Chương 1. Tổng quan về tôm thẻ và tôm sú 1. Vị trí phân loại Vị trí phân loại của Tôm thẻ Litopenaeus vannamei (Boone, 1931) Giới (Kingdom): Animalia Ngành (Phylum): Arthropoda Lớp (Class): Malacostraca Bộ (Order): Decapoda Họ (Family): Penaeidae Giống (Genus): Litopenaeus Pérez Farfante, 1967 Loài (Species): Litopenaeus vannamei (Boone, 1931) Vị trí phân loại của Tôm sú Penaeus monodon (Fabricius, 1798) Giới (Kingdom): Animalia Ngành (Phylum): Arthropoda Lớp (Class): Malacostraca Bộ (Order): Decapoda Họ (Family): Penaeidae Giống (Genus): Penaeus Fabricius, 1798 Loài (Species): Penaeus monodon (Fabricius, 1798) 1. Một số kỹ thuật nuôi tôm 1.
Kỹ thuật ao nuôi tôm chung Ứng dụng quy trình kỹ thuật kèm theo công văn số 298/TCTS-NTTS ngày 01 tháng 02 năm 2013 của Tổng cục thủy sản về việc hướng dẫn kỹ thuật nuôi tôm nước lợ thâm canh, bán thâm canh [6]. Bao gồm các bước như sau: a. Chuẩn bị hồ nuôi: - Cải tạo ao nuôi lắng: Loại bỏ các địch hại có trong ao từ vụ nuôi trước. Vét bùn đáy ao, tu sửa bờ, các cống cấp nước, thoát nước.
San đáy ao dốc về phía cống thoát. Phải đầm nén kỹ bờ ao hoặc lót bạt để chống xói lở và hạn chế rò rỉ. Rải vôi bột đều đáy ao để diệt khuẩn trong bùn, giải độc và trung hòa pH. Phơi đáy ao khoảng 5-7 ngày.
Luan van 5 - Xử lý nước và lấy nước ao nuôi: Lấy nước vào ao lắng qua túi lọc bằng vải dày để loại bỏ rác, ấu trùng, côn trùng, cá tạp; để lắng 3-4 ngày. Diệt tạp, diệt khuẩn nước cấp trong ao lắng bằng Chlorine hoặc những chất diệt tạp được phép lưu hành tại Việt Nam. Quạt nước liên tục trong 10 ngày để phân hủy dư lượng Chlorine. Cấp nước từ ao lắng qua ao nuôi đến khi mức nước trong ao nuôi đạt từ 1,3-1,5m.
- Gây màu nước: Hai ngày sau khi cấp nước vào ao nuôi, gây màu nước bằng mật đường, cám gạo, bột đậu nành hoặc có thể dùng các sản phẩm vi sinh theo hướng dẫn của nhà sản xuất; giúp phát triển vi sinh vật phù du, ổn định môi trường nước, tạo môi trường thuận lợi hạn chế tôm bị sốc, tăng tỉ lệ sống. Lưu ý: Kiểm tra và điều chỉnh các yếu tố môi trường trong nước ao nuôi đảm bảo trong ngưỡng thích hợp trước khi thả giống: Yếu tố môi trường Giới hạn tối ưu đối với Giới hạn tối ưu đối với nước ao nuôi tôm tôm sú tôm thẻ chân trắng Hàm lượng oxy hòa > 4 mg/l > 6 mg/l tan (DO) 7,5 - 8,5 (dao động trong 7,5 - 8,5 (dao động trong pH ngày không quá 0,5) ngày không quá 0,5) Độ mặn 15-25 ‰ 5-25 ‰ Độ kiềm 80 -120 mg/l 120-150 mg/l Độ trong 30 - 40 cm 30 - 40 cm NH3 < 0,1mg/l < 0,1mg/l H2S < 0,01 mg/l < 0,01 mg/l b. Quạt nước và thời gian chạy quạt nước: Bố trí hệ thống quạt nước và thời gian chạy quạt nước phải đảm bảo nhu cầu oxy cho tôm nuôi, đặc biệt thời điểm chiều tối/đêm/gần sáng khi hàm lượng oxy hòa tan giảm dần/xuống thấp nhất trong ngày. Cần tăng cường thời gian chạy quạt hoặc bố trí thêm hệ thống quạt cho tôm nuôi, đặc biệt vào những thời điểm nắng nóng hoặc mưa kéo dài.
Luan van 6 - Vị trí đặt cánh quạt nước: Cách bờ 1,5m; khoảng cách giữa 2 cánh quạt nước 60-80cm. Tùy theo hình dạng ao mà bố trí cánh quạt nước nhằm tạo được dòng chảy tốt nhất và cung cấp đủ nhu cầu oxy cho tôm nuôi. - Số lượng máy quạt nước: + Đối với tôm sú: Với mật độ 15-20 con/m2 thì cần 50-60 cánh quạt; với mật độ 20-25 con/m2 thì cần 60-80 cánh quạt (100-120 vòng/phút). + Đối với tôm thẻ chân trắng; đòi hỏi oxy rất lớn.
Do đó, tùy theo mật độ thả nuôi có thể thiết kế hệ thống quạt nước bằng cánh quạt nhựa hoặc kết hợp cánh quạt nhựa và cánh quạt lông nhím hoặc các cánh quạt cung cấp oxy khác để cung cấp oxy cho ao nuôi. Vòng tua của cánh quạt nhựa nên >120 vòng/phút. Với mật độ 60- 100 con/m2 thì cần 4 dàn quạt cánh (10 cánh quạt/dàn). Chọn và thả giống: - Chọn giống: Chọn mua tôm giống từ các cơ sở có uy tín, có phiếu xét nghiệm âm tính về các mầm bệnh MBV, đốm trắng, đầu vàng, hoại tử gan tụy; cỡ giống: tôm sú PL15-PL20, tôm thẻ chân trắng PL12 trở lên.
- Thả giống: + Mật độ thả: Tôm sú: 15-20 con/m2. Tôm thẻ chân trắng: 60 - 80 con/m2. + Cách thả: Thả vào sáng sớm hoặc chiều mát; trước khi thả giống cần chạy quạt nước từ 8-12 giờ để đảm bảo lượng oxy hòa tan trong ao phải lớn hơn 4 mg/L. Chăm sóc và quản lý: - Cho ăn: Cho ăn mỗi ngày 3 lần hoặc cho ăn theo hướng dẫn của nhà sản xuất thức ăn và chọn thức ăn có độ đạm, protein, chất béo phù hợp.
Ngoài ra, tùy vào thực tế (sức khỏe của tôm, chu kỳ lột xác, thời tiết) để điều chỉnh, quản lý thức ăn cho phù hợp, tránh tình trạng cho ăn thiếu hoặc thừa thức ăn sẽ ảnh hưởng đến tốc độ phát triển và sức khỏe của tôm. - Lượng thức ăn: + Tháng nuôi thứ nhất: sử dụng thức ăn cỡ nhỏ cho giai đoạn mới thả. + Ngày thứ 10 sau khi thả giống: cho ít thức ăn vào vó để tôm làm quen, dễ cho việc kiểm tra lượng thức ăn dư sau này. Luan van 7 + Sau 15 ngày có thể sử dụng các chất bổ sung cung cấp vitamin, khoáng chất theo chỉ dẫn của nhà cung cấp giúp tôm tăng cường sức khỏe.
+ Tháng nuôi thứ hai đến khi thu hoạch: Điều chỉnh thức ăn trong ngày qua theo dõi lượng thức ăn thừa trên vó. Chuyển đổi loại thức ăn phù hợp theo giai đoạn phát triển, cỡ miệng tôm và nhu cầu dinh dưỡng như hướng dẫn của nhà sản xuất ghi trên bao bì. Khi chuyển đổi thức ăn, nên trộn lẫn 2 loại thức ăn cũ và mới cho ăn ít nhất 3 ngày. - Quản lý môi trường ao nuôi: + DO, pH, độ trong (đo hằng ngày); độ kiềm và NH3 (3-5 ngày đo 1 lần).
+ Khắc phục tình trạng pH thấp: gây tảo và giữ màu nước thích hợp đảm bảo độ trong đạt từ 30 – 40 cm. Trong quá trình nuôi nếu pH < 7,5 cần bón vôi (CaCO3, Dolomite). + Khắc phục tình trạng pH cao: sử dụng mật đường kết hợp sử dụng vi sinh hoặc dùng Acid acetic. + Tùy vào tình hình thực tế môi trường ao nuôi mà điều chỉnh và bón lượng vôi cho phù hợp.
+ Khi tảo trong ao phát triển mạnh, màu nước thay đổi, pH dao động trong ngày >0,5, cần: Thay tối thiểu 30% lượng nước trong ao; hòa tan 2-3 kg đường cát/1000 m2 và tạt đều ao vào lúc 9 - 10 giờ sáng; chạy cánh quạt, sục khí liên tục trong vài giờ. + Khi nhiệt độ nước ao tăng trên 340C: Cần giảm thức ăn; bổ sung vitamine C (trộn vào thức ăn); tăng thời gian chạy quạt nước, sục khí. + Khi nhiệt độ nước ao giảm xuống dưới 240C: Có hiện tượng tôm vùi đầu, phải giảm thức ăn và tăng đề kháng ngay. + Trong quá trình sinh trưởng, tôm cần rất nhiều khoáng nên thường xuyên bổ sung khoáng cho ao nuôi vào ban đêm 3 – 5 ngày/lần giúp tôm nhanh cứng vỏ và lột xác đồng loạt.
+ Chỉ diệt khuẩn khi cần thiết (tránh những trường hợp như: tôm đang suy yếu, đang trong quá trình lột xác hay có các biểu hiện về bệnh gan). Thu hoạch: Tùy theo giá cả mà người nuôi chọn thời điểm thu hoạch cho phù hợp khi tôm đạt kích cỡ. Trước khi thu hoạch cần theo dõi chu kỳ lột xác của tôm và hạn chế thu khi tôm còn mềm vỏ để tránh tình trạng tôm bán bị rớt giá. Nuôi tôm ít thay nước, công nghệ biofloc được ứng dụng trong nuôi tôm với quy mô công nghiệp Các loài tôm nuôi thường chỉ hấp thu 20-30% dinh dưỡng từ nguồn thức ăn, trong khi đó có đến 70-80% dinh dưỡng còn lại được bài tiết bởi vật nuôi và thức ăn thừa tích lũy trong ao [7].
Hệ quả là ảnh hưởng đến chất lượng môi trường nuôi nghiêm trọng. Một trong những kỹ thuật nuôi tôm có thể cải thiện sản lượng cũng như chất lượng nước là kỹ thuật bioflocs thông qua việc kiểm soát tỉ lệ carbon và nitơ [8]. Công nghệ nuôi bioflocs đã được áp dụng và đánh giá thành công ở Nam Mỹ, Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan khi nuôi tôm thẻ chân trắng hoặc ở các trang trại nuôi tôm sú [9]. Ở hệ thống nuôi thủy sản thâm canh, amonia cùng với oxy là yếu tố cơ bản hạn chế sản lượng nuôi.
Hệ thống bioflocs tốt là một hệ thống mà thức ăn có hàm lượng thấp protein và các nguồn carbon nitơ vô cơ được cho vào ao sẽ được chuyển hóa thành sinh khối vi sinh vật. Quần thể vi sinh vật sẽ phát triển và tập hợp lại và hình thành các khối nhỏ chứa vi sinh vật, với tên gọi là bioflocs. Các bioflocs có thể trở thành nguồn thức ăn của vật nuôi trong ao [7]. Trong một nghiên cứu khác trên hệ thông nuôi tôm sú ít thay nước cho thấy sự phát triển của khuê tảo có kích thước lớn đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn một tuần tiên đầu để có thể thiết lập được sự bền vững môi trường cho mô hình này.
Nguồn carbon cần thiết cho sự phát triển sinh khối của vi sinh vật có trong ao có thể được bổ sung bằng carbon dioxide, bicarbonate hay mật rỉ đường. Liều lượng và thời điểm bổ sung nguồn carbon phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời điểm trong ngày, pH, nồng độ oxy, cường độ sáng, và lượng thức ăn có trong ao. Hệ thống biofloc kết hợp với quy trình nuôi ít thay nước cho thấy có thể giảm đến 70% lượng nước thay thế và giảm thất thoát đến 77% lượng nitơ khi so sánh với hệ thống nuôi thay nước truyền thống. Đối với hệ Luan van 9 thống bioflocs trong nuôi tôm sú còn có thể tiết kiệm được từ 20-30% giá trị thức ăn cần thiết để sản xuất 10 tấn tôm thịt [10].
Ương tôm trước khi thả vào ao nuôi Ương tôm trước khi thả nuôi hay nuôi tôm 2 giai đoạn (giai đoạn ương trong nhà kín từ 2-3 tuần và giai đoạn nuôi ngoài ao) được quan tâm trong trường hợp người nuôi muốn tăng số vụ nuôi trong ao hoặc trong trường hợp ở những nước có mùa lạnh, thời gian cho vụ nuôi tôm ngắn. Theo Fegan và Cliffordm (2001), tôm ương trong nhà kín sẽ kiểm soát được điều kiện an toàn sinh học và giảm được rủi ro do bệnh ở giai đoạn này. Tảo khuê cũng có thể được cho vào bể ương nhằm làm tăng nguồn thức ăn tự nhiên và giúp ổn định môi trường [11].