Tổng quan nghiên cứu

Khu bảo tồn Sao La tỉnh Thừa Thiên Huế sở hữu diện tích 15.519,93 ha thuộc vùng sinh thái trọng yếu Trung Trường Sơn, nơi lưu giữ nhiều nguồn gen thực vật và động vật quý hiếm bậc nhất Việt Nam. Mặc dù khu vực này nổi tiếng thế giới với các loài thú đặc hữu như Sao La (Pseudoryx nghetinhensis) được phát hiện lần đầu năm 1992 cùng Mang Lớn (Muntiacus vuquangensis), tài nguyên thực vật làm thuốc tại đây vẫn chưa được đánh giá một cách toàn diện và có hệ thống. Việc thiếu hụt dữ liệu danh lục kiểm kê khiến công tác quản lý tài nguyên, quy hoạch vùng đệm và định hướng bảo tồn nguồn dược liệu bản địa gặp nhiều khó khăn trước sức ép khai thác tự phát.

Nghiên cứu được triển khai với mục tiêu chính là điều tra thành phần loài, phân tích cấu trúc taxon thực vật làm thuốc thuộc ngành Ngọc lan (Magnoliophyta), đồng thời đánh giá hiện trạng bị đe dọa nhằm đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn khả thi. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 15 tiểu khu rừng tự nhiên cùng vùng đệm thuộc 4 xã trên địa bàn hai huyện A Lưới và Nam Đông trong khung thời gian từ tháng 10 năm 2017 đến tháng 10 năm 2018. Kết quả ghi nhận 110 loài cây thuốc có giá trị sử dụng không chỉ mang ý nghĩa học thuật trong việc bổ sung dẫn liệu cho hệ thực vật Việt Nam mà còn là căn cứ khoa học thiết thực để bảo vệ sinh cảnh tự nhiên và phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết phân loại học thực vật hiện đại, kết hợp lý thuyết sinh thái học quần xã và bảo tồn đa dạng sinh học cảnh quan. Đề tài vận dụng hệ thống phân loại của Nguyễn Tiến Bân (năm 2003, 2005) cùng bộ tài liệu định danh thực vật chuẩn mực của Phạm Hoàng Hộ (giai đoạn 1999-2000) để sắp xếp các bậc taxon từ họ, chi đến loài. Ba khái niệm trung tâm được vận dụng xuyên suốt bao gồm: Đa dạng taxon (Taxonomic Diversity) phản ánh mức độ phong phú về thành phần loài; Dược liệu học dân tộc (Ethnobotany) khai thác tri thức bản địa trong việc sử dụng thảo dược trị bệnh; và Dạng sống thực vật (Plant Life Forms) theo phương pháp thích nghi sinh thái của Raunkiaer.

Nghiên cứu đồng thời tích hợp khung lý thuyết đánh giá tình trạng bảo tồn theo các tiêu chí chuẩn hóa của Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 và Danh mục Đỏ IUCN. Cách tiếp cận liên ngành giữa sinh thái học thực vật và dược học dân tộc giúp xác lập bức tranh hoàn chỉnh về giá trị phân loại học cũng như tiềm năng kinh tế - y học của các nguồn gen cây thuốc nhiệt đới vùng núi cao.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua phương pháp điều tra thực địa theo các tuyến khảo sát cắt ngang mọi dạng trạng thái rừng tự nhiên, kết hợp đặt các ô tiêu chuẩn tại những vị trí đặc trưng. Cỡ mẫu thu thập được chuẩn hóa theo quy cách thực vật học: đối với cây thân gỗ lớn thu từ 3 đến 5 cành mẫu mang đầy đủ hoa, lá, quả trên cùng một cây; đối với cây thảo mộc nhỏ tiến hành thu từ 3 đến 5 cá thể sống gần nhau nhằm đảm bảo tính đại diện. Mẫu vật sau khi thu hái được ép định hình theo kích thước chuẩn 30 x 42 cm, xử lý cố định bằng dung dịch cồn 40-45 độ ngay tại hiện trường, sấy khô trong phòng thí nghiệm và lưu trữ tại hệ thống bảo quản 18-20 độ C của Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam.

Nghiên cứu phối hợp phương pháp chuyên gia so sánh hình thái học với các mẫu tiêu bản chuẩn và phương pháp điều tra đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA). Nhóm tác giả đã phỏng vấn cộng đồng dân cư thuộc 3 nhóm dân tộc Kinh, Tà Ôi, Cơ Tu cùng lực lượng kiểm lâm phụ trách 15 tiểu khu để xác thực tên địa phương, công dụng chữa bệnh và bộ phận sử dụng. Lý do lựa chọn sự kết hợp này là nhằm đảm bảo tính chính xác tuyệt đối về mặt danh pháp khoa học, đồng thời kế thừa trọn vẹn tri thức dân gian bản địa. Tiến trình nghiên cứu hoàn thành đồng bộ trong chu kỳ 12 tháng liên tục từ tháng 10 năm 2017 đến tháng 10 năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã lập danh lục khoa học gồm 110 loài cây thuốc thuộc 96 chi và 55 họ thuộc ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) phân bố tại Khu bảo tồn Sao La. Kết quả phân tích cấu trúc bậc phân loại chỉ ra sự phân hóa rõ rệt giữa hai lớp thực vật chủ chốt:

  • Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) chiếm ưu thế áp đảo với 43 họ (chiếm 78,18% tổng số họ), 67 chi (chiếm 69,79% tổng số chi) và 76 loài (chiếm 69,09% tổng số loài cây thuốc ghi nhận).
  • Lớp Hành (Liliopsida) ghi nhận 12 họ (chiếm 21,82% tổng số họ), 29 chi (chiếm 30,21% tổng số chi) và 34 loài (chiếm 30,91% tổng số loài).
  • Phân tích dạng sống cho thấy thảm thực vật thuốc nơi đây đa dạng từ cây thân gỗ, cây bụi đến dây leo và cỏ thảo mộc, trong đó nhóm cây thân thảo và thân bụi chiếm tỷ trọng đáng kể ở các sinh cảnh ẩm ướt chân núi.
  • Về bộ phận làm thuốc, người dân địa phương sử dụng linh hoạt các thành phần như rễ củ, thân vỏ, lá, hoa và hạt, trong đó lá và rễ chiếm tỷ lệ sử dụng cao nhất nhờ chứa hàm lượng hoạt chất tinh dầu và alkaloid đậm đặc.

Thảo luận kết quả

Cấu trúc phân loại với tỷ lệ 69,09% số loài thuộc Lớp Ngọc lan phản ánh tính chất đặc trưng của thảm thực vật rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới vùng Bắc Trung Bộ. Sự ưu thế của các họ thực vật lớn như họ Gừng (Zingiberaceae), họ Ráy (Araceae), họ Cúc (Asteraceae) và họ Cà phê (Rubiaceae) hoàn toàn tương thích với điều kiện thổ nhưỡng feralit giàu mùn cùng lượng mưa bình quân hàng năm đạt mức cao 3.500 mm tại khu bảo tồn. Toàn bộ các tương quan này được trực quan hóa hiệu quả qua biểu đồ hình tròn thể hiện tỷ lệ phân bố giữa hai lớp thực vật và biểu đồ cột biểu diễn các họ thực vật có số lượng loài vượt trội.

Khi so sánh với các hệ sinh thái rừng lân cận trên dãy Trường Sơn, mật độ 110 loài dược liệu phân bố trong diện tích 15.519,93 ha khẳng định giá trị đa dạng sinh học vượt trội của khu vực. Tuy nhiên, tài nguyên cây thuốc tại đây đang chịu áp lực lớn từ điều kiện kinh tế - xã hội vùng đệm: 47% hộ dân thuộc diện nghèo, 25% lao động thiếu việc làm thường xuyên vào rừng khai thác lâm sản phụ để mưu sinh. Hoạt động thu hái theo phương thức tận thu cùng với các tác động môi trường từ tuyến đường Hồ Chí Minh dài 32,5 km cắt ngang khu bảo tồn đang làm suy giảm nghiêm trọng nhiều quần thể dược liệu quý có tên trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên hiện trạng điều tra thực tế, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và quản lý đồng bộ:

  • Thiết lập 05 ô tiêu chuẩn định vị GPS cố định tại các tiểu khu trọng điểm nhằm theo dõi động thái phục hồi tự nhiên của các loài nguy cấp, thực hiện bởi Ban Quản lý Khu bảo tồn Sao La từ quý 1 năm 2019 đến năm 2022 với mục tiêu duy trì tỷ lệ tái sinh tự nhiên đạt trên 85%.
  • Xây dựng 02 vườn ươm giống cây thuốc bản địa và triển khai mô hình trồng thảo dược dưới tán rừng quy mô 20 ha tại 4 xã vùng đệm, do Phòng Nông nghiệp huyện A Lưới và Nam Đông phối hợp thực hiện trong giai đoạn 2019-2025, phấn đấu nâng thu nhập bình quân của các hộ dân tham gia thêm 15-20%.
  • Tổ chức 12 lớp tập huấn chuyên đề về kỹ thuật thu hái bền vững (không khai thác tận diệt rễ củ non) cho 500 lượt đồng bào dân tộc Tà Ôi và Cơ Tu, do Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên Huế chủ trì hoàn thành trong năm 2020.
  • Tăng cường tuần tra, cắm mốc bảo vệ nghiêm ngặt 15 tiểu khu vùng lõi, kiểm soát chặt chẽ các lối mòn ven tuyến đường Hồ Chí Minh dài 32,5 km, do Hạt Kiểm lâm Khu bảo tồn Sao La duy trì thường trực hàng tuần.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Nhà nghiên cứu phân loại thực vật và dược liệu học: Cung cấp nguồn tư liệu chuẩn xác về danh lục 110 loài cây thuốc ngành Ngọc lan, phục vụ tra cứu danh pháp, đối chiếu hình thái và định hướng chiết xuất hoạt chất tự nhiên.
  • Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia: Ứng dụng khung phương pháp luận điều tra theo tuyến lát cắt và phương thức xây dựng bản đồ số hóa giám sát tài nguyên rừng cho 15 tiểu khu quản lý.
  • Cán bộ quản lý lâm nghiệp và hoạch định chính sách dân tộc: Tham khảo cơ sở dữ liệu kinh tế - xã hội vùng đệm (với 47% hộ nghèo và 3 nhóm dân tộc) để thiết kế các chương trình sinh kế gắn liền với lâm sản ngoài gỗ.
  • Giảng viên, học viên sau đại học và sinh viên ngành Sinh học, Lâm nghiệp: Sử dụng như một tài liệu tham khảo chuẩn mực về quy trình xử lý tiêu bản thực vật, phương pháp điều tra thực địa PRA và kỹ thuật phân tích cấu trúc taxon.

Câu hỏi thường gặp

Đề tài đã ghi nhận được chính xác bao nhiêu loài thực vật làm thuốc tại Khu bảo tồn Sao La?
Nghiên cứu đã điều tra, thu thập mẫu vật và xác định được chính xác 110 loài cây thuốc thuộc 96 chi và 55 họ thuộc ngành Ngọc lan (Magnoliophyta). Toàn bộ danh mục đã được chỉnh lý danh pháp khoa học chuẩn theo hệ thống phân loại thực vật học hiện hành của Việt Nam.

Tỷ lệ phân bố giữa hai lớp thực vật chính trong ngành Ngọc lan có sự chênh lệch như thế nào?
Kết quả phân tích cho thấy Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) chiếm ưu thế vượt trội với 43 họ (chiếm 78,18%), 67 chi (chiếm 69,79%) và 76 loài (chiếm 69,09%). Trong khi đó, Lớp Hành (Liliopsida) chiếm tỷ lệ nhỏ hơn với 12 họ (21,82%), 29 chi (30,21%) và 34 loài (30,91%).

Quy cách thu thập và xử lý tiêu bản thực vật ngoài thực địa được thực hiện ra sao?
Tiêu bản được thu hái chuẩn theo kích thước 30 x 42 cm với 3-5 mẫu trên cùng một cây gỗ lớn hoặc 3-5 cá thể cỏ thảo mộc sống gần nhau. Mẫu vật được cố định bằng cồn 40-45 độ ngay tại hiện trường trước khi sấy khô và bảo quản lạnh ở 18-20 độ C tại phòng thí nghiệm chuyên dụng.

Đâu là áp lực lớn nhất đối với sự tồn tại của các loài cây thuốc tại khu bảo tồn?
Áp lực lớn nhất xuất phát từ sinh kế của cư dân vùng đệm với tỷ lệ nghèo đói chiếm 47% và 25% lao động thiếu việc làm thường xuyên vào rừng khai thác tự phát. Ngoài ra, việc mở rộng 32,5 km tuyến đường Hồ Chí Minh qua khu bảo tồn cũng tạo ra những xáo trộn sinh cảnh đáng kể.

Cộng đồng địa phương tại khu vực nghiên cứu gồm những nhóm dân tộc nào và họ sử dụng cây thuốc ra sao?
Khu vực vùng đệm gồm 3 nhóm dân tộc chính: người Kinh chiếm 36,4%, người Tà Ôi chiếm 34% và người Cơ Tu chiếm 29,6%. Đồng bào tích lũy kho tàng tri thức dân gian phong phú, chủ yếu thu hái lá, thân và rễ củ tươi từ rừng tự nhiên để điều trị các chứng bệnh thông thường theo phương thức gia truyền.

Kết luận

  • Luận văn đã hoàn thành toàn diện việc lập danh lục khoa học cho 110 loài cây thuốc thuộc 96 chi và 55 họ của ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) tại Khu bảo tồn Sao La tỉnh Thừa Thiên Huế.
  • Phân tích cấu trúc bậc phân loại khẳng định sự vượt trội của Lớp Ngọc lan với 76 loài (chiếm 69,09%) so với Lớp Hành gồm 34 loài (chiếm 30,91%).
  • Đề tài đã làm rõ mối liên hệ giữa điều kiện sinh thái đặc thù vùng núi cao với thành phần các nhóm hoạt chất trong thân, rễ, lá của cây thuốc bản địa.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng phục vụ phân vùng quản lý 15.519,93 ha vùng lõi và định hướng sinh kế cho cư dân tại 4 xã vùng đệm.
  • Hệ thống hóa bộ đề xuất 4 giải pháp chiến lược khả thi nhằm bảo tồn nguồn gen dược liệu giai đoạn 2019-2025.

Các cơ quan chuyên trách lâm nghiệp và chính quyền địa phương cần khẩn trương đưa các giải pháp nhân giống cây thuốc bản địa vào kế hoạch hành động giai đoạn 2020-2025, góp phần bảo vệ bền vững hành lang đa dạng sinh học Trung Trường Sơn.