ĐẶT VẤN ĐỀ Thalassemia là một bệnh lý di truyền phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam [1], [2], [3]. Nguyên nhân gây bệnh là do sự mất cân bằng của chuỗi globin, các chuỗi globin bị dư thừa dẫn đến sinh hồng cầu không hiệu quả, thiếu máu, biến dạng xương và tăng hấp thu sắt từ đường tiêu hóa [4]. Hiện nay, truyền máu và thải sắt sớm, định kỳ là phương pháp điều trị chính, hiệu quả nhất và có thể cải thiện được chất lượng sống cho bệnh nhân (BN) thalassemia [1]. Truyền máu nhiều lần là một trong những nguyên nhân chính sinh ra kháng thể bất thường (KTBT), dẫn đến phản ứng (PƯ) truyền máu và truyền máu không hiệu quả cho BN.
Khi BN có KTBT thì việc tìm kiếm các đơn vị máu tương thích rất khó khăn, có thể gây chậm trễ truyền máu cho BN ở những lần truyền máu tiếp theo do không tìm được đơn vị máu hòa hợp. Truyền máu hòa hợp kháng nguyên hồng cầu (HHKNHC) là một biện pháp tối ưu giúp giảm tỷ lệ sinh KTBT, hồng cầu (HC) người cho truyền vào s được tồn tại trong lòng mạch mà không bị phá hủy bởi các KTBT, nhờ vậy s giúp cho BN giảm được cả số lần truyền máu, số lần vào viện và tình trạng ứ sắt do truyền máu [1], [5]. Hiện nay, truyền máu HHKNHC cho BN thalassemia đã và đang được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới. Tại Mỹ, tác giả Daniel đã thực hiện một nghiên cứu kéo dài 13 năm (từ 1993 đến 2006) để đánh giá hiệu quả của việc truyền máu HHKNHC trên BN thalassemia và BN bị bệnh lý huyết sắc tố tại Colorado; Tác giả đã cho thấy: những BN được xác định nhóm máu hệ ABO, hệ Rh (D, C, c, E, e), hệ Kell (K, k), hệ Duffy (Fya, Fyb), hệ Kidd (Jka, Jkb), hệ Lewis (Lea, Leb), hệ MNS (M, N, S, s) và thực hiện truyền máu hòa hợp những kháng nguyên (KN) của các hệ nhóm máu này thì chỉ có 3,85% BN sinh KTBT, giảm 50% so với nhóm BN chỉ được truyền máu hòa hợp nhóm máu hệ ABO, Rh(D) ở giai đoạn trước đó [6].
Nghiên cứu của tác giả luan an 2 Ameen và các đồng nghiệp (2009) tại Ả rập cũng đã cho thấy BN được truyền máu hòa hợp KN của hệ Rh (D, C, c, E, e) và Kell (K) thì thấy tỷ lệ sinh KTBT là 23,6% thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm BN chỉ được truyền máu hòa hợp nhóm máu hệ ABO và Rh(D) [7]. Tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương (HHTMTW), với sự ra đời của ngân hàng máu dự bị vào năm 2007 đã cung cấp cơ sở dữ liệu để lựa chọn những người hiến máu có kiểu hình (KH) phù hợp, từ đó sản xuất được các bộ panel hồng cầu sàng lọc và định danh KTBT cung cấp cho toàn quốc giúp đảm bảo an toàn truyền máu về mặt miễn dịch cho người bệnh. Cũng nhờ có ngân hàng máu dự bị mà việc lựa chọn và truyền máu HHKNHC cho BN thalassemia đã bắt đầu được thực hiện từ năm 2011 và ngày càng được mở rộng. Với việc thực hiện đầy đủ xét nghiệm sàng lọc, định danh KTBT trước truyền máu và lựa chọn, truyền máu HHKNHC cho BN, tỷ lệ KTBT ở BN thalassemia đã giảm rõ rệt, cụ thể: tỷ lệ KTBT ở BN thalassemia giai đoạn 2009 – 2011 là 13,8% [8], giai đoạn 2011-2013 là 10,6% [9], giai đoạn 2013 – 2015 là 5,7% [10] và bước đầu đã mang lại kết quả điều trị cho người bệnh.
Để đánh giá một cách đầy đủ hiệu quả của phương pháp này, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu hiệu quả truyền máu hòa hợp một số kháng nguyên nhóm máu hồng c u ở bệnh nhân thalassemia tại Viện HHTMTW” với hai mục tiêu sau: 1. Xác định tỷ lệ kháng nguyên hồng cầu của một số hệ nhóm máu ABO, Rh, Lewis, Kell, Kidd, MNS, Lutheran, Duffy, P1PK ở bệnh nhân thalassemia tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương. Phân tích kết quả lựa chọn và hiệu quả truyền máu hòa hợp một số kháng nguyên hồng cầu cho bệnh nhân thalassemia. luan an 3 Chƣơng 1.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm một số hệ nhóm máu hồng cầu và ý nghĩa lâm sàng Năm 1900, nhà bác học vĩ đại Karl Landsteiner (1868 - 1943) đã phát hiện ra hệ nhóm máu ABO, đây là hệ nhóm máu đầu tiên được phát hiện ở người và cũng là hệ nhóm máu đóng vai trò quan trọng nhất trong thực hành truyền máu [5], [11], [12], [13]. Năm 1940, hệ nhóm máu Rh đã được Karl Landsteiner, Alex Wiener, Philip Levine, R. Stetson, Mourant phát hiện.
Sự phát hiện ra nhóm máu hệ Rh đã lý giải được nguyên nhân của phần lớn các PƯ truyền máu trước đó mặc dù BN đã được truyền máu hòa hợp nhóm máu hệ ABO. Sự phát hiện ra hệ nhóm máu Rh cũng đã giải thích được cơ chế gây bệnh vàng da tan huyết ở trẻ sơ sinh là do bất đồng nhóm máu hệ Rh giữa mẹ và thai nhi [11], [12], [13]. Những năm tiếp theo, nhiều hệ thống nhóm máu HC đã lần lượt được phát hiện như: hệ Kell (1946), hệ Lewis (1946), hệ Duffy (1950), hệ Kidd (1951)… Đặc biệt, những năm gần đây, với sự phát triển rất mạnh m của khoa học công nghệ, với những tiến bộ vượt bậc trong lĩnh vực sinh học phân tử mà nhiều hệ nhóm máu mới đã được phát hiện như Forssman, Junior, Langereis, Vel và CD59 [5]. Tại thời điểm tháng 6 năm 2021, Hội Truyền máu quốc tế (ISBT) đã công nhận có 43 hệ thống nhóm máu với 376 kháng nguyên hồng cầu khác nhau [14].
Một hệ thống nhóm máu được gọi là có ý nghĩa lâm sàng khi kháng thể (KT) của nó gây giảm đời sống của HC người cho trong lòng mạch của người bệnh và có bằng chứng của việc tan máu hoặc gây bệnh vàng da tan huyết ở thai nhi và trẻ sơ sinh [15], [16], [17]. Dưới đây là một số hệ thống nhóm máu HC được coi là có ý nghĩa quan trọng trong thực hành truyền máu. Hệ nhóm máu ABO Là hệ thống nhóm máu đầu tiên được phát hiện ở người và là hệ thống nhóm máu quan trọng nhất trong thực hành truyền máu. Hệ nhóm máu ABO gồm có bốn nhóm chính là: nhóm A, nhóm B, nhóm AB và nhóm O [5], [12].
Kháng nguyên của hệ ABO thường xuất hiện sớm khi bào thai được từ 5 đến 6 tuần tuổi, nhưng phải từ 2 đến 4 tuổi thì các KN này mới được phát triển hoàn thiện. Các KN của hệ nhóm máu ABO có tính ổn định, có thể yếu đi ở người già và trong một số trường hợp bệnh lý như lơ xê mi cấp, u lympho… [11], [12], [13], [18], [19]. Kháng thể chống A và chống B của hệ ABO là KT tự nhiên, có bản chất là IgM. Các KT này xuất hiện ở cá thể ngay sau khi sinh và tăng dần hiệu giá, đạt mức cực đại khi trẻ từ 5 đến 10 tuổi, sau đó ổn định và đến già thì giảm dần hiệu giá.
Kháng thể miễn dịch chống A và chống B có thể gặp trong những trường hợp có bất đồng nhóm máu mẹ con hoặc do truyền nhầm nhóm máu hệ ABO [11], [12], [13], [18], [19]. Hệ nhóm máu ABO là hệ nhóm máu quan trọng nhất trong thực hành truyền máu. Hậu quả của truyền nhầm nhóm máu hệ ABO là rất nghiêm trọng. Hồng cầu của người cho có thể bị ngưng kết trực tiếp bởi các KT có sẵn trong huyết thanh của người nhận và với sự có mặt của bổ thể s gây tan máu cấp trong lòng mạch.
Nếu không được xử trí kịp thời có thể nguy hiểm đến tính mạng người bệnh [12], [13], [18], [19]. Hệ nhóm máu Rh Hệ nhóm máu Rh là hệ thống nhóm máu quan trọng thứ hai trong thực hành truyền máu, chỉ đứng sau hệ nhóm máu ABO. Cho đến nay đã có khoảng 55 kháng nguyên khác nhau của hệ nhóm máu Rh đã được phát hiện, 5 kháng nguyên quan trọng nhất của hệ Rh là D, C, c, E, e. Các kháng nguyên D, C, c, E, e của hệ Rh đều có khả năng gây miễn dịch tạo ra các KT tương luan an 5 ứng, tuy nhiên tính sinh miễn dịch của kháng nguyên D là mạnh nhất [12], [18], [19], [20].
Kháng thể của hệ nhóm máu Rh hầu hết là KT miễn dịch, có bản chất là IgG. Trên lâm sàng, các KT của hệ Rh có thể gây PƯ tan máu mức độ nặng do truyền máu không hòa hợp hoặc có thể gây bệnh vàng da tan máu ở trẻ sơ sinh mức độ nặng khi giữa mẹ và con có sự bất đồng các KN của hệ Rh [12], [18], [19], [20]. Hệ nhóm máu Lewis Các KN của hệ Lewis không được sinh tổng hợp từ tế bào HC, các KN này được tạo ra bởi các tế bào của tổ chức và được tiết vào các dịch của cơ thể và huyết tương, sau đó được hấp phụ lên màng hồng cầu [13], [21]. Các KT của hệ Lewis thường có bản chất IgM, thích hợp hoạt động ở dải nhiệt độ từ 40C đến 220C [13], [21].
Đây là hệ nhóm máu ít có ý nghĩa lâm sàng, tuy nhiên trong một số trường hợp, kháng thể của hệ Lewis có thể gắn với bổ thể và gây tan máu ở mức độ nhẹ. Kháng thể của hệ Lewis hiếm khi gây bệnh vàng da tan huyết ở trẻ sơ sinh trong trường hợp có bất đồng hệ nhóm máu hệ Lewis giữa mẹ và con [19], [13], [21]. Hệ nhóm máu Kell Hiện nay người ta đã phát hiện được 35 kháng nguyên khác nhau của hệ nhóm máu Kell, trong đó 2 kháng nguyên chính của hệ Kell là K và k, đây là hai KN có ý nghĩa nhiều trong thực hành truyền máu. Kháng nguyên K và k có tính sinh miễn dịch cao và dễ bị phá hủy bởi nhiệt.
Kháng nguyên K gặp với tỷ lệ khoảng 10% ở người da trắng, rất hiếm gặp ở người châu Á và Việt Nam [19], [20], [22], [23], [24], [25], [26]. Kháng nguyên k là một KN có tần suất xuất hiện cao gặp với tỷ lệ 99,8% ở người da trắng và 100% ở người Việt Nam [19], [20], [22], [23], [24], [25], [26]. Kháng thể chống K có bản chất là IgG, là KTBT gặp phổ biến ở người luan an 6 châu Âu, nhưng rất hiếm gặp ở người Đông Nam Á và Việt Nam. Kháng thể chống k có đặc tính giống với KT chống K nhưng rất hiếm gặp.
Kỹ thuật tốt nhất để phát hiện KT này là kỹ thuật kháng globulin gián tiếp [19], [20], [22].