Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hoạt động gây nuôi động vật hoang dã (ĐVHD) vì mục đích thương mại đã và đang được nhìn nhận như một giải pháp thay thế nhằm giảm thiểu áp lực săn bắt, khai thác quá mức từ các quần thể tự nhiên, đồng thời đóng góp vào sinh kế của người dân khu vực nông thôn. Tuy nhiên, sự bùng phát của đại dịch Covid-19 với các biện pháp kiểm soát dịch bệnh nghiêm ngặt (như hạn chế di chuyển, đóng cửa biên giới, tạm ngừng dịch vụ ăn uống và nhà hàng) đã tác động sâu sắc đến toàn bộ chuỗi cung ứng và tiêu thụ động vật hoang dã trên phạm vi toàn cầu cũng như tại Việt Nam.

Tỉnh Tây Ninh là địa phương có truyền thống lâu đời về gây nuôi động vật hoang dã tại khu vực Đông Nam Bộ. Số liệu từ Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh cho thấy, vào năm 2010 toàn tỉnh từng cấp 1.279 giấy chứng nhận đăng ký cơ sở gây nuôi, nhưng đến thời điểm thực hiện đề tài đã có 1.106 cơ sở ngưng hoạt động, chỉ còn lại 173 cơ sở duy trì hoạt động ở mức độ cầm chừng. Quy mô đàn của nhiều loài có giá trị thương mại trước đây như Nhím (Porcupine) hay Rắn ráo trâu (Ptyas mucosa) sụt giảm nghiêm trọng. Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu về khung pháp lý và bảo tồn động vật hoang dã, nhưng các dữ liệu thực địa cập nhật về hiện trạng gây nuôi sau các đợt bùng phát dịch Covid-19 tại các địa phương của tỉnh Tây Ninh vẫn còn khoảng trống lớn. Từ thực tiễn đó, khóa luận tốt nghiệp ngành Quản lý tài nguyên rừng của sinh viên Bùi Xuân Tuyển đã được thực hiện nhằm cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học cho công tác quản lý và định hướng phát triển bền vững.

Mục tiêu chung của nghiên cứu là đánh giá hiện trạng hoạt động gây nuôi động vật hoang dã tại khu vực nghiên cứu sau ảnh hưởng của dịch Covid-19, đồng thời phân tích những tác động của đại dịch đến biến động số lượng cơ sở và thành phần loài.

Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Thống kê số lượng, quy mô và mục đích hoạt động của các cơ sở gây nuôi động vật hoang dã đang vận hành trên địa bàn.
  2. Xác định danh mục, số lượng cá thể và cơ cấu hộ nuôi phân theo từng loài động vật hoang dã.
  3. Phân tích đặc điểm phân bố không gian của các cơ sở gây nuôi tại từng địa phương.
  4. Đánh giá những thuận lợi, thời cơ cũng như khó khăn, thách thức đối với công tác gây nuôi.
  5. Đánh giá sơ bộ hiệu quả kinh tế - xã hội mang lại từ hoạt động gây nuôi thương mại.
  6. Khảo sát thực trạng áp dụng kỹ thuật chăn nuôi, nhu cầu và các hình thức phổ biến kỹ thuật cho người nuôi.
  7. Nhận diện và xếp hạng các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động gây nuôi.
  8. Lượng hóa mức độ tác động của dịch Covid-19 thông qua so sánh diễn biến số lượng cơ sở và số lượng loài nuôi giai đoạn trước và sau dịch (từ năm 2015 đến năm 2022).
  • Đối tượng nghiên cứu: Các cơ sở gây nuôi động vật hoang dã hoạt động hợp pháp dưới sự kiểm tra, quản lý của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tây Ninh.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu được khoanh vùng thực hiện tại 3 đơn vị hành chính cấp huyện/thị xã/thành phố trọng điểm của tỉnh Tây Ninh, gồm: thành phố Tây Ninh, thị xã Hòa Thành và huyện Dương Minh Châu.
  • Phạm vi thời gian: Quá trình thu thập số liệu ngoại nghiệp và xử lý dữ liệu nội nghiệp diễn ra trong khoảng thời gian 06 tháng, từ tháng 09 năm 2022 đến tháng 02 năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung pháp lý và cơ sở lý thuyết

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hệ thống các định nghĩa và quy chuẩn pháp lý hiện hành của Nhà nước Việt Nam về quản lý động vật hoang dã:

  • Động vật rừng thông thường, nuôi sinh trưởng, nuôi sinh sản và cơ sở nuôi: Căn cứ theo Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ (về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước CITES) và Nghị định sửa đổi, bổ sung số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/09/2021.
  • Khái niệm về hành vi và tội phạm vi phạm quy định bảo vệ ĐVHD: Áp dụng Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP ngày 05/11/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 234 và Điều 244 của Bộ luật Hình sự.
  • Truy xuất nguồn gốc và cấp phép: Thông tư số 27/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về quản lý, truy xuất nguồn gốc lâm sản; Thông tư số 47/2012/TT-BNNPTNT về quản lý khai thác từ tự nhiên và nuôi động vật rừng thông thường; Thông tư số 25/2016/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
  • Các văn bản chỉ đạo phòng chống dịch và kiểm soát buôn bán ĐVHD: Chỉ thị số 29/CT-TTg ngày 23/07/2020 của Thủ tướng Chính phủ về một số giải pháp cấp bách quản lý động vật hoang dã; Chỉ thị số 08/CT-UBND ngày 14/08/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh; Chỉ thị số 04/CT-TTg ngày 17/05/2022 về bảo tồn chim hoang dã, di cư; Chỉ thị số 28/CT-TTg (2016) và Chỉ thị số 03/CT-TTg (2014); Quyết định số 11/2013/QĐ-TTg cấm buôn bán mẫu vật voi châu Phi, tê giác trắng, tê giác đen; các cam kết quốc tế theo Công ước CITES và Công ước Đa dạng sinh học (CBD).

Bên cạnh đó, đề tài kế thừa các nghiên cứu về vai trò đa mục tiêu của nghề gây nuôi ĐVHD: cung cấp thực phẩm đặc sản, cung cấp nguyên liệu da lông cho công nghiệp tiêu dùng mỹ nghệ, cung cấp dược liệu y học cổ truyền (dẫn chứng từ tác phẩm Nam dược thần hiệu của Tuệ Tĩnh và Lĩnh nam bản thảo của Hải Thượng Lãn Ông), làm vật nuôi sinh vật cảnh, phục vụ nghiên cứu khoa học và bảo tồn chuyển chỗ (Ex situ).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp đồng bộ giữa điều tra thực địa ngoại nghiệp và phân tích định lượng, định tính nội nghiệp:

  • Phương pháp thu thập số liệu ngoại nghiệp:
    • Ứng dụng công nghệ định vị di động: Tác giả sử dụng ứng dụng phần mềm Locus Map cài đặt trên điện thoại thông minh kết hợp với la bàn và bản đồ hành chính địa phương để đo đạc, ghi nhận tọa độ không gian chính xác tại từng cơ sở gây nuôi và chụp ảnh kiểm chứng.
    • Điều tra phỏng vấn: Sử dụng phiếu hỏi bán cấu trúc (thiết kế tại Phụ lục 4 và Phụ lục 5) để phỏng vấn trực tiếp toàn bộ 47 chủ cơ sở gây nuôi ĐVHD đang vận hành tại 3 địa phương và các cán bộ phụ trách chuyên môn thuộc Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh.
  • Phương pháp tổng hợp và phân tích nội nghiệp:
    • Thống kê sinh học và mô tả: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để nhập liệu, chuẩn hóa dữ liệu, tính toán các chỉ số cơ cấu đàn, tỷ lệ phần trăm số hộ, số cá thể và lập các biểu đồ trực quan.
    • Phương pháp phân tích SWOT: Xây dựng ma trận ma trận Điểm mạnh (Strengths), Điểm yếu (Weaknesses), Cơ hội (Opportunities) và Thách thức (Threats) nhằm đánh giá tổng thể hiện trạng sản xuất và bối cảnh thể chế quản lý tại địa phương.
    • Xây dựng bản đồ chuyên đề bằng GIS: Ứng dụng phần mềm chuyên ngành MapInfo để nhập dữ liệu tọa độ từ Locus Map (hệ tọa độ VN-2000, kinh tuyến trục 105.5), từ đó biên tập và xuất bản đồ phân bố các trang trại gây nuôi tại TP. Tây Ninh, TX. Hòa Thành, H. Dương Minh Châu và toàn bộ vùng nghiên cứu.
    • Phương pháp kế thừa tài liệu: Thu thập và đối chiếu báo cáo chuyên đề của Tổng cục Lâm nghiệp (VNFOREST), Cục Lâm nghiệp các tỉnh, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Quốc hội, các tổ chức quốc tế (FAO ECTAD, WCS) cùng các số liệu thống kê kinh tế - xã hội của tỉnh Tây Ninh năm 2020-2022.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Mở đầu

Chương này xác lập tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh các quy định kiểm soát dịch bệnh Covid-19 và rà soát buôn bán ĐVHD siết chặt đã làm đảo lộn thị trường chăn nuôi truyền thống tại Tây Ninh. Tác giả trình bày mục tiêu nghiên cứu là làm rõ thực trạng sau dịch Covid-19 nhằm định hướng quản lý bền vững; xác định rõ đối tượng là các cơ sở nuôi chịu sự giám sát của Chi cục Kiểm lâm và giới hạn không gian nghiên cứu trong 3 địa phương (TP. Tây Ninh, TX. Hòa Thành, H. Dương Minh Châu) trong thời gian 6 tháng (từ tháng 9/2022 đến tháng 2/2023).

Chương 2: Tổng quan nghiên cứu

Nội dung chương 2 hệ thống hóa các định nghĩa luật học về động vật hoang dã, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng theo Nghị định 06/2019/NĐ-CP và Nghị quyết 05/2018/NQ-HĐTP. Tác giả tổng thuật chi tiết hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam liên quan đến bảo tồn và gây nuôi ĐVHD từ Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia 2003 đến các chỉ thị tăng cường quản lý năm 2020–2022; đồng thời chỉ ra 7 điểm hạn chế còn tồn tại trong chính sách hiện nay (như nặng về tiêu chuẩn khoa học khó áp dụng cho nông dân, thiếu chính sách vốn, chưa có quy trình chuyển giao kỹ thuật bài bản). Chương này cũng tổng hợp vai trò của ngành gây nuôi (kinh tế, thực phẩm, da lông, dược liệu) và lược khảo các công trình nghiên cứu nổi bật trên thế giới (Jessica Bell Rizzolo, Marina Salas, Andrea Santangeli) cũng như tại Việt Nam (các công bố của Phạm Thu Thủy, Nguyễn Thị Kiều Nương, WCS, FAO). Số liệu trích dẫn chỉ ra bức tranh chung cả nước: số lượng giấy phép trang trại ĐVHD do Tổng cục Lâm nghiệp cấp giảm mạnh từ 565 giấy phép (năm 2019) xuống còn 110 giấy phép (năm 2020), phần lớn thuộc nhóm IIB.

Chương 3: Đặc điểm khu vực, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Tác giả phân tích các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến hoạt động chăn nuôi tại tỉnh Tây Ninh:

  • Tự nhiên: Vị trí chuyển tiếp giữa cao nguyên Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long; địa hình gồm vùng núi (núi Bà Đen cao 986 m), vùng bán bình nguyên dưới 50 m lượn sóng, vùng gò đồi dưới 150 m và vùng bãi bồi ven sông Vàm Cỏ Đông; khí hậu nhiệt đới gió mùa ôn hòa với nhiệt độ trung bình 26–27°C, nguồn nước dồi dào từ hồ Dầu Tiếng (dung tích 1,45 tỷ m³); đất xám chiếm ưu thế tuyệt đối (trên 84% diện tích tự nhiên), rất thuận lợi cho mở rộng chuồng trại.
  • Xã hội: Dân số năm 2020 đạt 1.178.329 người, lao động làm việc trong ngành nông nghiệp chiếm 45%, tạo nguồn nhân lực sẵn có cho chăn nuôi.
  • Quy trình phương pháp: Trình bày chi tiết các bước từ công tác chuẩn bị thiết bị (Locus Map, phiếu điều tra, bản đồ), thu thập số liệu thực địa, phỏng vấn chủ cơ sở và cán bộ kiểm lâm, đến xử lý nội nghiệp trên phần mềm Excel, MapInfo và phân tích SWOT.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Đây là chương nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn bộ các phát hiện định lượng và định tính:

  • Hiện trạng tại từng địa phương: Khảo sát chi tiết 15 cơ sở tại TP. Tây Ninh (14 loài, 3.818 cá thể), 13 cơ sở tại TX. Hòa Thành và 19 cơ sở tại H. Dương Minh Châu. Toàn bộ 100% cơ sở đều gây nuôi nhằm mục đích thương mại.
  • So sánh và phân bố không gian: Chỉ ra tính phân tán và không đồng đều giữa các xã/phường. Tại TP. Tây Ninh, phường Ninh Sơn và xã Thạnh Tân tập trung nhiều cơ sở nhất (mỗi nơi có 4 cơ sở, chiếm 53,3% toàn thành phố), trong khi phường 2, phường 3 và phường Ninh Thạnh không còn cơ sở nào hoạt động.
  • Phân tích SWOT: Nhận diện rõ điểm mạnh về kinh nghiệm chăn nuôi và quỹ đất; điểm yếu về kỹ thuật thú y tự phát; cơ hội từ nhu cầu thị trường đặc sản phục hồi; và thách thức lớn từ biến động thị trường, dịch bệnh và rào cản thủ tục pháp lý.
  • Hiệu quả kinh tế và kỹ thuật chăn nuôi: Đánh giá tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư của một số loài chính; phân tích thực trạng người nuôi chủ yếu học hỏi qua kinh nghiệm truyền miệng hoặc mạng xã hội, chưa được tập huấn bài bản và bày tỏ nhu cầu rất cao về chuyển giao kỹ thuật.
  • Nhận diện 8 yếu tố ảnh hưởng: Xếp hạng tác động của thị trường tiêu thụ (yếu tố lớn nhất), vốn đầu tư, con giống, dịch bệnh, chính sách, thức ăn, thời tiết và chuồng trại.
  • Tác động của đại dịch Covid-19: Phân tích số liệu lịch sử giai đoạn 2015–2018 và 2019–2022, chứng minh đại dịch đã trực tiếp làm sụt giảm nghiêm trọng cả về số lượng cơ sở lẫn tính đa dạng loài nuôi.

Kết quả và đóng góp

Dữ liệu định lượng thực địa

Nghiên cứu đã khảo sát và thu thập dữ liệu toàn diện trên 47 cơ sở gây nuôi động vật hoang dã còn đang hoạt động tại 3 địa phương khảo sát thuộc tỉnh Tây Ninh. Tổng cộng có 27 loài ĐVHD đang được quản lý gây nuôi. Trong đó, Cầy vòi hương (Paradoxurus hermaphroditus) là loài chiếm ưu thế tuyệt đối khi có tới 36 trên tổng số 47 cơ sở lựa chọn gây nuôi.

Đơn vị hành chính Số cơ sở đang hoạt động Tỷ lệ cơ sở (%) Số loài ĐVHD ghi nhận Mục đích nuôi
Thành phố Tây Ninh 15 31,9 14 100% Thương mại
Thị xã Hòa Thành 13 27,7 10 100% Thương mại
Huyện Dương Minh Châu 19 40,4 11 100% Thương mại
Tổng cộng vùng khảo sát 47 100,0 27 (loài duy nhất) 100% Thương mại

Tại địa bàn Thành phố Tây Ninh, sự phân hóa về quy mô và cơ cấu đàn thể hiện rất rõ rệt qua 14 loài với tổng số 3.818 cá thể được ghi nhận tại 15 cơ sở:

STT Tên loài Việt Nam Tên khoa học Số cá thể Tỷ lệ cá thể (%) Số cơ sở nuôi Tỷ lệ cơ sở (%)
1 Rùa đất lớn Heosemys grandis 621 16,3 2 6,5
2 Rùa hộp lưng đen Cuora amboinensis 615 16,2 2 6,5
3 Rùa đất Sê Pôn Cyclemys tcheponensis 554 14,6 2 6,5
4 Rùa núi vàng Indotestudo elongata 434 11,4 2 6,5
5 Cầy vòi hương Paradoxurus hermaphroditus 330 8,7 13 41,9
6 Rắn ri voi Subsessor bocourti 210 5,5 1 3,2
7 Rắn sọc dưa Coelognathus radiatus 200 5,3 1 3,2
8 Rắn ráo thường Ptyas korros 193 5,1 1 3,2
9 Rắn ráo trâu Ptyas mucosa 172 4,5 1 3,2
10 Rùa càng đước Heosemys annandalii 165 4,3 2 6,5
11 Kỳ đà hoa Varanus salvator 149 3,9 1 3,2
12 Dúi mốc nhỏ Rhizomys sinensis 100 2,6 1 3,2
13 Rắn hổ mang Naja naja 50 1,3 1 3,2
14 Công Ấn Độ Pavo cristatus 8 0,2 1 3,2
Tổng 14 loài 3.818 100,0 31 (cộng dồn) 100,0

Ghi chú số liệu:

  • Hai cơ sở quy mô lớn chuyên nuôi xuất khẩu tại TP. Tây Ninh là trang trại ông Nguyễn Công Quang (xã Bình Minh) với 12 loài (chiếm 38,7% tổng số lượt loài gây nuôi) và trang trại bà Lý Thị Thắm (phường Ninh Sơn) với 6 loài (chiếm 19,4%). 13 cơ sở còn lại là các hộ chăn nuôi chuyên canh một loài duy nhất, chủ yếu là Cầy vòi hương (13/15 cơ sở nuôi, đạt 86,7% tổng số hộ của thành phố).
  • Các loài bò sát dạng rùa nước ngọt chiếm số lượng cá thể lớn nhất (nhóm 4 loài rùa dẫn đầu chiếm gần 60% tổng đàn), tuy nhiên chỉ tập trung tại 2 trang trại lớn.
  • Tại thị xã Hòa Thành, cơ sở ông Trần Quang Ninh (xã Long Hoa) nuôi đa dạng nhất với 5 loài (27,8% số lượt loài), tiếp đến là cơ sở ông Lý Quang Nam (xã Trường Đông) nuôi 2 loài (11,1%), 11 cơ sở còn lại nuôi đơn loài.

Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng và tác động của đại dịch Covid-19

  • 8 yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất: Kết quả điều tra xác định 8 yếu tố chính bao gồm: thị trường tiêu thụ, vốn đầu tư, con giống, dịch bệnh, chính sách quản lý, nguồn thức ăn, điều kiện thời tiết và quy cách chuồng trại. Trong đó, thị trường tiêu thụ được người nuôi đánh giá là yếu tố có tầm ảnh hưởng lớn nhất, chi phối trực tiếp đến sự tồn tại của cơ sở.
  • Tác động tiêu cực của Covid-19: Đại dịch đã gây ra sự đứt gãy nghiêm trọng đối với ngành gây nuôi tại khu vực. Việc áp dụng các biện pháp cách ly xã hội, cấm tụ tập, đóng cửa chuỗi nhà hàng đặc sản và hạn chế lưu thông, xuất khẩu đã khiến đầu ra bị tắc nghẽn, trong khi chi phí duy trì thức ăn chuồng trại tăng cao. Tác động kép này làm suy giảm mạnh mẽ cả về số lượng cơ sở nuôi lẫn số lượng loài gây nuôi so với giai đoạn 2015–2018.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  1. Đối với cơ quan quản lý và Chi cục Kiểm lâm: Đơn giản hóa thủ tục hành chính về đăng ký mã số cơ sở nuôi nhưng đồng thời tăng cường biện pháp kỹ thuật gắn chip, bấm thẻ hoặc đánh dấu mẫu vật để kiểm soát nguồn gốc, ngăn chặn triệt để tình trạng đầu nậu trà trộn ĐVHD săn bắt trái phép ngoài tự nhiên vào trại nuôi hợp pháp. Cần có cơ chế khen thưởng cụ thể cho người dân tố giác hành vi khai thác động vật hoang dã trái phép.
  2. Đối với chính sách kinh tế và tín dụng: Nhà nước cần có các gói hỗ trợ vốn vay ưu đãi dành cho các cơ sở gây nuôi hợp pháp nhằm khôi phục đàn giống hậu Covid-19, từng bước đưa nghề nuôi ĐVHD trở thành một nhánh kinh tế hàng hóa chính thống tạo việc làm cho lao động nông thôn.
  3. Về kỹ thuật và dịch tễ: Các cơ quan khuyến nông, lâm nghiệp cần phối hợp với trường đại học chuyển giao quy trình kỹ thuật chăn nuôi sinh sản chuẩn hóa, hướng dẫn phòng trừ dịch bệnh động vật và phòng ngừa rủi ro lây truyền bệnh từ động vật sang người.

Đóng góp của công trình

  • Đây là nghiên cứu thực địa đầu tiên cung cấp bức tranh dữ liệu chi tiết, có hệ thống về hiện trạng ngành gây nuôi ĐVHD tại Tây Ninh ngay sau khi đại dịch Covid-19 được kiểm soát (cuối năm 2022 - đầu năm 2023).
  • Ứng dụng thành công công nghệ số trong điều tra lâm nghiệp (kết hợp Locus Map và MapInfo), số hóa dữ liệu vị trí tọa độ của toàn bộ các trang trại phục vụ quản lý không gian trực quan.
  • Chỉ rõ khoảng cách giữa các văn bản pháp luật hiện hành và thực tế sản xuất tại địa phương, làm cơ sở thực chứng để hoàn thiện các quy định quản lý chuyên ngành.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Do điều kiện giới hạn về thời gian thực hiện của một khóa luận tốt nghiệp đại học (06 tháng) và kinh phí có hạn, nghiên cứu mới chỉ tiến hành khảo sát tập trung tại 3 đơn vị hành chính (TP. Tây Ninh, TX. Hòa Thành và H. Dương Minh Châu), chưa thể bao quát toàn bộ 9 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Tây Ninh. Bên cạnh đó, số liệu biến động lịch sử giai đoạn trước dịch (2015–2018) chủ yếu kế thừa từ hồ sơ lưu trữ của kiểm lâm và hồi cố của người nuôi, chưa thực hiện được các phân tích sâu về chuỗi cung ứng dịch tễ và xét nghiệm mầm bệnh thực tế tại các trại nuôi.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng phạm vi điều tra thực địa trên toàn bộ địa bàn tỉnh Tây Ninh, đặc biệt là các huyện biên giới giáp Campuchia (Tân Biên, Tân Châu, Bến Cầu) - nơi có vị trí địa lý nhạy cảm đối với việc vận chuyển động vật hoang dã.
    • Tiến hành các nghiên cứu chuyên sâu về phân tích chuỗi giá trị và thị trường tiêu thụ của loài nuôi chủ lực là Cầy vòi hương (Paradoxurus hermaphroditus).
    • Đánh giá định lượng về nguy cơ an toàn sinh học và tương tác mầm bệnh lây truyền giữa động vật gây nuôi và sức khỏe cộng đồng trong điều kiện nuôi nhốt nhân tạo.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Chăn nuôi, Bảo tồn đa dạng sinh học và Quản lý môi trường sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu thực địa liên quan.
    • Cán bộ kỹ thuật, lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm các tỉnh khu vực Đông Nam Bộ và Tây Nguyên làm căn cứ thực tiễn để đánh giá hiện trạng cơ sở nuôi sau dịch bệnh và xây dựng phương án quản lý cấp mã số trại nuôi.
    • Các hộ chăn nuôi và chủ trang trại ĐVHD thương mại tham khảo về cơ cấu loài, mức độ rủi ro và các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao nhất:
    • Quy trình ứng dụng phần mềm Locus Map trên điện thoại di động kết hợp bản đồ vệ tinh để định vị và trích xuất tọa độ cơ sở chăn nuôi đưa vào phần mềm MapInfo.
    • Phương pháp thiết kế bảng hỏi và bảng ma trận SWOT trong đánh giá chính sách và thực trạng sản xuất nông lâm nghiệp.
    • Hệ thống dữ liệu danh mục loài, tên khoa học và số lượng cá thể của 14 loài ĐVHD tại TP. Tây Ninh, đặc biệt là số liệu chi tiết về 4 loài rùa nước ngọt quý hiếm và Cầy vòi hương.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại Thành phố Tây Ninh, cơ sở nào có số lượng loài động vật hoang dã gây nuôi đa dạng nhất?

Theo kết quả điều tra tại Bảng 4.1 của khóa luận, trang trại của ông Nguyễn Công Quang tại xã Bình Minh là cơ sở có số lượng loài nuôi đa dạng nhất với 12 loài ĐVHD (chiếm 38,7% tổng số loài cộng dồn của toàn thành phố). Kế tiếp là trang trại của bà Lý Thị Thắm tại phường Ninh Sơn nuôi 6 loài (chiếm 19,4%). Toàn bộ 13 cơ sở còn lại tại thành phố chỉ nuôi duy nhất một loài chuyên canh.

2. Loài động vật hoang dã nào chiếm ưu thế tuyệt đối về số lượng cơ sở chọn nuôi tại khu vực khảo sát?

Cầy vòi hương (Paradoxurus hermaphroditus) là loài chiếm ưu thế tuyệt đối trong cơ cấu hộ nuôi. Trong tổng số 47 cơ sở đang hoạt động tại 3 địa phương khảo sát, có tới 36 cơ sở lựa chọn gây nuôi loài này. Riêng tại TP. Tây Ninh, Cầy vòi hương có mặt tại 13 trên tổng số 15 cơ sở (đạt tỷ lệ 86,7%).

3. Số lượng cơ sở gây nuôi ĐVHD tại tỉnh Tây Ninh đã biến động như thế nào từ năm 2010 đến thời điểm nghiên cứu?

Theo số liệu thống kê của Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh được trích dẫn trong khóa luận, vào năm 2010 đơn vị này đã từng cấp 1.279 giấy chứng nhận đăng ký gây nuôi ĐVHD. Tuy nhiên, tính đến thời điểm nghiên cứu (cuối năm 2022 - đầu năm 2023), đã có 1.106 cơ sở ngưng hoạt động, toàn tỉnh chỉ còn lại 173 cơ sở đang hoạt động nhưng phần lớn ở mức độ cầm chừng.

4. Trong 8 yếu tố được xác định, yếu tố nào ảnh hưởng lớn nhất đến hiệu quả hoạt động gây nuôi ĐVHD?

Tác giả xác định 8 yếu tố chính gồm: thị trường tiêu thụ, vốn đầu tư, con giống, dịch bệnh, chính sách, thức ăn, thời tiết và chuồng trại. Trong đó, thị trường tiêu thụ là yếu tố có tác động lớn nhất, do các biện pháp giãn cách trong dịch Covid-19 và việc đóng cửa các nhà hàng đặc sản đã làm đình trệ toàn bộ đầu ra thương mại.

5. Tác giả đã sử dụng những công cụ và phần mềm nào để thực hiện việc điều tra thực địa và biên tập bản đồ?

Tác giả đã sử dụng ứng dụng Locus Map trên điện thoại di động để lấy tọa độ định vị GPS của các trang trại ngoài thực địa, dùng Microsoft Excel để tổng hợp và xử lý dữ liệu thống kê, và ứng dụng phần mềm MapInfo để xây dựng hệ thống bản đồ phân bố các trang trại gây nuôi theo hệ quy chiếu VN-2000.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của Bùi Xuân Tuyển đã phản ánh trung thực và toàn diện bức tranh suy giảm của hoạt động gây nuôi động vật hoang dã tại tỉnh Tây Ninh dưới tác động sâu sắc của đại dịch Covid-19 và các rào cản về thị trường, kỹ thuật. Nghiên cứu đã tổng hợp được số liệu thực tế từ 47 cơ sở đang duy trì nuôi 27 loài ĐVHD (trong đó Cầy vòi hương chiếm ưu thế vượt trội tại 36 cơ sở), đồng thời ứng dụng hiệu quả công cụ GIS di động và MapInfo để số hóa bản đồ phân bố trại nuôi. Công trình cung cấp các luận cứ khoa học và thực tiễn xác đáng, hỗ trợ tích cực cho Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh và các nhà hoạch định chính sách trong việc hoàn thiện thể chế quản lý, hướng tới cân bằng giữa phát triển sinh kế kinh tế và bảo tồn đa dạng sinh học bền vững.