Tổng quan nghiên cứu

Thương mại động vật hoang dã trái phép trên toàn cầu ước tính đạt lợi nhuận hơn 21 tỷ USD mỗi năm, trong đó các loài chim ăn thịt luôn nằm trong 4 nhóm động vật sống thuộc Công ước CITES bị bắt giữ nhiều nhất thế giới. Tại Việt Nam, sự gia tăng nhanh chóng của phong trào nuôi chim săn mồi và nhu cầu sinh vật cảnh đã tạo nên áp lực khai thác nghiêm trọng lên các quần thể tự nhiên. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Động vật học của tác giả Nguyễn Anh Tuấn, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Lê Mạnh Hùng tại Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, tập trung giải quyết bài toán cấp bách về đánh giá toàn diện hiện trạng buôn bán chim ăn thịt và đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn thực thi.

Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là xác định thành phần loài, quy mô, giá cả, phương thức giao dịch và đánh giá năng lực quản lý nhà nước đối với nhóm chim ăn thịt ban ngày thuộc bộ Cắt tại 8 tỉnh, thành phố trọng điểm gồm Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Thành phố Hồ Chí Minh và Kiên Giang trong giai đoạn 2015 - 2018. Kết quả nghiên cứu đóng vai trò là công trình đầu tiên tại Việt Nam cung cấp hệ số dữ liệu thị trường có tính hệ thống, chỉ rõ khoảng trống chính sách khi có tới 21 loài chim ăn thịt ghi nhận buôn bán đều thuộc phụ lục CITES nhưng chỉ có 1 loài được đưa vào nhóm hạn chế khai thác thương mại theo quy định pháp luật trong nước tại thời điểm khảo sát.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết sinh thái học quần thể và vai trò sinh thái của loài chỉ thị đỉnh chuỗi thức ăn để phân tích tác động của hoạt động khai thác quá mức đến cấu trúc hệ sinh thái rừng. Khung pháp lý quốc tế dựa trên Công ước CITES với 3 phụ lục kiểm soát thương mại động vật nguy cấp và mô hình mạng lưới thực thi ASEAN-WEN. Về mặt pháp lý nội địa, nghiên cứu đối chiếu các quy định tại Luật Lâm nghiệp năm 2017, Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017, Nghị định số 32/2006/NĐ-CP, Nghị định số 82/2006/NĐ-CP và Nghị định số 157/2013/NĐ-CP. Các khái niệm trung tâm bao gồm: chim ăn thịt ban ngày, quần thể định cư và di cư, chuỗi cung ứng thương mại động vật hoang dã, và phúc lạc động vật trong môi trường nuôi nhốt nhân tạo.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp phương pháp kế thừa dữ liệu thứ cấp với điều tra xã hội học và khảo sát thực địa chuyên sâu. Cỡ mẫu điều tra xã hội học gồm 800 phiếu phỏng vấn hợp lệ, áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện tại các điểm nóng thương mại nhằm thu thập dữ liệu từ 3 nhóm đối tượng chính: cán bộ quản lý kiểm lâm, người dân địa phương và các tiểu thương, người nuôi chim cảnh. Phương pháp phân tích thống kê mô tả và kiểm định phân phối tỷ lệ được lựa chọn nhằm mô tả chính xác biến thiên giá cả, thị phần loài bị buôn bán và phân tích mức độ nhận thức pháp luật của cộng đồng.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập định kỳ 1 tháng một lần tại các chợ chim truyền thống và mạng xã hội Facebook, Zalo kết hợp đối soát dữ liệu cấp phép của Cơ quan Quản lý CITES Việt Nam trong 3 năm liên tiếp từ năm 2014 đến năm 2016. Toàn bộ tiến trình nghiên cứu được triển khai chặt chẽ từ tháng 5/2017 đến tháng 8/2018, bảo đảm tính khách quan và đại diện khoa học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã ghi nhận 21 loài chim ăn thịt thuộc bộ Cắt tham gia vào các chuỗi giao dịch thương mại tại Việt Nam, bao gồm 10 loài định cư, 6 loài di cư và 5 loài có cả quần thể định cư lẫn di cư. Toàn bộ 21 loài này đều nằm trong danh mục CITES, gồm 1 loài thuộc Phụ lục I là Cắt lớn và 20 loài thuộc Phụ lục II. Đáng chú ý, có 2 loài thuộc Danh lục Đỏ IUCN là Đại bàng đen ở mức Sẽ nguy cấp và Diều cá đầu xám ở mức Sắp bị đe dọa, cùng 1 loài thuộc Nhóm IIB của Nghị định số 32/2006/NĐ-CP là Diều hoa miến điện.

Tổng số lượng ghi nhận qua các kênh giao dịch trong giai đoạn 2015 - 2017 đạt 856 cá thể. Loài bị buôn bán phổ biến nhất là Diều trắng với 175 cá thể, chiếm tỷ lệ 20,44%, tiếp theo là Diều mướp với 95 cá thể chiếm 11,09%, Cắt lưng hung với 78 cá thể chiếm 9,11% và Diều đầu nâu với 58 cá thể chiếm 6,77%. Các loài quý hiếm xuất hiện với tần suất thấp nhất gồm Diều cá đầu xám chiếm 0,11% với 1 cá thể và Đại bàng đen chiếm 0,35% với 3 cá thể.

Khảo sát giá trị thương mại cho thấy tương quan thuận giữa kích thước cá thể và giá bán. Đại bàng biển bụng trắng có mức giá cao nhất thị trường, dao động trung bình 18 triệu đồng đối với chim non và 14 triệu đồng đối với chim trưởng thành. Giá cá thể non của hầu hết các loài luôn cao hơn chim trưởng thành từ 200% đến 300% do đặc tính dễ thuần hóa phục vụ mục đích huấn luyện săn mồi.

Số lượng chim ăn thịt nuôi nhốt có đăng ký tăng vọt gấp 21,5 lần, từ 2 cá thể năm 2014 lên 43 cá thể thuộc 7 loài vào năm 2016. Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm nuôi nhốt lớn nhất cả nước, chiếm 76,74% tổng số cá thể được cấp phép với 31 cá thể phân bổ tại 11 cơ sở.

Thảo luận kết quả

Động lực chính thúc đẩy thị trường buôn bán chim ăn thịt bắt nguồn từ nhu cầu nuôi làm cảnh, chiếm tới 85,63% mục đích sử dụng của người nuôi, trong khi nuôi trưng bày tại vườn thú chiếm 12,36% và làm tiêu bản chiếm 1,38%. Tâm lý sở hữu loài chim độc lạ và thể hiện quyền uy chiếm lần lượt 32,63% và 36,25% lý do nuôi giữ.

Dữ liệu cơ cấu loài và phân khúc thị trường được phản ánh trực quan thông qua các biểu đồ phân bố tần suất và bảng ma trận đối chiếu giá bán theo độ tuổi. Sự chênh lệch giá bán giữa con non và con trưởng thành giải thích cho hiện tượng săn trộm trực tiếp tại tổ chim tự nhiên trong mùa sinh sản.

Về mặt thể chế, khoảng trống pháp lý là nguyên nhân cốt lõi khiến công tác kiểm soát bị vô hiệu hóa. Mặc dù 100% loài nằm trong Công ước CITES, nhưng chỉ có Diều hoa miến điện nằm trong danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm được bảo vệ theo pháp luật Việt Nam tại thời điểm nghiên cứu. Nhận thức của người dân còn rất hạn chế khi chỉ có 25% người được hỏi biết về Sách Đỏ Việt Nam và 29,88% biết về Công ước CITES.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Hoàn thiện khung khổ pháp lý lâm nghiệp: Bổ sung toàn bộ 21 loài chim ăn thịt phân bố tự nhiên tại Việt Nam vào Danh mục động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm trong các nghị định sửa đổi thay thế Nghị định số 32/2006/NĐ-CP, hoàn thành trong giai đoạn 2019 - 2020 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì.

  2. Triệt phá thị trường ngầm trên không gian mạng: Thiết lập chuyên án liên ngành nhằm rà soát và đóng cửa 100% các hội nhóm mua bán chim săn mồi trái phép trên mạng xã hội Facebook và Zalo, đặt mục tiêu kéo giảm tối thiểu 50% số lượng giao dịch bất hợp pháp trong giai đoạn 2019 - 2021 dưới sự điều phối của Cục Cảnh sát Phòng chống tội phạm về Môi trường và Cục An ninh mạng.

  3. Chuẩn hóa điều kiện chuồng trại và phúc lạc động vật: Ban hành bộ tiêu chuẩn kỹ thuật bắt buộc về diện tích chuồng trại và vệ sinh thú y cho 100% cơ sở nuôi nhốt chim săn mồi, tiến hành thanh tra định kỳ 6 tháng một lần đối với 11 cơ sở nuôi nhốt trọng điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận do Cơ quan Quản lý CITES Việt Nam phối hợp Chi cục Kiểm lâm địa phương thực hiện trong giai đoạn 2019 - 2022.

  4. Nâng cao năng lực thực thi và nhận thức xã hội: Nâng tỷ lệ hiểu biết đúng pháp luật của cộng đồng từ mức 25% lên trên 70% đến năm 2025 thông qua các chiến dịch truyền thông của Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên ENV, đồng thời tổ chức 10 khóa tập huấn nhận dạng loài chuyên sâu cho 1.000 cán bộ kiểm lâm địa bàn tại 8 tỉnh, thành phố trọng điểm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và lực lượng thực thi pháp luật: Cán bộ Kiểm lâm, Cảnh sát Môi trường, Hải quan và Văn phòng CITES Việt Nam sử dụng hệ số dữ liệu của 856 cá thể để xây dựng kế hoạch tuần tra, kiểm soát cửa khẩu và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ động vật rừng.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên sau đại học: Các chuyên gia ngành Sinh thái học, Động vật học và Quản lý tài nguyên rừng sử dụng phương pháp luận và cơ sở dữ liệu về 21 loài để phát triển các nghiên cứu phân loại học, tập tính học và giám sát đa dạng sinh học.
  • Các tổ chức phi chính phủ và mạng lưới bảo tồn quốc tế: Các tổ chức như TRAFFIC, ENV, WCS và IUCN tham khảo kết quả khảo sát nhận thức của 800 người dân để thiết kế các chương trình can thiệp giảm thiểu nhu cầu tiêu thụ và vận động chính sách.
  • Chủ cơ sở bảo tồn, vườn thú và câu lạc bộ sinh vật cảnh: Các đơn vị cứu hộ sinh vật và người nuôi chim cảnh tham khảo để hoàn thiện điều kiện chuồng trại đạt chuẩn sinh học, chủ động hợp pháp hóa nguồn gốc cá thể nuôi nhốt theo quy định CITES.

Câu hỏi thường gặp

Hoạt động buôn bán chim ăn thịt tại Việt Nam tập trung chủ yếu vào những loài nào? Thị trường ghi nhận 21 loài thuộc bộ Cắt, trong đó Diều trắng chiếm tỷ trọng lớn nhất với 20,44% tương đương 175 cá thể, tiếp theo là Diều mướp chiếm 11,09% và Cắt lưng hung chiếm 9,11%. Các loài này có số lượng quần thể lớn và dễ bẫy bắt ngoài tự nhiên.

Tại sao giá bán chim ăn thịt non lại đắt hơn chim trưởng thành từ 2 đến 3 lần? Chim non dễ huấn luyện bay tự do và thuần thục kỹ năng săn mồi phục vụ thú chơi biểu diễn. Ví dụ, Đại bàng biển bụng trắng non có giá trung bình 18 triệu đồng mỗi cá thể, trong khi cá thể trưởng thành chỉ đạt 14 triệu đồng.

Khung pháp lý tại thời điểm nghiên cứu có những rào cản gì trong việc xử phạt vi phạm? Toàn bộ 21 loài bị buôn bán đều thuộc phụ lục CITES nhưng chỉ có 1 loài là Diều hoa miến điện thuộc Danh mục loài nguy cấp quý hiếm theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP, khiến lực lượng chức năng thiếu chế tài xử lý hình sự đối với các loài còn lại.

Hiện trạng nuôi nhốt chim ăn thịt có đăng ký tại các địa phương diễn biến như thế nào? Số lượng cá thể đăng ký tăng mạnh từ 2 cá thể năm 2014 lên 43 cá thể năm 2016. Hoạt động nuôi nhốt tập trung chủ yếu tại Thành phố Hồ Chí Minh với 31 cá thể, chiếm tỷ lệ 76,74% toàn quốc.

Những kênh giao dịch chim ăn thịt nào đang phát triển phức tạp nhất hiện nay? Kênh thương mại điện tử qua mạng xã hội Facebook và Zalo phát triển mạnh mẽ với hàng chục hội nhóm săn mồi, sử dụng hình thức giao dịch ẩn danh và vận chuyển qua xe khách liên tỉnh nhằm trốn tránh sự kiểm soát của cơ quan quản lý.

Kết luận

  • Luận văn ghi nhận 21 loài chim ăn thịt thuộc bộ Cắt bị buôn bán tại Việt Nam, toàn bộ đều thuộc các phụ lục CITES và có 2 loài thuộc Danh lục Đỏ IUCN.
  • Tổng số lượng thống kê đạt 856 cá thể trong giai đoạn 2015 - 2017, dẫn đầu là loài Diều trắng với 175 cá thể, tập trung tại các đô thị lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Giá trị thương mại tỷ lệ thuận với kích thước loài và cá thể non có giá cao gấp 2 đến 3 lần cá thể trưởng thành do nhu cầu nuôi chim làm cảnh chiếm tới 85,63%.
  • Chỉ ra khoảng trống pháp lý nghiêm trọng khi pháp luật trong nước chỉ bảo vệ 1 loài trong khi 100% loài bị khai thác đều thuộc đối tượng kiểm soát quốc tế của CITES.
  • Đóng góp bộ dữ liệu thực chứng toàn diện đầu tiên tại 8 tỉnh trọng điểm, tạo tiền đề khoa học vững chắc để sửa đổi chính sách quản lý động vật hoang dã giai đoạn 2019 - 2025.

Các cơ quan quản lý nhà nước và viện nghiên cứu cần khẩn trương áp dụng khung giải pháp của luận văn nhằm siết chặt kiểm soát thương mại điện tử và bảo vệ bền vững các loài chim săn mồi quý hiếm tại Việt Nam.