Đặt vấn đề Động vật hoang đã là một phần quan trọng trong hệ sinh thái toàn cầu của chúng ta và là nguồn tài nguyên không thê thiếu đối với cuộc sống của con người. Từ thời cô đại, động vật hoang da và các sản phẩm của chúng đã đóng một vai trò quan trọng trong sự tiến hóa của loài người và sự phát triển của các nền văn minh nhân loại. Với sự gia tăng liên tục của dân số toàn cầu và sự phát triển nhanh chóng của hoạt động sử dụng đất nông nghiệp và công nghiệp, nhiều loài động vật hoang dã đã và đang bị đe dọa nghiêm trọng, nếu không muốn nói là tuyệt chủng (Daleszczyk và cộng sự, 2016). Tuy nhiên, trong những thập kỷ gần đây, giá trị sinh thái và xã hội của động vật hoang dã ngày càng được các cơ quan chính phủ, tổ chức phi chính phủ (NGO), phương tiện truyền thông và công chúng công nhận (Sekercioglu, 2006).
Vi các biện pháp can thiệp và thực thi pháp luật hiện tại không thể tránh được sự tuyệt chủng của các loài, nên phải xem xét một cách tiếp cận thay thế. Người ta đã gợi ý rang chăn nuôi thương mại có thé ngăn chặn áp lực đối với các quan thé hoang dã, được gọi là gây nuôi động vật hoang dã (Laura Tense, 2016). Ké từ khi dich Covid-19 bùng phát thì nó đã có những ảnh hưởng nặng nề đối với nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Đối với chăn nuôi trong đó có ngành gây nuôi động vật hoang dã, do tác động của các biện pháp hạn chế dịch bệnh được các nước ban hành như đóng cửa biên giới, cấm hoặc hạn chế vận chuyên hàng hóa, cắm tụ tập đông người, cấm mở cửa các nhà hàng,.
đã gây ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh khác nhau của ngành tại Việt Nam cũng như trên dia ban tỉnh Tay Ninh. Tây Ninh là địa phương có lịch sử lâu đời về gây nuôi động vật hoang dã. Theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh thì trước đây vào năm 2010 đơn vị này đã cấp tông cộng 1.279 giấy chứng nhận đăng ký gây nuôi động vật hoang dã nhưng tinh đến thời điểm hiện nay đã có 1.106 cơ sở ngưng hoạt động. Hiện nay còn lại 173 cơ sở đang hoạt động nhưng nhiều cơ sở cũng chỉ hoạt động ở mức cầm chừng.
Tình trạng các loài như Nhim (Porcupine), Ran ráo trâu (Ptyas mucosa) liên tục giảm mạnh. Tại các trang trại này, động vật hoang da được nuôi và nhân giống trong điều kiện nuôi nhốt nhằm mục đích khai thác con giống triệt dé hay các sản phầm từ chúng vì mục đích thương mại. Trước đây đã có các công trình nghiên cứu từ các cá nhân và tô chức về động vật hoang dã tại Việt Nam ở các vấn đề như: khả năng bảo tồn, khung pháp lý, nhận thức của các nhà hoạt động chính sách,. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nảo điều tra được hiện trang gây nuôi động vật hoang da sau dịch Covid-19 cũng như đánh gia những tác động của Covid-19 đến tình hình gây nuôi tại các địa phương của tỉnh Tây Ninh, từ đó làm cơ sở cho những nghiên cứu sau này tìm ra hướng phát triển hoạt động gây nuôi động vật hoang dã bền vững tại đây.
Từ những thực tiễn nêu trên, đề tài “Hiện trạng gây nuôi động vật hoang dã sau ảnh hưởng của dịch Covid-19 tại một số địa phương trên địa bàn tỉnh Tây Ninh” đã được thực hiện. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá hiện trạng chung về hoạt động gây nuôi động vật hoang dã tại khu vực nghiên cứu sau ảnh hưởng của dịch Covid-19 và những tác động của nó đến tình hình gây nuôi. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu Các cơ sở gây nuôi động vật hoang dã dưới sự quản lý của Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh.
Phạm vi nghiên cứu Trong khuôn khổ của một khóa luận tốt nghiệp, nghiên cứu chỉ được thực hiện tại 3 địa phương là: thành phố Tây Ninh, thị xã Hòa Thành và Huyện Dương Minh Châu tỉnh Tây Ninh trong thời gian là 06 tháng, từ tháng 09/2022 đến tháng 02/2023. Chương 2 TONG QUAN NGHIÊN CUU 2. Dong vat hoang da va cac khai niém lién quan Theo Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22 tháng 01 năm 2019 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, DVR nguy cấp, quý, hiếm và thực thi công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp thì: - Cơ sở nuôi bao gồm cơ sở nuôi sinh trưởng, nuôi sinh sản loài DVR nguy cấp, quý, hiếm và/hoặc loài DVHD nguy cấp thuộc các Phụ lục CITES và/hoặc loài DVR thông thường không vì mục đích thương mại hoặc vì mục đích thương mại. - Nuôi sinh trưởng là hình thức nuôi giữ con non, trứng của các loài ĐVHD khai thác từ tự nhiên dé nuôi lớn, cho ấp nở thanh các cá thể con trong môi trường có kiểm soát.
- Nuôi sinh san là hình thức nuôi giữ DVHD để san sinh ra các thế hệ kế tiếp trong môi trường có kiểm soát. - Động vật rừng thông thường là các loài DVR thuộc các lớp thú, chim, bò sat, lưỡng cư và không thuộc: Danh mục loài DVR nguy cấp, quý, hiếm do Chính phủ ban hành hoặc Danh mục các loải thuộc Phụ lục CITES; Danh mục động vật được nuôi, thuần hoá thành vật nuôi theo quy định của pháp luật về chăn nuôi. Theo Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 11 năm 2018 của Hội đồng thâm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng điều 234 về tội vi phạm quy định về bảo vệ DVHD và điều 244 về tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm của bộ luật hình sự thì: - Động vật hoang đã quy định tại Điều 234 của Bộ luật Hình sự là các loài động vật rừng thông thường và các loài động vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIB theo quy định của Chính phủ hoặc Phụ lục II, Phụ luc III Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang da nguy cấp. - Gây nuôi động vật hoang da là quá trình thuần dưỡng, nuôi sinh trưởng và nuôi sinh sản động vật sông hoang đã ngoài tự nhiên trong môi trường nuôi nhốt nhân tạo.
Theo mục đích của nghiên cứu này, cơ sở gây nuôi động vật hoang dã được định nghĩa là địa điểm gây nuôi, chuông trại hay các hoạt động gây nuôi một loài động vật hoang dã nhằm mục đích khai thác sản phẩm của chúng cho nhiều mục đích. Hệ thống các văn bản chính sách liên quan đến hoạt động gây nuôi, phát triển ĐVHD Nhận thức được giá trị tài nguyên thiên nhiên và tiềm năng đa dạng sinh học đối với việc phát triển kinh tế — xã hội, Việt Nam đã xây dựng được nhiều chính sách nhằm định hướng cho quản lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, trong đó bao gồm các chính sách nhắn mạnh và khuyến khích việc khai thác bền vững tài nguyên thiên nhiên, nuôi trudng các loài động vật hoang dã có giá trị kinh tế và cả những loài có số lượng it dé bao tồn. Dưới đây là các chính sách chính có các định hướng cho hoạt động khai thác, nuôi trồng và BBDVHD ở Việt Nam: - Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 (2003) nhắn mạnh: “Kiểm soát chặt chẽ việc buôn bán các loài qúy hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng cao; loại bỏ các phương thức khai thác hủy diệt, đặc biệt trong khai thác thủy sản; day mạnh các biện pháp bảo tồn nội vi kết hợp với bảo tồn ngoại vi”. - Kế hoạch hành động quốc gia về tang cường kiểm soát buôn ban động, thực vật hoang dã đến năm 2010 (2004) có nhận định: “.
Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng khai thác săn bắn, vận chuyên, buôn bán và sử dụng bat hợp pháp DVHD diễn ra nghiêm trọng trong nên kinh tế thị trường. Công tác kiểm soát BBD VHD hiện chưa đạt được hiệu lực và hiệu quả mong muốn. Đề khắc phục tình trạng trên, Kế hoạch hành động đã đưa ra mục tiêu chung là: “Tăng cường hiệu lực và hiệu quả kiểm soát của các cơ quan chức năng dé ngăn chặn nạn buôn bán bat hợp pháp DVHD, tiến tới quản lý bền vững và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên DVHD, góp phan thiết thực vào việc thực hiện Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010”. - Kế hoạch hành động quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, thực hiện Công ước Đa dạng Sinh học (CBD) và Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học (2007), cũng nhân mạnh: “Xây dựng và phát triển mô hình sử dụng mô hình bền vững tài nguyên sinh vật; kiểm soát phòng ngừa, ngăn chặn và loại trừ việc khai thác, kinh doanh, tiêu thụ các động, thực vật hoang dã quý, hiếm, nguy cấp,.
Nghiên cứu xây dựng quy trình gây nuôi sinh sản một số động vật có giá trị kinh tế ngoài danh mục các loài cần bảo tồn, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trên thị trường. Quy hoạch phát triển các cơ sở gây nuôi sinh sản và trồng cấy nhân tạo các loài, thực vật hoang dã gắn với bảo tồn các loài động, thực vật đang có nguy cơ bị đe dọa”. - Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 — 2020 (2007) định hướng: “. Bảo tồn rừng phải kết hợp giữa bảo tồn tại chỗ (In situ) với bảo tồn ngoài nơi cư trú tự nhiên trên diện rộng (Ex situ), kết hợp với phát triển gây nuôi động vật rừng theo hướng đạt hiệu quả kinh tế cao và được kiểm soát theo quy định của pháp luật nhằm tạo nguồn hàng hóa, phục vụ bảo tồn rừng”.
- Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22 tháng 01 năm 2019 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang đã nguy cấp. Nghị định này đã quy định Danh mục các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; chế độ quản lý, bảo vệ, trình tự, thủ tục khai thác các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; nuôi động vật rừng thông thường; thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang da nguy cấp (sau đây viết tắt là CITES) tại Việt Nam. - Thông tư số 27/2018/TT-BNNPTNT ngày 16 tháng 11 năm 2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về quản lý, truy xuất nguồn gốc lâm sản.