CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ HOAT ĐỌNG CUA HE THONG THỦY NONG 1.1, TINH Hi NGHIÊN CUU TREN THE GIỚI 1. Tình hình phát triển nông nghiệp tưới Thân loại đã bước qua thé XX với nhiễu thành tựu v đại trong nhiễu inh vực mà trong đó phải kẻ tới sự phát triển nền nông nghiệp tưới đã bảo đảm sự sống cho loài người. Bước vào thé ky XXI nhân loi sẽ phải đổi mặt với nhiều thảch thức, tỉnh trạng khan hiếm nước, tác động của biến đổi khí hậu và an ninh lương thực.đỏi hỏi các hệ thống thủy nông phải gánh vác các nhiệm vụ ngày càng nặng. Điều đó dai hỏi mỗi quốc gia phải cổ gắng, nỗ lực trong một hành động chung, nhằm đảm bảo cho sự phát triển một nền nông nghiệp ổn định, bền vững của toàn thé giới Nong nghiệp có tưới thé kỷ XX đã tùng phát triển với nhịp điệu nhanh.
Nam 1900, điện tích tưới trên thé giới là 40 triệu hecta, đến năm 1950 đạt 96 triệu hecta, tăng 2,4 lần. 1950-1970 là thời kỳ tăng nhanh: Năm 1970 lên tới 235 triệu hect, tăng bình quân gan 7 triệu hecta mỗi năm. Các năm tiếp theo, nhịp điệu tăng chậm. lại: Thời kỳ 1970-1980, bình quân mỗi năm tăng 3 iệu hecta, nâng tổng diễn tích được tưới đến đầu năm 1980 là 26 triệu hecta.
Từ 1980 đến 1987, tốc độ tăng binh quân chỉ côn 2. Nguyên nhân chính là do cúc ving đất dễ khai thác không còn nhiều, phải tìm kiểm ở những cũng khó khăn, có nguồn nước hạn chế, cho nên suất đầu tư ngày cảng cao. Tuy vậy, theo đánh giá của nhiều chuyên sia năng phát iển tưới th giới vẫn côn nhiễu, Song, đều quan trọng hơn là cần phải thực thi các biện pháp đồng bộ và có hiệu quả dé khai thác tốt các vùng đất được tưới, phát triển nỀn nông nghiệp tưới bền vững, Vẫn còn đó, bai học lịch sử lớn về sự suy tàn của những nền văn mình sớm phát triển của nhân loại tại một số Te vgn: Nguyen Th Hoa Sim Trường Đại học Thủy lợi 2 Lugn van Thạc sĩ kỹ thuật quốc gia có tưới, mà người ta cho rằng sự hủy hoại của các hệ thống tưới là một nguyên nhân của sự suy tàn đó. "Nhìn lại nông nghiệp thé ky XX, theo một đánh giá của Tổ chúc lương thực và nông nghiệp của LHQ (FAO), nước tưới và phân bón là hai yêu tổ quyết định bảng đầu làm cho tốc độ tăng sản lượng lương thực vượt que tốc độ tăng dân số thé giới “rong hai thập kỷ 70 và 80, mức tăng bình quân của dân số th giới là 1,76%, còn sản lượng lương thực tăng 2,46%, trong đó 2,19% là do tăng năng suất cây trồng, ‘Ty lệ đồng góp bình quân của các yêu tổ lam tăng sản lượng lương thực ở một số nước châu 4 (Trung Quốc, Thái Lan, Inđônêsia, Philippin, Mién Điện, Srilanca, Bangladét) như sau: Nước; 28,8%, phân bốn 24,4%, giống: 23,3%, các yế tổ khác = 33.
Song, bản thân việ tưới nước cho đất, ngoài các mặt tích cực ra, cũng id ting nguy cơ làm thoái hóa dit, Theo số liệu cũa FAO, hơn 80 t hecta đất được tưới bị ảnh hưởng mặn ở những mức độ khác nhau, hơn 30 triệu hecta dắt được tưới bị mặn de dọa nghiêm trọng, va hàng năm có thêm khoảng 1,5 triệu hecta đất được tưới bị hủy hoại vĩ ứng và nhiễm mặn. Một số nước 6 tỷ ệ đắt được tưới bị nhiễm mặn cao như Mỹ (28%), Trung Quốc (23%), Pakistan (21%). luôn nhắc nhờ các quốc gia chẳng những cần vận hành và bảo đường tốt các hệ thẳng tưới, mã còn không được coi nhẹ một chút nào việc tiêu nước hợp lý cho dắt được tưới 1. Xu hướng quân lý nước để đâm bảo phát triển bin vững Theo FAO, nếu công ức quản lý nước như 50 năm vừa qua được duy trì th áp lực đến tài nguyên thiên nhiên sẽ giảm di, trong khi đó sử dụng nước cho các lĩnh vue khác ngoài nông nghiệp sẽ lại tăng lên.
Việc tăng sử dụng nước cho sản xuất nông nghiệp trong thời gian vừa qua đã đưa ra kết luận về việc đầu tư một cách chiến lược là không chỉ tập trung vào cơ sở hạ ting của hệthng tưới, mà củ trong nghiên cứu nông nghiệp và khuyến nông. Dé đáp ứng những thách thức trong tương. Iai, đầu tư cho nông nghiệp phải được xem xét lại và xây dựng chiến lược tổng thể bao gồm nghiên cứu, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, nâng cao năng lực cho những, người sử dung nước, và diy mạnh thương mại nông nghiệp trên toàn. Te vgn: Nguyen Th Hoa Sim Trường Đại học Thủy lợi 1B Lugn van Thạc sĩ kỹ thuật Có nhiều ý kiến đưa ra định nghĩa về quản lý tưới song định nghĩa được nhiều người nhắc tới là: "Quản lý tưới là quá trình mà tổ chức hoặc cá nhân đưa ra các mục tiêu cho một hộ thống tưổi, từ đổ thiết lập nên các điều kiện thích hợp, huy ‘dong các nguồn lực khác nhau để đạt mye tiêu đã để ra mà không gây ra những tác động xấu nào " Tiến sĩ Mark Svedsen — n quản lý nước quốc.
Š (WMI) cho ring: "Không có bộ phận nào của công trình ha ting bảo đảm chức năng làm việc quá một vài năm trừ khi có một tổ chức vận hành, duy tu và nâng cắp nó". Sự thành công của hệ: thống thuỷ lợi ein cả bai yếu tổ "Phin cứng” và "Phin mm". Phần cứng ở đây gdm công trinh đầu mỗi, hệ thống kênh mương, công tỉnh điều tit va ác trang thiết bị Phin mém ở đây là công tác quản lý. Một rong hai phần trên sẽ trở nên vô dụng nếu không có phần kia.
Tuy nhiễn, công tắc quản lý nước trong thể ky mới không chi đơn giản phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, Trong khi mục tiêu cụ thé là cung cấp nước cho cây trồng một cách đầy đủ với mức độ tin cậy hơn, quản lý nước luôn có những tic động có ý nghĩa đến các hoạt động kinh té tinh bền vũng về mỗi trường và đảm bảo súc khoẻ con người. Cũng như ngành công nghiệp, nông nghiệp cũng phải lâm giảm các tác động bit lọ từ bên ngoài, đặc iệt là các ác động liên quan đến sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu. Cae liên quan đến môi trường phái là một phần trong sử dung và quản lý nước. Khai thác nước sông và nước hỗ và xây dụng các công nh tưới luôn chiếm chỗ của đất ngập nước tự nhiên, mà bản thân nó là thành phần có khả năng sản xuất hàng hoá cao của hệ thống sinh thái nông nghiệp.
Vấn để tiêu nước dẫn đến suy giảm chất lượng nước, ting các bệnh liên quan đến dùng nước, và suy thoái chất lượng đất do úng ngập và nhiễm mặn. Để giảm các tác động này việc quản lý nước cần phải dựa vào chiến lược dánh giá môi trường và phân tích chi phí: lợi ich, quan môi trường và sự thống nhất trong quản lý tưới, Tuy nhiên cần phải công nhận là quản lý nước đem lại nhiều kết quả tốt tăng khả năng phát tiễn kính têư xã hội của toàn bộ khu vực nông thôn, mặc dù phát iển xã hội cần thiết quản lý hệ thông tưới và mở rộng cơ x hạ ng giao thông và thị trường để bán sản phẩm. Cá t Te vgn: Nguyen Th Hoa Sim Trường Đại học Thủy lợi in Lugn van Thạc sĩ kỹ thuật động môi trường tích cục của tưới bao gồm tạo ra hệ thống đất ngập nước nhân tạo, thay đổi vi khí hậu và đa dang sinh bọc, 114. inh hình nghiên cứu và đánh giá hiệu quả tưới trên thể giới Nhiều năm qua, đã có nhiễu nghiên cứu và đán giá hoạt động của hệ thống thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Kết quả cho thấy, hiệu quả tưới ở hẳu hết ce hệ thống thuỷ loi chỉ đạt khoảng 45-50%. Hầu hết các hệ thống thuỷ lợi không thu được đầy đủ thuỷ lợi phí để chỉ cho công tác quản lý vả duy tu bảo dưỡng công. Chính vì vây mà cơ sở hạ ting của các hệ thống thuỷ lợi cảng ngày căng bị xuống cấp, và dẫn đến hiệu quả tưới ngày cảng giảm di, Ngân hàng Thể giới, Ngân hàng phát triển châu A và một số nước đã đầu tr xây đựng, cải tạo và ning cấp nhiều hệ thống thuỷ lợi lớn. Xuất phát từ việc đánh giá hiện trạng hoạt động của các, hệ thống, đã có nhiễu ý kiến khác nhau vé việc có nên đầu tr xây dựng các thuỷ lợi mới hay nâng cấp, hiện đại hóa các hệ thống đã cổ.
Ai cũng nhận thấy sự cẩn thiết phải đầu tư nhiều hơn cho hệ thống thuỷ lợi, cả đầu tư xây dựng hệ thong mới, củi tạo hoặc hiện đại hoá hệ thống hiện có, nhưng nên đầu tr như thể nào. Đồi với hệ thống thuỷ lợi, nếu chỉ đánh giá hoạt động hệ thống bằng một số chỉ tiêu như. trước đây thì chưa thé đảnh giả diy đủ được hiện trang, công tác vận hành và hiệu «qua hoạt động của hệ thống Chuyên gia về mỗi trường có thể quan tâm đến dòng chảy trên sông, kênh và ngăn chặn sự suy giảm khối lượng và chit lượng nu 3 Chuyên gia xã hội có thể quan tâm nhiều về vấn dé xã hội; Chuyên gia kinh tế có thé chỉ quan tâm đến hiệu. qua đầu tư, trong khi nhà nông học có th tập trung vio năng suất cây trồng trên mỗi heeta, v.
Vay hiệu quả hoạt động là gi? và hiểu như thể nào cho đúng? Khi chúng ta nói một hệ thống hoạt động yếu kém, không đạt yêu cầu hay hoạt động hiệu quả là có ham ý như thé nào? Hiệu quả hoạt động đã được định nghĩa theo một số cách khác. Small và Svendsen (1990) đưa ra một định nghĩa khá rộng về hiệu quả hoạt động hệ thông thuỷ nông: “Bao gồm tổng thể các hoạt động (tiép nhận các yếu tổ đầu vào và chuyển đổi các yêu tổ đô thành sin phẩm đầu ra trung gian hay thành Te vgn: Nguyen Th Hoa Sim Trường Đại học Thủy lợi 15 Lugn van Thạc sĩ kỹ thuật phẩm cuối cũng) và ảnh hưởng của các hoạt động đó (ác động lên chính bản thin hệ t ng và môi trường bên ngoài)", Hơnthé họ còn đưa ra các mô hình khác nhau về hiệu quả hoạt động của các tổ chức và kết luận ring một mô hình định hướng mục tiêu hiệu quả là hết ste hữu ích trong việc đánh giá hiệu quả của hệ thống thuỷ nông.