Đặt vấn đề Nước ta có hệ thống sông ngòi dày đặc, phân bố khắp cả nước, đường bờ biển dài 3.260 km với 112 cửa sông lạch, trung bình cứ 100 km2 diện tích tự nhiên lại có 1 km bờ biển và gần 30 km bờ biển lại có cửa sông lạch. Vùng đặc quyền kinh tế trên 1 triệu km2, gấp hơn ba lần vùng lãnh thổ trên đất liền. Ngoài ra còn có hàng trăm con sông lớn nhỏ và nhiều kênh rạch, kênh đào dẫn nước từ các con sông chính về các đồng ruộng cũng như ao, hồ. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các ngành kinh tế biển nói chung và phát triển thủy sản nói riêng [1].
Trong những năm gần đây, các hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản có sự phát triển mạnh mẽ. Báo cáo thống kê của Bộ NN & PTNT, sản xuất và xuất khẩu tôm liên tục phát triển trong nhiều năm qua từ thời kỳ đổi mới đến nay đã tạo một vị thế đáng kể của Việt Nam trong ngành tôm toàn cầu. Việt Nam hiện đứng thứ ba về sản xuất tôm trên thế giới (sau Trung Quốc và Indonesia). Xuất khẩu tôm nước lợ giữ vai trò quan trọng trong ngành thủy sản với khoảng 45% tổng giá trị kim ngạch.
Nghề nuôi tôm đã trở thành ngành sản xuất hàng hóa có hiệu quả cao, động lực chủ yếu thúc đẩy sản xuất kinh doanh nuôi trồng thủy sản, góp phần quan trọng vào chiến lược phát triển kinh tế của đất nước. Trong đó tôm sú và tôm thẻ chân trắng là hai đối tượng chủ lực được quan tâm nhiều nhất [2]. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển về đối tượng cũng như phát triển kinh tế và góp phần xóa đói giảm nghèo là vấn đề dịch bệnh. Dịch bệnh làm giảm sản lượng và quy mô nuôi tôm.
Đặc biệt, trong những năm gần đây, ngành nuôi tôm của nước ta đang phải đối mặt với sự bùng phát dịch bệnh đang tăng nhanh, chủ yếu là thiệt hại do bệnh hoại tử gan tụy cấp (acute hepatopancreatic necrosis, AHPND). Bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND) còn được gọi là hội chứng chết sớm (early mortality syndrome – EMS) là nguyên nhân gây giảm sản lượng tôm nuôi đáng kể ở một số quốc gia [3]. Theo báo cáo của Cục Thú Y Việt Nam, khu vực nuôi tôm bị ảnh hưởng ở Đồng bằng sông Cửu Long khoảng 39.000 ha trong năm 2011 và 2012 [4]. 2 Việc nghiên cứu tìm ra các biện pháp phòng trị bệnh gan tụy cấp trên tôm có hiệu quả là một việc làm cần thiết nhằm hạn chế dịch bệnh cũng như giảm thiệt hại và những tổn thất mà AHPND mang lại.
Đã có nhiều giải pháp phòng trị bệnh đã được áp dụng nhưng hiệu quả mang lại rất kém hoặc không rõ rệt. Hiện nay, sử dụng chế phẩm vi sinh (probiotic) trong phòng trị bệnh AHPND trở thành hướng tiếp cận đầy hứa hẹn trong nuôi trồng thủy sản [4], đặc biệt là đối với ngành nuôi tôm ở nước ta. Trong nuôi trồng thủy sản, probiotic được sử dụng phổ biến như là phương tiện kiểm soát dịch bệnh, tăng cường miễn dịch, cung cấp dinh dưỡng, men tiêu hóa và cải thiện chất lượng nước. Ngoài ra, chúng còn sử dụng thay thế hóa chất, kháng sinh, chất diệt khuẩn [5].
Vì vậy, để sử dụng probiotic trong việc phòng trị AHPND trên hai đối tượng là tôm sú và tôm thẻ một cách hiệu quả cũng như an toàn đến môi trường và con người, đề tài “Khảo sát hiệu quả của probiotic đến các điều kiện môi trường và sức khỏe tôm trong ao nuôi” được thực hiện. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá hiệu quả các phương pháp sử dụng probiotic. - Đánh giá các yếu tố thủy lý, thủy hóa và vi sinh biến động trong các ao nuôi thử nghiệm. Đối tượng nghiên cứu Ảnh hưởng của probiotic trong việc quản lý sức khỏe tôm trong ao nuôi.
Nhiệm vụ nghiên cứu 1. Hiệu quả ức chế AHPND trên tôm sú và tôm thẻ bằng chế phẩm probiotic trong điều kiện phòng thí nghiệm. - Xác định liều gây chết 50% tôm thí nghiệm LD50 của vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus. - Thí nghiệm thăm dò liều sử dụng sản phẩm (đơn hay hỗn hợp) phối trộn thức ăn hoặc xử lý nước có khả năng ức chế vi khuẩn gây bệnh V.
- Tần suất sử dụng hiệu quả sản phẩm. Thử nghiệm probiotic mô hình ao nuôi tôm thẻ, tôm sú. Phạm vi nghiên cứu 1. Khảo sát các phương pháp sử dụng chế phẩm probiotic hiệu quả trên tôm sú và tôm thẻ trong phòng thí nghiệm: từ tháng 09/2018 đến tháng 01/2019.
Thử nghiệm sử dụng chế phẩm vi sinh trong mô hình ao nuôi tôm sú, tôm thẻ tại khu vực ao nuôi tôm Trung tâm tập huấn và chuyển giao công nghệ nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long, ấp Nopoul, xã Vĩnh Tân, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng: từ tháng 02/2019 đến tháng 07/2019. Tổng quan về tôm thẻ và tôm sú 1. Vị trí phân loại Vị trí phân loại của Tôm thẻ Litopenaeus vannamei (Boone, 1931) Giới (Kingdom): Animalia Ngành (Phylum): Arthropoda Lớp (Class): Malacostraca Bộ (Order): Decapoda Họ (Family): Penaeidae Giống (Genus): Litopenaeus Pérez Farfante, 1967 Loài (Species): Litopenaeus vannamei (Boone, 1931) Vị trí phân loại của Tôm sú Penaeus monodon (Fabricius, 1798) Giới (Kingdom): Animalia Ngành (Phylum): Arthropoda Lớp (Class): Malacostraca Bộ (Order): Decapoda Họ (Family): Penaeidae Giống (Genus): Penaeus Fabricius, 1798 Loài (Species): Penaeus monodon (Fabricius, 1798) 1. Một số kỹ thuật nuôi tôm 1.
Kỹ thuật ao nuôi tôm chung Ứng dụng quy trình kỹ thuật kèm theo công văn số 298/TCTS-NTTS ngày 01 tháng 02 năm 2013 của Tổng cục thủy sản về việc hướng dẫn kỹ thuật nuôi tôm nước lợ thâm canh, bán thâm canh [6]. Bao gồm các bước như sau: a. Chuẩn bị hồ nuôi: - Cải tạo ao nuôi lắng: Loại bỏ các địch hại có trong ao từ vụ nuôi trước. Vét bùn đáy ao, tu sửa bờ, các cống cấp nước, thoát nước.
San đáy ao dốc về phía cống thoát. Phải đầm nén kỹ bờ ao hoặc lót bạt để chống xói lở và hạn chế rò rỉ. Rải vôi bột đều đáy ao để diệt khuẩn trong bùn, giải độc và trung hòa pH. Phơi đáy ao khoảng 5-7 ngày.
5 - Xử lý nước và lấy nước ao nuôi: Lấy nước vào ao lắng qua túi lọc bằng vải dày để loại bỏ rác, ấu trùng, côn trùng, cá tạp; để lắng 3-4 ngày. Diệt tạp, diệt khuẩn nước cấp trong ao lắng bằng Chlorine hoặc những chất diệt tạp được phép lưu hành tại Việt Nam. Quạt nước liên tục trong 10 ngày để phân hủy dư lượng Chlorine. Cấp nước từ ao lắng qua ao nuôi đến khi mức nước trong ao nuôi đạt từ 1,3-1,5m.
- Gây màu nước: Hai ngày sau khi cấp nước vào ao nuôi, gây màu nước bằng mật đường, cám gạo, bột đậu nành hoặc có thể dùng các sản phẩm vi sinh theo hướng dẫn của nhà sản xuất; giúp phát triển vi sinh vật phù du, ổn định môi trường nước, tạo môi trường thuận lợi hạn chế tôm bị sốc, tăng tỉ lệ sống. Lưu ý: Kiểm tra và điều chỉnh các yếu tố môi trường trong nước ao nuôi đảm bảo trong ngưỡng thích hợp trước khi thả giống: Yếu tố môi trường Giới hạn tối ưu đối với Giới hạn tối ưu đối với nước ao nuôi tôm tôm sú tôm thẻ chân trắng Hàm lượng oxy hòa > 4 mg/l > 6 mg/l tan (DO) 7,5 - 8,5 (dao động trong 7,5 - 8,5 (dao động trong pH ngày không quá 0,5) ngày không quá 0,5) Độ mặn 15-25 ‰ 5-25 ‰ Độ kiềm 80 -120 mg/l 120-150 mg/l Độ trong 30 - 40 cm 30 - 40 cm NH3 < 0,1mg/l < 0,1mg/l H2S < 0,01 mg/l < 0,01 mg/l b. Quạt nước và thời gian chạy quạt nước: Bố trí hệ thống quạt nước và thời gian chạy quạt nước phải đảm bảo nhu cầu oxy cho tôm nuôi, đặc biệt thời điểm chiều tối/đêm/gần sáng khi hàm lượng oxy hòa tan giảm dần/xuống thấp nhất trong ngày. Cần tăng cường thời gian chạy quạt hoặc bố trí thêm hệ thống quạt cho tôm nuôi, đặc biệt vào những thời điểm nắng nóng hoặc mưa kéo dài.
6 - Vị trí đặt cánh quạt nước: Cách bờ 1,5m; khoảng cách giữa 2 cánh quạt nước 60-80cm. Tùy theo hình dạng ao mà bố trí cánh quạt nước nhằm tạo được dòng chảy tốt nhất và cung cấp đủ nhu cầu oxy cho tôm nuôi. - Số lượng máy quạt nước: + Đối với tôm sú: Với mật độ 15-20 con/m2 thì cần 50-60 cánh quạt; với mật độ 20-25 con/m2 thì cần 60-80 cánh quạt (100-120 vòng/phút). + Đối với tôm thẻ chân trắng; đòi hỏi oxy rất lớn.
Do đó, tùy theo mật độ thả nuôi có thể thiết kế hệ thống quạt nước bằng cánh quạt nhựa hoặc kết hợp cánh quạt nhựa và cánh quạt lông nhím hoặc các cánh quạt cung cấp oxy khác để cung cấp oxy cho ao nuôi. Vòng tua của cánh quạt nhựa nên >120 vòng/phút. Với mật độ 60- 100 con/m2 thì cần 4 dàn quạt cánh (10 cánh quạt/dàn). Chọn và thả giống: - Chọn giống: Chọn mua tôm giống từ các cơ sở có uy tín, có phiếu xét nghiệm âm tính về các mầm bệnh MBV, đốm trắng, đầu vàng, hoại tử gan tụy; cỡ giống: tôm sú PL15-PL20, tôm thẻ chân trắng PL12 trở lên.
- Thả giống: + Mật độ thả: Tôm sú: 15-20 con/m2. Tôm thẻ chân trắng: 60 - 80 con/m2. + Cách thả: Thả vào sáng sớm hoặc chiều mát; trước khi thả giống cần chạy quạt nước từ 8-12 giờ để đảm bảo lượng oxy hòa tan trong ao phải lớn hơn 4 mg/L. Chăm sóc và quản lý: - Cho ăn: Cho ăn mỗi ngày 3 lần hoặc cho ăn theo hướng dẫn của nhà sản xuất thức ăn và chọn thức ăn có độ đạm, protein, chất béo phù hợp.
Ngoài ra, tùy vào thực tế (sức khỏe của tôm, chu kỳ lột xác, thời tiết) để điều chỉnh, quản lý thức ăn cho phù hợp, tránh tình trạng cho ăn thiếu hoặc thừa thức ăn sẽ ảnh hưởng đến tốc độ phát triển và sức khỏe của tôm. - Lượng thức ăn: + Tháng nuôi thứ nhất: sử dụng thức ăn cỡ nhỏ cho giai đoạn mới thả. + Ngày thứ 10 sau khi thả giống: cho ít thức ăn vào vó để tôm làm quen, dễ cho việc kiểm tra lượng thức ăn dư sau này. 7 + Sau 15 ngày có thể sử dụng các chất bổ sung cung cấp vitamin, khoáng chất theo chỉ dẫn của nhà cung cấp giúp tôm tăng cường sức khỏe.
+ Tháng nuôi thứ hai đến khi thu hoạch: Điều chỉnh thức ăn trong ngày qua theo dõi lượng thức ăn thừa trên vó. Chuyển đổi loại thức ăn phù hợp theo giai đoạn phát triển, cỡ miệng tôm và nhu cầu dinh dưỡng như hướng dẫn của nhà sản xuất ghi trên bao bì.