Đặt vấn đề Rượu là một sản phẩm có từ lâu đời, mang tính truyền thống của nhiều dân tộc trên thế giới, đặc biệt rượu được sử dụng trong các dịp lễ hội, tết, đình đám, hay là một món quà giá trị để tặng người thân. Từ thời xa xưa con người đã biết làm nước uống bằng phương pháp lên men, tuy nhiên đến thế kỷ XVI việc sản xuất rượu mới trở thành một ngành công nghiệp và cũng từ đó ngày càng có nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật ứng dụng vào ngành công nghiệp này. Ở nước ta, nghề nấu rượu đã có từ lâu đời trong dân gian. Ở miền núi, đồng bào dân tộc dùng gạo, ngô, sắn nấu chín rồi cho lên men, men này được lấy từ lá cây hoặc cho lên men thuần khiết.
Ở một số nơi khác, người ta nuôi cấy và phát triển nấm men, nấm mốc trong thiên nhiên trên môi trường thích hợp để lên men rượu từ nguyên liệu tinh bột đã được nấu chín. Theo quan điểm về uống rượu của nhiều nhà khoa học: rượu ethylic nói theo y học là chất độc đối với con người. Điều này không ai chối cãi và rất đúng, nhưng chỉ đúng khi uống quá liều lượng cho phép đối với mỗi người. Mặt khác, ngoài thành phần chính là ethanol, trong rượu còn có một số hợp chất có giá trị dinh dưỡng như đường, các vitamine, một số nguyên tố vi lượng,.
Nếu thỉnh thoảng hoặc ngày một lần uống vào buổi tối không quá 50ml (một chén uống trà) rượu ngâm thuốc bắc thì chúng ta sẽ ăn và ngủ cũng tốt hơn. Lúc đó rượu sẽ làm tăng sức khỏe, con người sẽ cảm thấy sảng khoái thậm chí minh mẫn hơn. Về mặt kinh tế, ngành sản xuất rượu là ngành có vốn đầu tư ban đầu ít, khả năng thu hồi vốn nhanh, đem lại lợi nhuận cao, vì vậy nhiều nước trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đã và đang đầu tư phát triển ngành sản xuất rượu hợp (ngô và một số vị thuốc bắc) để lên men h 2 rượu từ nguyên liệu tinh bột được nấu chín. Vì vậy nguồn nguyên liệu trong sản xuất rượu đã góp phần tạo nên nét đặc trưng cho từng vùng, là một trong những yếu tố tạo nên giá trị truyền thống và đặc sắc cho sản phẩm của vùng đó, chẳng hạn như rượu Vân Hà – Đại Lâm thường gọi là rượu làng Vân (Hà Bắc), rượu cần Tây Nguyên, rượu Bầu Đá (Bình Định), rượu nếp than (nếp cẩm), rượu ngô men lá Hà Giang.
Riêng trường hợp rượu ngô, rượu ngô là sản phẩm độc đáo của người Tày, người Mông Miền Bắc nước ta là những trường hợp rất đáng lưu ý. Bởi vì đây là dòng “rượu gốc” với những nguyên liệu, men và quy trình trưng cất đặc trưng như một bí quyết công nghệ, rượu ngô được làm từ ngô và men lá đặc trưng của đồng bào. Ngô là một cây sản xuất nông nghiệp phổ biến của người dân nông thôn, nên có thể nói nguồn nguyên liệu là phong phú và có số lượng lớn, dễ kiếm. Tuy nhiên hiện nay rượu ngô chưa thực sự mang lại hiệu quả kinh tế cao cho đồng bào nói chung và người dân sản xuất rượu ngô tại Mậu Duệ nói riêng.
Xuất phát từ những thực tế trên và nhu cầu đưa sản xuất rượu mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân, được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn, với sự gợi ý đề tài của ThS. Lê Thị Thùy Linh, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển nghề sản xuất rượu truyền thống của người dân tại xã Mậu Duệ, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang”. Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu chung - Trên cơ sở đánh giá thực trạng sản xuất rượu truyền thống của người dân tại xã Mậu Duệ từ đó đề xuất giải pháp phát triển nghề sản xuất rượu truyền thống của người dân tại xã Mậu Duệ, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang.
Mục tiêu cụ thể - Phân tích, đánh giá được thực trạng sản xuất rượu truyền thống của người dân tại địa phương. - Tìm hiểu được những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất rượu truyền thống. - Đề xuất được một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất rượu của các hộ nông dân. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa học tập và nghiên cứu - Nâng cao kiến thức, kĩ năng và rút ra những bài học kinh nghiệm thực tế phục vụ cho học tập và công tác sau này. - Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập vào nghiên cứu. - Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập và xử lí thông tin của sinh viên trong quá trình nghiên cứu. Ý nghĩa thực tiễn - Đánh giá được đời sống vật chất, tinh thần của người dân hoạt động trong quá trình nghiên cứu.
- Đề xuất được những biện pháp khả thi nhằm nâng cao đời sống người dân nói riêng, góp phần ổn định xã hội nói chung. h 4 Chương 2 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Một số khái niệm cơ bản Rượu: Là đồ uống có chứa cồn thực phẩm, tên gọi hóa học là Ethyl Alcohol (C2H5OH). Rượu được sản xuất từ quá trình lên men, có hoặc không chưng cất từ tinh bột của các loại ngũ cốc, dịch đường của một số loại cây và hoa quả [8].
Các loại nước uống có chứa cồn lên men đã được biết đến từ thời tiền sử. Người Ai Cập và người Sumer là những người đầu tiên sản xuất bia, sau đó là rượu vang sản xuất từ các loại men hoang dã. Đây cũng là những người đầu tiên sử dụng rượu trong y học. Kết quả khảo cổ học mới đây đã củng cố giả thuyết cho rằng người Trung Hoa đã sản xuất được rượu từ 5000 năm trước Công nguyên.
Người ta đã tìm thấy nhiều di vật về đồ uống và dụng cụ sản xuất rượu từ thời Xuân Thu - Chiến Quốc [8]. Rượu truyền thống (rượu ngô men lá): Được trưng cất theo bí quyết của người dân tộc H”mông - Hà Giang, rượu được nấu kết hợp với nguồn nước đặt biệt từ khe nước núi đá của vùng núi, có mùi và vị đặc trưng từ ngô và men lá theo phương pháp thủ công gia truyền [9]. Sản xuất: Là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con người. Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng hay trao đổi trong thương mại.
Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề chính sau: sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? sản xuất như thế nào? Giá thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm. Hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế: Là phương diện của quá trình sản xuất cho biết kết h 5 hợp với các đầu vào yếu tố cho phép tối thiểu hóa chi phí sản xuất ra một mức sản lượng nhất định [5]. Cơ sở thực tiễn 2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ rượu trên thế giới Theo nghiên cứu của Marketline trong giai đoạn 5 năm (2009 - 2014) thì quy mô tiêu thụ đồ uống có cồn trên thế giới được dự đoán sẽ xấp xỉ con số 210 tỷ lít trong năm 2014, tốc độ tăng trưởng trong giai đoạn này là 10%.
Cũng theo báo cáo của Global Industry Analysts, sản lượng tiêu thụ rượu vang trên thế giới đến năm 2014 sẽ vượt mốc 26 tỷ lít. Các thị trường có tiền năng phát triển nhanh nhất là các quốc gia đang phát triển như Ấn Độ, Trung Quốc và Nga. Nhu cầu rượu vang chịu tác động bởi lợi ích về sức khỏe và mức độ phòng chống ung thư của nó, cũng như tác động phòng ngừa các bệnh như tim mạch, thoái hóa cơ, Alzhemer và các chứng bệnh khác liên quan đến vị giác. Thị hơn, một phần do sự phát triển của mạng internet giúp tăng khả năng bán lẻ trực tuyến.
Song sự cạnh tranh giữa các nhà sản xuất ngày càng quyết liệt. Các nhà cung cấp truyền thống hàng đầu như Pháp và Ý đang buộc phải cải thiện khả năng cạnh tranh của mình trước sự trỗi dậy của những cái tên như Australia và Trung Quốc. Bên cạnh đó, áp lực về giá do dư thừa ngồn cung đang trở thành vấn đề đối với thị trường rượu vang quốc tế [2]. Về rượu mạnh, MarketLine cho biết, giá trị thị trường này sẽ vượt mức 360 tỷ USD Vào năn 2015, tốc độ tăng trưởng trong 5 năm gần nhất đạt 17% sản lượng tiêu thụ tăng từ 19 tỷ lít (2010) lên 22 tỷ lít (2015), tăng 10%.
Dẫn đầu thị trường là whiskey (26% thị phần), ngoài ra còn phải kể đến Diageo (5% thị phần)… Châu Âu vẫn là thị trường tiêu thụ số một của mặt hàng này, chiếm 48% thị trường thế giới [2]. Tình hình sản xuất và tiêu thụ rượu ở Việt Nam Sơ lược sự phát triển ngành rượu Việt Nam: Cũng giống như các quốc gia khác trên thế giới, người Việt Nam đã biết nấu rượu và uống rượu từ thời rất xa xưa. Đối với người Việt Nam rượu là một dạng đồ uống và còn là một vị thuốc chữa bệnh (rượu ngâm, rượu thuốc) [3]. Nguyên liệu nấu rượu tại Việt Nam thường là gạo, thóc, ngô, sắn và bánh men thuốc bắc cổ truyền.
Ở một số vùng núi còn sử dụng các loại men lá cây. Với công nghệ thủ công truyền thống, chúng ta cũng đã có một số sản phẩm rượu nổi tiếng như rượu làng Vân, Bàu Đá, Kim Sơn, rượu Cần. Triển vọng đối với ngành rượu của Việt Nam là khá sáng sủa, có tốc độ tăng trưởng nhanh. Sản xuất rượu công nghiệp từ chỗ chỉ có nhà máy rượu Hà Nội và nhà máy rượu Bình Tây cách đây 100 năm, thì nay có 63 cơ sở sản xuất.
Sản lượng rượu công nghiệp năm 1988 ước tính là 95 triệu lít/năm (theo niên giám thống kê năm 1988). Song phải kể đến lượng rượu dân tự nấu rất lớn, có tới 200 triệu lít/ năm [3]. Thực trạng sản xuất rượu trong những năm qua theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2016 sản lượng rượu là 305,2 triệu lít. Trong đó rượu công nghiệp khoảng 70 triệu lít/năm, còn lại là rượu thủ công do dân tự nấu ở quy mô gia đình, quy mô nhỏ chiếm tới trên 200 triệu lít.
Nhìn vào biểu đồ ta thấy tổng sản lượng rượu từ năm 2014 đến năm 2016 giảm 2,6%, phù hợp với quy hoạch của ngành đã được Bộ Công Thương phê duyệt được nêu lên ở hình 2.