Luận án tiến sĩ nghiên cứu hiệu quả giảm đau đường ngoài màng cứng ngực do bệnh nhân tự điều khiển bằng ropivacain kết hợp với fentanyl sau phẫu thuật mở vùng bụng

Tài liệu Hiệu quả giảm đau tự điều khiển bằng ropivacain và fentanyl sau phẫu t tổng hợp lý thuyết và thực hành, phục vụ học tập ngành

Trường đại học

Viện Nghiên Cứu Khoa Học Y Dược Lâm Sang

Chuyên ngành

Gây Mê Hồi Sức

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2022

189
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: ĐAU SAU PHẪU THUẬT MỞ VÙNG BỤNG

1.1. Đại cương về đau sau mổ

1.2. Cơ chế gây đau sau phẫu thuật mở vùng bụng

1.2.1. Cơ chế gây đau ở tạng

1.2.2. Thiếu máu

1.2.3. Kích thích hóa học

1.2.4. Co thắt tạng rỗng

1.2.5. Căng giãn quá mức

1.3. Đau có nguồn gốc từ thành bụng

1.3.1. Thần kinh chi phối cảm giác trên thành bụng

Tóm tắt

I. Giới thiệu

Phẫu thuật mở vùng bụng là một trong những loại hình phẫu thuật gây đau và ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của các hệ cơ quan. Đau sau phẫu thuật bụng có thể dẫn đến nhiều biến chứng nghiêm trọng, bao gồm rối loạn hô hấp và tuần hoàn. Việc giảm đau hiệu quả là rất quan trọng trong quá trình phục hồi của bệnh nhân. Nghiên cứu này tập trung vào việc sử dụng ropivacainfentanyl trong phương pháp giảm đau do bệnh nhân tự điều khiển (PCEA) để đánh giá hiệu quả giảm đau sau phẫu thuật bụng.

1.1. Đau sau phẫu thuật

Đau sau phẫu thuật được chia thành hai loại: đau cấp tính và đau mãn tính. Đau cấp tính thường xảy ra ngay sau phẫu thuật và có thể kéo dài đến một tuần. Đau mãn tính kéo dài hơn ba tháng và có thể ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Theo nghiên cứu, có tới 80% bệnh nhân trải qua đau sau phẫu thuật, trong đó 75% có mức độ đau nghiêm trọng. Việc quản lý đau sau phẫu thuật là rất cần thiết để giảm thiểu các biến chứng và cải thiện sự hài lòng của bệnh nhân.

1.2. Các phương pháp giảm đau

Có nhiều phương pháp giảm đau sau phẫu thuật, bao gồm giảm đau toàn thân, giảm đau bằng gây tê vùng và tê thần kinh ngoại biên. Giảm đau đường ngoài màng cứng (NMC) được coi là tiêu chuẩn cho các phẫu thuật mở vùng bụng. Phương pháp PCEA cho phép bệnh nhân tự điều chỉnh liều lượng thuốc giảm đau, giúp tối ưu hóa hiệu quả giảm đau và giảm thiểu tác dụng phụ. Sự kết hợp giữa ropivacainfentanyl đã cho thấy hiệu quả cao trong việc giảm đau sau phẫu thuật.

II. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên một nhóm bệnh nhân đã trải qua phẫu thuật mở vùng bụng. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân bao gồm độ tuổi, tình trạng sức khỏe và loại phẫu thuật. Phương pháp nghiên cứu bao gồm thiết kế nghiên cứu ngẫu nhiên, cỡ mẫu và các phương tiện theo dõi. Các bệnh nhân được chia thành các nhóm khác nhau dựa trên nồng độ ropivacain (0,1%; 0,125%; 0,2%) kết hợp với fentanyl 2 µg/ml. Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm mức độ đau (VAS), tác dụng phụ và sự hài lòng của bệnh nhân.

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu bao gồm bệnh nhân từ 18 đến 65 tuổi, có chỉ định phẫu thuật mở vùng bụng. Tiêu chuẩn loại trừ bao gồm bệnh nhân có tiền sử dị ứng với thuốc tê, bệnh lý tim mạch nặng hoặc các bệnh lý khác ảnh hưởng đến khả năng hồi phục. Việc lựa chọn đối tượng nghiên cứu được thực hiện cẩn thận để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả.

2.2. Quy trình nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu bao gồm các bước chuẩn bị bệnh nhân, thực hiện kỹ thuật đặt catheter vào khoang ngoài màng cứng và theo dõi hiệu quả giảm đau. Các thông số cài đặt PCEA được thiết lập để đảm bảo bệnh nhân có thể tự điều chỉnh liều lượng thuốc giảm đau. Việc theo dõi các chỉ tiêu như huyết áp, nhịp tim và mức độ oxy trong máu được thực hiện liên tục để đánh giá tác động của phương pháp giảm đau.

III. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng ropivacain kết hợp với fentanyl mang lại hiệu quả giảm đau tốt hơn so với các phương pháp truyền thống. Điểm VAS trung bình ở các thời điểm sau mổ cho thấy sự giảm đau rõ rệt ở nhóm bệnh nhân sử dụng PCEA. Ngoài ra, mức độ hài lòng của bệnh nhân cũng được cải thiện đáng kể. Các tác dụng phụ như buồn nôn, chóng mặt được ghi nhận nhưng ở mức độ nhẹ và có thể kiểm soát được.

3.1. Hiệu quả giảm đau

Điểm VAS trung bình cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm bệnh nhân sử dụng nồng độ ropivacain khác nhau. Nhóm sử dụng nồng độ 0,2% có mức độ đau thấp nhất, cho thấy nồng độ này có hiệu quả giảm đau tốt nhất. Sự kết hợp với fentanyl cũng góp phần làm tăng hiệu quả giảm đau, giúp bệnh nhân cảm thấy thoải mái hơn trong quá trình hồi phục.

3.2. Tác dụng phụ

Mặc dù phương pháp PCEA cho thấy hiệu quả cao trong việc giảm đau, một số tác dụng phụ vẫn được ghi nhận. Các tác dụng phụ như buồn nôn, chóng mặt và ngứa nhẹ xảy ra ở một số bệnh nhân nhưng không nghiêm trọng. Việc theo dõi và xử lý kịp thời các tác dụng phụ này là rất quan trọng để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

IV. Kết luận

Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng ropivacain kết hợp với fentanyl trong phương pháp giảm đau do bệnh nhân tự điều khiển (PCEA) là một lựa chọn hiệu quả cho bệnh nhân sau phẫu thuật mở vùng bụng. Phương pháp này không chỉ giúp giảm đau hiệu quả mà còn cải thiện sự hài lòng của bệnh nhân. Kết quả nghiên cứu mở ra hướng đi mới trong việc quản lý đau sau phẫu thuật, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe.

4.1. Đề xuất

Cần tiếp tục nghiên cứu để xác định nồng độ tối ưu của ropivacainfentanyl trong các tình huống lâm sàng khác nhau. Việc mở rộng nghiên cứu sang các loại phẫu thuật khác cũng là cần thiết để đánh giá tính hiệu quả và an toàn của phương pháp này. Hơn nữa, việc đào tạo nhân viên y tế về kỹ thuật PCEA cũng rất quan trọng để đảm bảo bệnh nhân nhận được sự chăm sóc tốt nhất.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu hiệu quả giảm đau đường ngoài màng cứng ngực do bệnh nhân tự điều khiển bằng ropivacain kết hợp với fentanyl sau phẫu thuật mở vùng bụng

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. Đau sau phẫu thuật mở vùng bụng 1. Đại cương về đau sau mổ Đau sau mổ là một cảm giác đau do tổ chức được can thiệp phẫu thuật, xuất hiện sau khi mổ. Mức độ đau tùy thuộc vào loại phẫu thuật, kỹ thuật mổ và mức chịu đựng của bệnh nhân [13], [27].

Theo Viện Y học Hoa Kỳ, sau phẫu thuật, có tới 80% bệnh nhân bị đau, trong số này có 88% đau vừa, nặng hoặc đau dữ dội [133]. Trong một cuộc khảo sát quốc gia của Hoa Kỳ với 300 người trưởng thành được phẫu thuật trong vòng 5 năm, có 86 % bệnh nhân có đau sau phẫu thuật nói chung và 75 % có đau ở mức độ nghiêm trọng trong thời gian ngay sau mổ [58]. Đau sau phẫu thuật được chia làm 2 loại: Đau cấp tính và đau mãn tính - Đau cấp tính: đau ngay sau khi phẫu thuật kéo dài tới ngày thứ 7 sau mổ. Đau cấp tính cảnh báo vấn đề về tổn thương mô, làm bệnh nhân hay phần chi thể bị đau bất động để phục hồi nhanh hơn [13].

Đau cấp tính đã được báo cáo phổ biến trong nhiều loại phẫu thuật khác nhau, bao gồm cả phẫu thuật mô cứng và mô mềm, mặc dù đã dùng thuốc giảm đau sau phẫu thuật [58], [61]. Bằng chứng từ một nghiên cứu thuần tập của Đức trên 50.523 bệnh nhân từ 179 nhóm phẫu thuật cho thấy điểm số đau vào ngày đầu tiên sau phẫu thuật là cao nhất sau các thủ thuật sản khoa và chỉnh hình / chấn thương, nhưng điểm số lại cao sau các phẫu thuật thông thường, chẳng hạn như cắt ruột thừa, cắt túi mật, cắt trĩ, cắt amidan, và một số thủ thuật nội soi [61]. - Đau mãn tính: cơn đau kéo dài ngay cả khi những tổn thương của cơ thể đã bị loại bỏ, thời gian dài hơn 3 tháng sau khi phẫu thuật, những dấu hiệu về bệnh lý hoặc tổn thương thường ít và không tương xứng với biểu hiện đau được coi là đau mãn tính [13]. TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 4 Các cơn đau cấp tính sau mổ không được điều trị kịp thời có thể dẫn đến hậu quả là đau mãn tính.

Dựa trên các đánh giá của y văn, cơn đau dai dẳng dường như ảnh hưởng đến từ 10% đến 60% bệnh nhân sau các cuộc phẫu thuật thông thường [76]. Cơ chế gây đau sau phẫu thuật mở vùng bụng Phẫu thuật mở vào ổ bụng thường là phẫu thuật lớn, gây tổn thương nhiều mô, tổ chức. Chính vì vậy phẫu thuật vào ổ bụng có thể gây đau từ mức độ vừa tới mức độ nhiều. Phẫu thuật vào ổ bụng có 2 nguồn gây đau là đau có nguồn gốc từ thành bụng và đau có nguồn gốc từ các tạng trong ổ bụng.

Cơ chế gây đau ở tạng Cảm giác đau có thể được gây ra bởi sự kích thích của các thủ thuật, phẫu thuật lên các thụ cảm trên nội tạng. Không giống như da, phân bố thần kinh của các tạng thưa thớt, với số lượng sợi thần kinh ít mà đảm nhiệm chi phối đáp ứng trên diện rộng. Đau nội tạng có đặc điểm là: đau lan tỏa, thường khó xác định vị trí đau Các tạng vùng bụng trên được chi phối bởi dây thần kinh phế vị (dây thần kinh X) và hệ thống thần kinh cột sống ngực – thắt lưng. Các tạng vùng bụng dưới (tiểu tràng, đại tràng, cơ quan sinh dục…) được chi phối bởi các dây thần kinh thuộc hệ thống cột sống thắt lưng – cùng.

Trong đó, các thụ cảm chính là các tế bào thần kinh giả lưỡng cực dẫn truyền cảm giác đau giữa các hệ thống ngoại biên và trung ương [128]. Thiếu máu Cơ chế thiếu máu gây nên cơn đau tại tạng cũng giống như ở các mô khác do các sản phẩm acid chuyển hóa cuối cùng tại mô tổn thương, được tổng hợp như: bradykinin, enzyms ly giải protein hay những chất dẫn truyền khác tại các điểm mút thần kinh. Sau phẫu thuật, các vùng bị thiếu máu như các miệng nối, các vùng có tổn thương mạch máu cũng chịu ảnh hưởng tương TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 5 tự và gây ra cảm giác đau. Mức độ đau phụ thuộc vào mức độ thiếu máu gây nên.

Kích thích hóa học Trong các trường hợp có thủng tạng rỗng, dịch tiêu hóa (từ dạ dày, tiểu tràng,.) chảy vào ổ bụng gây tổn thương phúc mạc dẫn tới bùng phát các kích thích và gây đau. Sau phẫu thuật bụng, quá trình sử dụng dung dịch rửa ổ bụng, dung dịch sát khuẩn cũng gây đau với cơ chế tương tự. Co thắt tạng rỗng Khi bị co thắt, áp lực bên trong các tạng rỗng (tiểu tràng, ống mật, niệu quản …) tăng, tác động lên các thụ cảm thể cơ học ở đầu mút các sợi thần kinh. Đồng thời, co thắt cũng gây thiếu máu mô mà hậu quả là các cơn đau kiểu bóp nghẹt.

Căng giãn quá mức Nếu một tạng rỗng đang chứa căng thì có thể sẽ gây đau bởi sự kéo giãn các mô. Quá trình gây mê và phẫu thuật có thể gây nên tình trạng tắc ruột cơ năng. Tính trạng đình trệ lưu thông đường tiêu hóa có thể dẫn tới căng giãn quá mức do lưu thông trong lòng ruột bị gián đoạn, nhất là ở giai đoạn đầu phục hồi lưu thông đường tiêu hóa. Đồng thời, căng giãn quá mức còn gây chèn ép dẫn tới thiếu máu tới các mô tổ chức, thúc đẩy cơn đau do thiếu máu tưới mô.

Đau có nguồn gốc từ thành bụng Phẫu thuật vào các tạng trong ổ bụng được thực hiện thông qua đường mở vào ổ bụng, thường ở thành bụng trước bên. Các đường mở này gây nên tổn thương tại các mô, tổ chức dẫn tới đau sau phẫu thuật. Tổn thương thực thể tại các dây thần kinh nhận cảm ở các mô, tổ chức bị tổn thương, kích thích lên các thụ cảm thể nhận cảm cảm giác đau. Tại thành bụng có các thụ cảm thể hay ổ nhận cảm đau như thụ cảm thể nhận cảm tác nhân cơ học hay thụ cảm thể cảm nhận tác nhân khác như cơ TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 6 học, hóa học, nhiệt, áp lực… Khi phẫu thuật cần banh rộng vết mổ, co kéo thành bụng để thăm dò cũng như tạo phẫu trường cho quá trình phẫu thuật, gây kích thích mạnh về mặt cơ học lên thành bụng cũng như các thụ cảm thể nhận cảm cảm giác đau ở thành bụng.

Các vị trí tổn thương sẽ sản sinh ra các chất gây đau là các Kinin (histamin, serotonin, brandykinin…), các ion H+, K+ được giải phóng khỏi tế bào bị tổn thương. Các prostaglandin liên quan tới quá trình viêm như PGE1, PGE2 làm cho ổ cảm thụ nhạy cảm với cảm giác đau [131]. Thần kinh chi phối cảm giác trên thành bụng Nguồn: Frank H. Netter – Atlas giải phẫu người [56] Cảm giác đau từ vết mổ trên thành bụng được dẫn truyền về vỏ não bằng cả hai loại sợi dẫn truyền nhanh và sợi dẫn truyền chậm, chính vì vậy đau ở TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 7 thành bụng được nhận cảm là cơn đau cấp tính, dữ dội.

Mức độ đau tại vết mổ là rõ ràng hơn nhiều so với đau có nguồn gốc từ tạng do đau ở tạng chủ yếu được dẫn truyền bởi sợi dẫn truyền đau chậm [130]. Ảnh hưởng của đau sau phẫu thuật mở vùng bụng Đau sau mổ có thể gây các hậu quả tiêu cực cho cơ thể, bao gồm suy giảm chức năng của các cơ quan, giảm hoặc kéo dài khả năng phục hồi, ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống, và thậm chí có thể tăng nguy cơ tử vong của bệnh nhân. Đau sau mổ gây nên stress đối với cơ thể, dẫn đến rối loạn chức năng của các cơ quan hô hấp, tim mạch, tiêu hóa, tiết niệu cùng những thay đổi về chuyển hóa và nội tiết. Chức năng vận động Đau sau mổ ảnh hưởng rõ rệt đến các chức năng vận động của bệnh nhân.

Nghiên cứu của Morrison S. R và cộng sự (2003) đã chỉ rõ đau sau mổ khiến bệnh nhân giảm khả năng đi lại (p<0,001), mất nhiều thời gian hơn để di chuyển (p<0,01) [99]. Ở những bệnh nhân đau nhiều, có hiện tượng giảm khả năng vận động đáng kể trong 6 tháng sau mổ [134]. Tác động lên hệ hô hấp Các cơn đau sau mổ, đặc biệt sau mổ vùng ngực và vùng bụng trên có thể gây rối loạn chức năng hô hấp và tăng các biến chứng hô hấp sau phẫu thuật [106].

Suy giảm chức năng hô hấp được ghi nhận xảy ra trong 24 giờ sau mổ và có thể kéo dài đến tuần thứ 2 sau mổ [153]. Các cơn đau có thể kích thích gây co thắt các vùng cơ xung quanh vết mổ, đặc biệt phản xạ tủy sống ức chế hoạt động thần kinh hoành có thể gây rối loạn chức năng cơ hoành, khiến giảm khả năng thông khí của bệnh nhân [106]. Báo cáo tổng hợp của Hassan Jafaria và cộng sự năm 2017 [67] cho rằng cơn đau ảnh hưởng đến hô hấp bằng cách tăng lưu lượng, tần số và nhưng TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 8 giảm thể tích khí lưu thông. Theo Theodoros Vassilakopoulos và cộng sự (2000) [142]: đau sau mổ tầng bụng trên làm giảm thông khí ở một số vùng phổi, gây rối loạn tỷ số thông khí - tưới máu.

Hơn nữa, nhịp thở chậm có liên quan đến việc giảm đau trong một số nghiên cứu. Đau cũng khiến bệnh nhân không giảm ho khạc, làm ứ đọng đờm dãi, gây bít tắc đường hô hấp. Đây là nguyên nhân dẫn đến tăng công hô hấp và gây mỏi cơ hô hấp, làm gia tăng các biến chứng hô hấp (xẹp phổi, nhiễm trùng). Hậu quả dẫn tới thiếu oxy cho mô, tổ chức ảnh hưởng tới quá trình chuyển hóa của cơ thể.

Các thể có trao đổi khí bất thường do giảm thông khí phế nang, mất cân bằng thông khí/tưới máu, shunt phải-trái,.cũng dẫn tới các biến chứng hô hấp như: hạ oxy máu, xẹp phổi, nhiễm trùng phổi và suy hô hấp. Ngoài ra, cũng cần lưu ý đến các đối tượng có nguy cơ cao như: tuổi cao, tiền sử có bệnh phổi, béo phì, hút thuốc,… Tác động lên hệ tuần hoàn Đau cùng với stress kích thích tế bào thần kinh giao cảm, tăng tiết cathecholamin, tác động lên hệ tim mạch làm tăng nhịp tim, tăng sức cản ngoại vi, tăng huyết áp, tăng mức tiêu thụ oxy cho cơ tim. Ngoài ra, các kích thích đau mãnh liệt dẫn tới có thể tạo ra co mạch vành, gây vỡ các mảng xơ vữa động mạch khiến giảm cung cấp oxy cho tim.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu hiệu quả giảm đau đường ngoài màng cứng ngực bằng ropivacain và fentanyl sau phẫu thuật mở bụng" của tác giả Trần Hoài Nam, dưới sự hướng dẫn của TS. Hoàng Văn Chương và PGS. Nguyễn Minh Lý, được thực hiện tại Viện Nghiên Cứu Khoa Học Y Dược Lâm Sang vào năm 2022. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của phương pháp giảm đau bằng ropivacain kết hợp với fentanyl, một vấn đề quan trọng trong lĩnh vực gây mê hồi sức, nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân sau phẫu thuật mở bụng.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp điều trị và giảm đau trong y học, bạn có thể tham khảo bài viết "Nghiên Cứu Tác Dụng Bảo Vệ Cơ Tim của Sevofluran và Propofol ở Bệnh Nhân Phẫu Thuật Tim Mở", nơi nghiên cứu tác động của các loại thuốc gây mê khác trong phẫu thuật. Ngoài ra, bài viết "Luận án tiến sĩ về huyết động và chức năng tâm thu thất trái trong sốc nhiễm khuẩn" cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về các vấn đề liên quan đến hồi sức cấp cứu. Cuối cùng, bài viết "Luận án tiến sĩ: Tác dụng của điện châm huyệt giáp tích L5 trong điều trị đau thắt lưng do thoái hóa cột sống" sẽ giúp bạn hiểu thêm về các phương pháp điều trị đau khác trong y học cổ truyền. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp giảm đau và hồi sức trong y học hiện đại.