MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là một nước nông nghiệp với diện tích trên 7,8 triệu hecta lúa. Trong năm 2015 đã đạt sản lượng 45,2 triệu tấn thóc (Niên giám thống kê, 2015). Theo báo cáo của Hiệp hội Lương thực Việt nam (VFA), mùa vụ năm 2011 và 2012 lượng gạo xuất khẩu của nước ta đạt mức kỷ lục 7,1 triệu tấn với tổng kim ngạch xuất khẩu lên đến trên 3,5 tỷ USD (Cục xúc tiến thương mại , 2012).
Tuy nhiên, theo Tổ chức Nông Lương Quốc tế (FAO), viễn cảnh xuất khẩu gạo của thế giới (trong đó có Việt Nam) trong những năm qua rất ảm đạm. Tình hình đó dẫn tới một nghịch lý là trong khi sản lượng lúa sản xuất trong nước đang dư thừa, xuất khẩu gặp nhiều khó khăn nhưng hàng năm chúng ta vẫn phải nhập gần 9 triệu tấn nguyên liệu chủ yếu là các nguyên liệu thức ăn già u năng lượng (3,9 triệu tấn) và thức ăn giàu protein (4,8 triệu tấn) để làm thức ăn chăn nuôi (Cục Chăn nuôi , 2012). Hiện nay Việt Nam đang đứng thứ 17 trong 20 quốc gia sản xuất thức ăn chăn nuôi lớn nhất thế giới (VIRAC JSC, 2016). Năm 2015, sản lượng sản xuất thức ăn chăn nuôi (TĂCN) của nước ta đạt 15,8 triệu tấn, tăng hơn so với năm 2014, trong đó sản lượng TĂCN do doanh nghiệp có vốn nước ngoài (FDI) sản xuất chiếm tới 60%, doanh nghiệp nội địa chỉ chiếm 40%.
Về cơ cấu thức ăn theo vật nuôi, thức ăn cho gia súc chiếm tới 60% sản lượng, đứng thứ 2 là thức ăn cho thủy sản, thức ăn cho vật nuôi làm cảnh chiếm tỷ trọng không đáng kể (chưa đến 1%). Ở nước ta chăn nuôi lợn là ngành quan trọng nhất, sản xuất trên 75% tổng lư ợng thịt của cả nước. Trong tổng số hơn 15,8 triệu tấn thức ăn công nghiệp sản xuất/năm có đến 60% là thức ăn hỗn hợp và đậm đặc cho lợn (VIRAC JSC, 2016). Vì vậy, nghiên cứu về thức ăn cho lợn 1 nói chung cũng như nguyên liệu để sản xuất thức ăn cho lợn nói riêng là vô cùng quan trọng và cấp bách trong giai đoạn hiện nay.
Theo Bộ Công Thương, so với các nước trong khu vực giá thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam luôn cao hơn khoảng 15 đến 20%, dẫn đến các sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam khó cạnh tranh. Các nguyên nhân dẫn đến giá thức ăn chăn nuôi trong nước luôn cao là do ngành thức ăn chăn nuôi nội địa phụ thuộc phần lớn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu dẫn đến rủi ro lớn về biến động giá và tỷ giá, đẩy giá thức ăn chăn nuôi tăng cao (VIRAC JSC, 2016). Trong khi đó sản lượng thóc sẵn có chưa được quan tâm đúng mức như nguồn nguyên liệu dùng để sản xuất thức ăn chăn nuôi , ngoại trừ cám và một phần tấm. Lượng thóc được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi ở nước ta vẫn rất khiêm tốn.
Lý do là gì ? Những vướng mắc thuộc về kỹ thuật (thành phần dinh dưỡng, tỷ lệ tiêu hoá, tỷ lệ sử dụng trong các khẩu phần thức ăn cho vật nuôi) hay hiệu quả kinh tế (mức độ sẵn có về lượng, ưu thế về giá so với các nguyên liệu thức ăn giàu năng lượng khác…vv). Đề tài này được tiến hành nhằm góp phần khắc phục những tồn tại, những nghịch lý về nguyên liệu thức ăn chăn nuôi ở nước ta, hướng tới việc sử dụng tốt và có hiệu quả nguồn thức ăn sẵn có cho chăn nuôi lợn. Mục tiêu đề tài Xác định được tỷ lệ sử dụng thóc và gạo lật tối ưu trong thức ăn hỗ n hợp cho các đối tượng lợn. Đánh giá được hiệu quả kinh tế của việc sử dụng thóc và gạo lật làm thức ăn chăn nuôi lợn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu Thóc và gạo lật được sử dụng ở các tỷ lệ khác nhau. 2 Lợn nái, lợn con sau cai sữa và lợn thịt. Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu được thực hiện để đánh giá thành phần và giá trị dinh dưỡng của 2 loại nguyên liệu: thó c và gạo lật thuộc giống lúa IR5004 và xác định tỷ lệ sử dụng thích hợp của chúng trong khẩu phần cho các đối tượng lợn như lợn nái mang thai, lợn nái tiết sữa, lợn con sau cai sữa và lợn nuôi thịt.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung cơ sở dữ liệu về thành phần hóa học, tỷ lệ tiêu hóa , giá trị năng lượng và tỷ lệ tiêu hóa axit amin (SID) của thóc và gạo lật dùng làm thức ăn nuôi lợn ở Việt Nam và bách khoa toàn thư về TĂCN thế giới (Feedipedia. Kết quả nghiên cứu của luận án là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo và tài liệu giảng dạy cho các cơ sở đào tạo chuyên ngành. Ý nghĩa thực tiễn - Tạo được cơ sở dữ liệu của thóc, gạo lật để xây dựng khẩu phần tối ưu trong sản xuất thức ăn chăn nuôi lợn công nghiệp ở Việt Nam.
- Kết quả nghiên cứu của luận án là dữ liệu giúp các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi và các cơ sở chăn nuôi lợn tham khảo trong việc sử dụng hiệu quả thóc và gạo lật trong khẩu phần thức ăn nuôi lợn. - Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ làm cơ sở khoa học cho việc đẩy mạnh tiêu dùng thóc nội địa, tạo thị trường thóc ổn định cho người nông dân, góp phần không nhỏ trong việc tạo công ăn việc làm, phát triển nông thôn mới và ổn định kinh tế vĩ mô. Những đóng góp mới của luận án - Đây là một công trình nghiên cứu cơ bản có tính hệ thống từ trước tới nay, từ đánh giá giá trị dinh dưỡng đến giá trị nuôi dưỡng trên lợn đối với thóc và gạo lật, hai loại nguyên liệu sẵn có nhưng được sử dụng rất hạn chế trong chăn nuôi ở nước ta. - Kết quả nghiên cứu của luận án đã tạo ra được bộ cơ sở dữ liệu về thành phần hóa học, giá trị dinh dưỡng và đặc biệt là hệ s ố tiêu hóa hồi tràng tiêu chuẩn các axit amin của thóc và gạo lật thuộc giống lúa IR50404 dùng làm thức ăn cho lợn lần đầu tiên được công bố ở Việt Nam.
- Đây cũng là công trình nghiên cứu hiếm có ở nước ta đưa ra được khuyến cáo về tỷ lệ sử dụng thóc và gạo lật thích hợp trong khẩu phần cho lợn nái, lợn con sau cai sữa và lợn thịt. - Luận án cũng đưa ra những phân tích chi tiết về hiệu quả kinh tế của việc sử dụng thóc và gạo lật trong chăn nuôi lợn. Đây là căn cứ tốt cho các chính sách quản lý của nhà nước liên quan đến nguyên liệu và sản xuất thức ăn chăn nuôi ở nước ta. 4 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Chất xơ trong khẩu phần và khả năng tiêu hoá chất xơ trong thức ăn của lợn 2. Khẩu phần chứa xơ và các thành phần xơ Khái niệm “xơ khẩu phần” được Hipsley sử dụng năm 1953 (De Vries et al, 1999) dùng cho “phần không tiêu hóa có cấu tạo từ vách tế bào thực vật”. Tuy nhiên các định nghĩa khác nhau đã được đưa ra và sử dụng trong suốt thời gian dài và bây giờ nó đã được nhận diện một cách chính xác là “xơ khẩu phần” (DF). Tuy nhiên khía cạnh quan trọng trong định nghĩa này là “xơ khẩu phần” chứa CHO (carbohydrate) mà chúng có thể tiêu hóa được bằng các enzym nội sinh của vật nuôi (AACC, 2001).
Nhìn chung DF bao gồm thành phần vách tế bào thực vật như xơ, hemixelluloses, chúng liên kết với nhau như β -glucan (βG), pectins, chất kết dính và chất nhầy (Davidson and McDonald, 1998). Lignin là thành phần phenolic cũng có trong xơ cũng là thành phần vách tế bào thực vật gây ảnh hưởng lớn nhất đến khả năng tiêu hóa thức ăn thự c vật (Theander et al, 1989). Từ quan điểm sinh lý, phần đường không có nguồn gốc tinh bột (n on-starch polysaccharides-NSP), các đường không tiêu hóa (non-digestible oligosaccharides) và kháng tinh bột (resistant starch-RS) nằm trong cấu trúc khẩu phần chứa chất xơ , chúng không bị các enzym nội sinh thủy phân và sau đó chúng trở thành cơ chất sẵn có cho vi khuẩn trong đường ruột lên men (Cummings JH and Stephen AM, 2007). Các nguồn xơ và vấn đề cần quan tâm khi sử dụng xơ trong khẩu phần nuôi lợn Nguồn gốc xơ và các thành phần của chúng trong khẩu phần được tiêu hóa trong ruột già ở mức độ khác nhau (Chabeauti et al , 1991).
Cấu trúc lý - 5 hóa của các nguồn xenlulo trong khẩu phần có thể tạo ra những thay đổi môi về trường trong đường ruột và làm thay đổi sự phát triển vi khuẩn đường ruột. Các thành phần thức ăn trong khẩu phần nuôi lợn phụ thuộc vào một số yếu tố như cấu trúc xenlulo, mức độ vi khuẩn lên men trong ruột già, khả năng hòa tan và sử dụng các axit béo bay hơi được sản sinh (Molist et al , 2014). Các nguồn xenlulo được lên men trong đường ruột sản sinh VFA, chúng có ảnh hưởng tích cực đến sức khỏe đường ruột (Lindberg , 2014). Wellock et al.
(2007) nhấn mạnh rằng lợi ích mang lại cho sức khỏe đường tiêu hóa của các khẩu phần chứa nhiều nguồn NSP hòa tan tốt hơn so với NSP không hòa tan. Xenlulo hòa tan bao gồm pectins, βG, chất kết dính và hemixelluloses, trong khi đó xenlulo và lignin lại là phần đóng góp vào cấu trúc của phần xenlulo không hòa tan (Davidson and Mc Donald, 1998). Do đó, chúng là yếu tố quan trọng cần được hiểu biết về nguồn và loại xenlulo cung cấp trong các khẩu phần nuôi lợn. Cần quan tâm và thúc đẩy trong việc xác định đặc tính của những thành phần nguyên liệu sử dụng trong phối trộn thức ăn.
Nhiều loại sản phẩm sử dụng trong phối trộn thức ăn chứa các loại ngũ cốc giàu đạm, chiết xuất và các sản phẩm chiết xuất dầu công nghiệp (như các loại hạt có dầu) và bột xay xát (cám và các sản phẩm xay xát) và các nguồn xenlulo khác. Các loại ngũ cốc và các sản phẩm của chúng là những thành phầ n chủ yếu và cũng là nguồn năng lượng chính trong khẩu phần nuôi lợn. Khẩu phần gồm các loại ngũ cốc chủ yếu là NSP, βG, xenlulo và thành phần không phải là carbohydrate chứa lignin (Bach Knudsen, 2014). Hơn nữa có một lượng nhỏ cơ chất của pectin được tìm thấy ở thân và lá các loại ngũ cốc (Choct , 1997).