CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU Cho đến đầu thế kỷ thứ XVIII, phương pháp mô tả và phương pháp đo đạc là hai phương pháp chủ yếu trong nghiên cứu nhân chủng học và giải phẫu học. Tuy vậy, càng ngày các nhà nghiên cứu càng nhận ra rằng các đặc điểm đo đạc tạo nên cơ sở để đánh giá một cách đầy đủ và có tính định lượng cao hơn cho các nghiên cứu hình thái. Ngày nay, việc đo đạc nghiên cứu trên người được hoàn thiện hơn cả về phương pháp thu thập số liệu lẫn ứng dụng các kết quả, kết hợp sử dụng các tiến bộ của khoa học và kỹ thuật máy tính 7. Đặc điểm hình thái và sự tăng trưởng của cung răng khuôn mặt 1.
Sự thay đổi của cung răng và khớp cắn theo tuổi ❖ Sự hình thành và phát triển của cung răng vĩnh viễn Các quá trình sinh học và phát triển không phải chỉ giới hạn trong thời kỳ phát triển phôi thai của mỗi cá thể: sự phát triển của răng từ tuần thứ năm của phôi và quá trình phát triển của cung răng diễn ra liên tục trong suốt cuộc đời. Từ khoảng 6 tuổi bộ răng sữa dần dần được thay thế bằng bộ răng vĩnh viễn. Quá trình hình thành bộ răng vĩnh viễn có thể được chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn bộ răng hỗn hợp và giai đoạn bộ răng vĩnh viễn. Giai đoạn trong miệng vừa có răng sữa vừa có răng vĩnh viễn được gọi là giai đoạn răng hỗn hợp.
Giai đoạn này thường kéo dài từ lúc 5,5 - 6 tuổi đến 11 - 12 tuổi. Ở mỗi giai đoạn, cung răng có những đặc trưng riêng biệt về hình thái, chức năng, về mức độ tăng trưởng và sự tương quan khác nhau. 4 Giai đoạn răng hỗn hợp là giai đoạn có nhiều thay đổi nhất. Sự biến đổi hướng mọc răng, sự loại bỏ khe hở giữa các răng, sự mòn răng theo thời gian và ảnh hưởng của cơ 8.
• Sự thay răng sữa bằng các răng vĩnh viễn Được tính từ lúc xuất hiện RHL1 và các răng sữa được thay thế bằng các răng vĩnh viễn. Kích thước của các răng vĩnh viễn (trừ răng hàm sữa thứ hai hàm trên và răng hàm sữa thứ nhất, thứ hai hàm dưới) đều lớn hơn kích thước răng sữa mà chúng sẽ thay thế, xem bảng 1. Khác biệt kích thước cung răng giữa răng sữa và răng vĩnh viễn Các răng Răng nanh, Tổng Cung răng cửa (mm) RHN (mm) (mm) Răng vĩnh viễn 31,6 43,0 74,6 Hàm Răng sữa 23,4 44,6 68,0 Trên Chênh lệch 8,2 -1,6 6,6 Răng vĩnh viễn 23,0 42,2 65,2 Hàm Răng sữa 17,4 47,0 64,4 dưới Chênh lệch 5,6 -4,8 0,8 Ở vùng răng cửa: Kích thước của các răng cửa vĩnh viễn lớn hơn kích thước của răng cửa sữa mà nó thay thế.1 cho thấy để có đủ chỗ cho bốn răng cửa vĩnh viễn (31,6 mm) thay cho bốn răng cửa sữa (23,4 mm) cung răng hàm trên phải phát triển dài thêm 8,2 mm. Tương tự như vậy đối với hàm dưới cung răng phải dài thêm 5,6 mm để chứa bốn răng cửa vĩnh viễn 23,0 mm thay cho bốn răng cửa sữa 17,4 mm.
Do vậy để đủ chỗ cho răng vĩnh viễn mọc, xương hàm bù trừ bằng cách: 5 - Cung xương ổ răng chủ yếu tăng trưởng theo chiều ngang, sự tăng trưởng ra trước không có ý nghĩa nhiều. Khoảng liên răng nanh tăng trong quá trình thay thế các răng cửa, theo Moorrees trung bình khoảng 3 mm. Hàm trên tăng rộng nhiều hơn hàm dưới; Nam tăng rộng nhiều hơn nữ 10. - Các khe linh trưởng giữa các răng cửa có trong quá trình hình thành cung răng sữa.
- Sự kéo dài cung răng do các răng vĩnh viễn thường mọc nghiêng ra phía môi. Chiều dài tăng khoảng 2,2 mm ở hàm trên và 1,3 mm ở hàm dưới. Khi răng cửa hàm dưới mọc, răng nanh sữa dịch chuyển nhẹ ra phía sau tại vùng khe hở linh trưởng, làm tăng chiều dài cung răng. Vì kích thước răng cửa vĩnh viễn lớn hơn răng cửa sữa, nên trong giai đoạn này để đủ chỗ cho răng cửa vĩnh viễn răng nanh sữa bị đẩy ra phía ngoài, làm tăng chiều rộng cung răng trong giai đoạn này.
Trong khi RHL1 mọc, có hiện tượng đóng các khe linh trưởng do sự di gần của các răng. Hiện tượng này đi cùng với hiện tượng tăng chiều dài cung răng do hiện tượng mọc về phía môi của các răng cửa vĩnh viễn so với các răng cửa sữa. Điều này làm cho chiều dài cung răng dưới không thay đổi. Tuy nhiên ở hàm trên các răng cửa trên mọc nghiêng về phía môi nhiều hơn nên làm tăng chiều dài cung răng, kết quả là chiều dài cung răng tăng.
Nhìn chung, răng RHL1 hàm dưới di gần nhiều hơn răng RHL1 hàm trên 11. Sự thay đổi kích thước cung răng sữa sang bộ răng vĩnh viễn11 a. Tăng chiều dài cung răng do các răng cửa nghiêng về phía môi; b. Tăng chiều dài (L) và giảm chu vi cung răng (C) 6 Ở vùng răng nanh và răng hàm sữa: Ngược lại với vùng răng cửa, khi răng sữa phía sau được thay thế bằng răng hàm nhỏ và răng nanh vĩnh viễn, chiều gần xa của răng hàm nhỏ vĩnh viễn nhỏ hơn chiều gần xa của răng hàm sữa mà nó thay thế 12.
Vì vậy, Nance (1947) lần đầu tiên đã đưa ra định nghĩa về khoảng leeway: đó là sự chênh lệch giữa tổng kích thước theo chiều gần-xa giữa răng nanh sữa, răng hàm sữa thứ nhất, răng hàm sữa thứ hai với tổng kích thước của các răng nanh vĩnh viễn, và các răng hàm nhỏ vĩnh viễn. Độ lớn của khoảng leeway được nhiều tác giả nghiên cứu và đưa ra cho riêng dân tộc mình 13. Trong lâm sàng chúng ta có thể lợi dụng khoảng leeway để ngăn chặn RHL1 dịch chuyển về phía trước, đồng thời dịch chuyển các răng phía trước ra sau để đóng kín khoảng này trong các trường hợp răng vẩu. • Sự thay đổi khớp cắn từ bộ răng sữa sang bộ răng vĩnh viễn Khớp cắn được xác định khi các răng hàm trên và hàm dưới lồng múi với nhau ở tất cả các vị trí của hàm dưới cũng như khi hàm dưới chuyển động; nó là kết quả của sự kiểm soát thần kinh - cơ đối với các thành phần của hệ nhai như răng, cấu trúc quanh răng, hàm trên, hàm dưới, khớp thái dương hàm cũng như các gân cơ kèm theo.
Khớp cắn bình thường là thể hiện khớp chạm bình thường của răng trên và dưới, nghĩa là chạm khớp răng tối đa. Sự phát triển khớp cắn từ bộ răng sữa sang bộ răng hỗn hợp phụ thuộc vào 2 yếu tố chính là: Cung răng sữa thuộc loại thưa hay khít. Mặt phẳng tận cùng của răng hàm sữa thứ hai. Do răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất (RHL1) mọc lên dựa theo chân xa răng hàm sữa thứ hai nên tương quan RHL1 phụ thuộc vào tương quan răng hàm sữa thứ hai (tùy thuộc vào sự phát triển tương quan của mặt phẳng tận cùng).
7 Răng hàm lớn thứ nhất mọc lên vào khoảng 6 tuổi và nó là chiếc răng vĩnh viễn đầu tiên mọc ra. Mối tương quan của RHL1 khi ở khớp cắn tiếp xúc ban đầu được biểu diễn bằng một trong 3 loại sau: Loại I: Múi gần - ngoài của RHL1 HT tiếp xúc hoặc rất gần với rãnh gần ngoài của RHL1 HD. Loại II: Múi gần - ngoài của RHL1 HT ở phía trước múi gần - ngoài của RHL1 HD. Loại III: Múi gần - ngoài của RHL1 HT ở phía xa so với rãnh gần ngoài của RHL1 HD 14.
Sơ đồ minh họa mối tương quan giữa mặt phẳng Chapman và sự thành lập khớp cắn răng hàm lớn thứ nhất theo Carlsen và Meredith 15 Cụ thể sự thay đổi của khớp cắn được diễn ra như sau: Những trẻ có tương quan răng hàm sữa thứ hai kiểu bước gần, RHL1 mọc lên vào thẳng khớp cắn loại I Angle (khớp cắn bình thường). Trẻ có HD phát triển sớm có thể có quan hệ bước gần ở răng hàm sữa và trở thành quan hệ loại I ở RHL1 giai đoạn đầu; sau đó quan hệ này có nhiều khả năng tiến triển thành quan hệ loại III. Mặt khác nếu HD không tiếp tục phát triển thì quan hệ bước gần sẽ trở thành quan hệ loại I sau này. 8 Những trẻ có mặt phẳng tận cùng kiểu phẳng ở giai đoạn sớm của hàm răng hỗn hợp, RHL1 mọc lên ở vị trí đối đầu: - Nếu cung răng dưới có khe hở linh trưởng, RHL1 mọc lên làm di gần răng hàm sữa thứ nhất và răng hàm sữa thứ hai, đóng kín khe hở linh trưởng (giữa răng hàm sữa thứ nhất và răng nanh), làm giảm chiều dài cung răng và răng RHL1 vào thẳng khớp cắn loại I (sự di gần sớm của RHL1 HD) (hình 1.
Răng 6 làm di gần RHS1 & 2 vào vị trí này Hình 1. Sự di gần sớm của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất 16 - Nếu cung răng HD không có khe hở linh trưởng hoặc khe hở linh trưởng quá nhỏ, RHL1 HT và HD sẽ giữ vị trí cắn đối đầu cho đến khi các răng hàm sữa thứ nhất và răng hàm sữa thứ hai được thay thế bởi các răng hàm nhỏ vĩnh viễn có kích thước theo chiều gần - xa nhỏ hơn. RHL1 sẽ di về phía gần trễ (muộn) trong giai đoạn sau của bộ răng hỗn hợp và răng trên cắn khớp bình thường với răng dưới. Răng 6 hàm dưới di Kiểu phẳng Loại I chuyển vào vị trí này Hình 1.
Sự di gần muộn của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất 16 9 - Cung răng trên có khe hở, cung răng dưới không có khe hở và RHL1 hàm trên mọc trước RHL1 HD. RHL1 HT di gần, đóng kín khe hở, RHL1 HD mọc lên sẽ vào khớp cắn loại II Angle vì không thể di gần được do cung răng dưới không có khe hở giữa các răng. Trường hợp này trẻ cần được theo dõi và điều trị kịp thời trường hợp vẩu hàm trên. Khi răng hàm sữa thứ hai có tương quan bậc phía xa và nhất là khi cung răng trên thuộc loại có khe hở, và cung răng dưới thuộc loại không có khe hở, RHL1 mọc lên sẽ vào khớp cắn loại II Angle.
Những trường hợp này cần thiết phải theo dõi và điều trị vẩu răng trên. Nếu không có mất khoảng do sâu hay do nhổ răng hàm sữa sớm thì khớp cắn loại II về răng cũng có thể là thể hiện của khớp cắn loại II về xương. Sự mọc lên của RHL1 làm thu ngắn cung răng trong loại hàm có khe hở và khi răng RHL1 hàm trên và dưới đã ăn khớp với nhau thì không còn sự thay đổi trong mối tương quan theo chiều trước - sau của răng nanh sữa nữa.