong (nội tại) và lão hóa bên ngoài. Lão hóa bên trong là quá trình tự nhiên, diễn ra liên tục và chậm rãi mà ai cũng phải trải qua. Đối tượng đáng lo ngại ở đây chính là lão hóa từ các tác nhân bên ngoài như ánh nắng mặt trời, ô nhiễm,… Trong đó, bức xạ UV từ ánh nắng mặt trời được cho là nguyên nhân chính gây nên lão hóa quang học cho làn da [10] Cơ chế chính mà tia UV bắt đầu các phản ứng phân tử trên da là tạo ra gốc oxy hoạt động (ROS) gồm anion superoxide, peroxide và oxy nguyên tử [12].
Bức xạ UV kích thích sự tăng sinh quá mức ROS làm stress oxy hóa trong lớp biểu bì [13]. Stress oxy hóa quá mức gây hại cho da và khiến da lão hóa, đây còn được gọi là lý thuyết gốc tự do của sự lão hóa [9, 14]. Lý thuyết này nói rằng ROS oxy hóa các thành phần tế bào như lipid, protein và acid nucleic để tạo ra kiểu hình lão hóa [9]. Con người sở hữu một hệ thống phòng vệ chống oxy hóa bẩm sinh, bao gồm các enzyme chống oxy hóa như SOD, catalase và glutathione peroxidase, cũng như các chất chống oxy hóa không chứa enzyme như glutathione, ascorbic acid và tocopherol, giúp trung hòa các gốc tự do.
Tuy nhiên, hệ thống bẩm sinh này có thể bị quá tải và dẫn đến tình trạng stress oxy hóa [15].3 Stress oxy hóa gây nên bởi các yếu tố nội sinh và ngoại sinh [15] Hơn nữa, ROS do tia UV gây ra có thể làm thay đổi vật liệu di truyền như DNA, RNA và các thành phần khác của tế bào như màng lipid, protein cấu trúc. Tùy thuộc vào mức độ thay đổi phân tử, ROS có thể làm suy giảm đường dẫn truyền tín hiệu liên 4 quan đến sự biệt hóa, tăng trưởng và lão hóa da. Những khiếm khuyết vật liệu di truyền có thể dẫn đến rối loạn chức năng tế bào bao gồm tổng hợp bất thường protein, tăng cường thoái hóa mô liên kết và thậm chí ung thư da [16]. Hầu hết ROS được tạo ra trong tế bào bởi chuỗi hô hấp của ty thể, nhưng trong điều kiện thiếu oxy sẽ tạo ra các oxide nitric (NO) và các gốc nitrogen hoạt động (RNS).
Các RNS tiếp tục tạo ra các chất hoạt động khác như malondialdehyde (MDA) bằng cách gây ra quá trình peroxide hóa lipid quá mức [17]. Cả những tổn thương protein và DNA hay stress oxy hóa do gốc tự do gây ra đều có thể khởi tạo các tín hiệu tiền viêm. Do đó, có thể nói tình trạng viêm và stress oxy hóa có mối liên hệ chặt chẽ với nhau [18]. Phản ứng viêm trên da Viêm là một cơ chế “bảo vệ vật chủ” được phát triển ở các sinh vật bậc cao để chống lại những thương tổn như nhiễm khuẩn và tổn thương mô.
Đây là một phản ứng miễn dịch thiết yếu của vật chủ cho phép loại bỏ các kích thích có hại cũng như chữa lành các mô bị chấn thương. Do đó, phản ứng viêm được coi là một phần của khả năng miễn dịch bẩm sinh và cũng là tuyến phòng thủ đầu tiên chống lại “những kẻ xâm lược” từ bên ngoài [19]. Con người đã biết đến 5 dấu hiệu điển hình của tình trạng viêm hàng trăm năm nay bao gồm nóng, đỏ, sưng, đau và mất chức năng [20, 21]. Viêm có thể chia làm 3 loại dựa trên thời gian phản ứng với các tác nhân gây viêm: Viêm cấp tính xảy ra ngay sau chấn thương và kéo dài khoảng vài ngày; Viêm mãn tính có thể kéo dài hàng tháng hoặc thậm chí nhiều năm nếu tình trạng viêm cấp tính không thuyên giảm; Viêm bán cấp tính là giai đoạn chuyển tiếp từ cấp tính sang mãn tính kéo dài từ 2 đến 6 tuần [21].
Trong giai đoạn cấp tính, bạch cầu, chủ yếu là bạch cầu hạt, di chuyển dọc theo gradient nồng độ đến vị trí tổn thương, được trung gian bởi các cytokine và protein cấp tính. Mục tiêu ở giai đoạn này là loại bỏ các kích thích viêm (tác nhân truyền nhiễm, vật chất lạ,…) hoặc các tế bào bị tổn thương và bắt đầu quá trình làm lành vết thương. Tình trạng viêm dai dẳng do tiếp xúc kéo dài với các kích thích viêm hoặc phản ứng không phù hợp với các phân tử tự thân có thể dẫn đến giai đoạn mãn tính.