Chương 1, Luật ĐDSH 2008) 1. Các khía cạnh kinh tế của ĐDSH Tại phần này, tác giả đưa ra các nội dung đến giá trị kinh tế của ĐDSH, các mối quan hệ giữa ĐDSLI với hệ thống kinh tế, từ đó phân tích một nội dung quan IV trọng trong việc đánh giá giá trị kinh tế đối với các nguồn tài nguyên nói chung và ĐDSH nói riêng là là ngoại ứng, một dạng cụ thể của thất bại thị trường có thể gây ra sự phân bổ tài nguyên ĐDSH không hiệu quả. Tại phần này, tác giả cũng đưa ra một số biện ơhaps bảo tồn Đ DSH đang áp dụng tại các VQG hiện nay, bao gồm công cụ hành chính, công cụ kinh tế, công cụ kỹ thuật và một số công cụ khác. Đồng thời nghiên cứu các bước thực hiện CBA cho hoạt động bảo tồn Đ DSH bao gồm 8 bước.
Đặc biệt, các chỉ số đánh giá hiệu quả trong CBA cũng được phân tích và đưa ra dưới dạng lý thuyết nhằm giúp cho việc đánh giá tại các chương sau. Cụ thể: nội dung và cách tính giá trị hiện tại ròng (NPV), tỷ số lợi ích - chi phí (BCR)<, tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR). Đồng thời tác giả nêu một số phương pahso đo lường lợi ích và chi phí của công tác bảo tồn ĐDSH cũng được áp dụng trong nghiên cứu này, bao gồm: lượng giá da vào thị trường thực, lượng giá dựa vào thị trường thay thế, lượng giá dựa vào thị trường giả định. Đê phục vụ cho các tính toán sau này, tác giả cũng đưa ra nội dung các chi phí liên quan trong các chương trình, dự án và hoạt động bảo tồn Đa dạng sinh học, bao gồm chi phí trực tiếp, chi phí đánh giá môi trường; chi phí phòng ngừa, và một số các chi phí khác (chi phí đền bù, chi phí thiệt hại do thiên nhiên).
V CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TÒN ĐA DẠNG SINH HỌC TẠI VƯỜN QUÓC GIA XUÂN THỦY 1. Giói thiệu về VQG Xuân Thủy VQG Xuân Thuỷ là khu bảo tồn ĐNN ven biển nằm ở phía Nam của sông Hồng, thuộc huyện Giao Thuỷ - tỉnh Nam Định. Đây cũng là VQG đầu tiên của Đông Nam Á và duy nhất của Việt Nam (từ năm 1989 - 2005) tham gia Công ước Quôc tế RAMSAR. Tuy nhiên, hiện nay ngày càng có nhiều nguy cơ tiềm ẩn phá hoại sự ĐDSH và HST rừng ngập nước độc đáo ở khu vực này.
Các hoạt động bảo tồn ĐDSH tại VQG Xuân Thủy. Tại nội dung này, tác giả tìm hiểu thực trạng VQG Xuân Thủy, bao gồm các đặc điểm sinh học của các loài: Đa dạng sinh cảnh sống và loài thực vật; Sinh vật phù du; Động vật đáy; Côn trùng, lưỡng cư và bò sát, khu hệ chim và khu hệ thú. 1 ừ đó, tác giả phân tích các hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Xuân Thủy dựa trên các thực trạng chủ yếu sau: * Thực trạng quản lý tài nguyên môi trường chung ở khu vực: * Thực trạng quản lý và khai thác nguồn lợi thuỷ sản ở VQG Xuân Thuỷ. * Hiện trạng sử dụng nguồn tài nguyên ĐNN Từ đó, tác giả nhận thấy, việc đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường là một hoạt động cân thiêt khi thực hiện phân tích chi phí —lợi ích của các dự án bảo tôn ĐDSH.
Căn cứ vào kêt quả đó, ngoài các chi phí và lợi ích trực tiếp, việc phân tích CBA có thể xác định các đối tượng có liên quan về mặt môi trường và các tác động về môi trường mà công tác bảo tồn đó mang lại. VI CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH CHI PHÍ - LỌI ÍCH CỦA CÔNG TÁC BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC TẠI VƯỜN QUÓC GIA XUÂN THỦY Tại Chương này, tác giả đề tài đi sâu vào việc phân tích chi phí, lợi ích của công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Xuân Thủy, bao gồm các bước sau: 3. Xác định vấn đề và phưong án lựa chọn Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy, hiện nay tại VQG đang xuất hiện một số vấn đề khó khăn trong công tác bảo tồn, do đó đế lựa chọn được phương án bảo tồn tốt nhất, tác giả đề xuất các phương án bảo tồn như sau: Phương án 1: Hiện trạng. Phưong án 2: Phương án bảo tồn tốt hơn đối với ĐDSH tại VQG: với độ ĐDSH như cách đây 15 năm (tăng mức độ ĐDSH: Qua các đợt khảo sát năm 1988 (Scott et al.
1989) và năm 1994 (Pedersen et al. 1996) đã quan sát được trên 20.000 cá thể chim nước trong khu vực. Mùa xuân năm 1996, có khoảng trên 33.000 con chim biển bay qua VQG Xuân Thuỷ (Pedersen và Nguyễn Huy Thắng, 1996). Sự xuất hiện của loại cò thìa ở Vườn, số lượng cò mỏ thìa về VQG Xuân Thủy hàng năm khoảng 80 con, choi choi mỏ thìa khoảng 20 con).
Các hoạt động bảo tồn được đề xuất như sau: - Chuyển đối 926 ha đầm nuôi quảng canh (không có RNM) thành đầm tôm sinh thái với độ che phủ trung bình của RNM là 30%. - Trồng 400 ha RNM ở các khu vực bị suy thoái xã Giao Lạc, Giao Xuân thuộc vùng đệm. - Chuyển 981ha vây vạng không có hiệu quả sang mục đích bảo tồn thiên nhiên (trong đó trồng mới 200 ha RNM) - Trồng 50 ha rừng phi lao ở cồn Lu. Dựa vào phương pháp tính toán chi phí lợi ích để tính toán kết quả của NPV, BCR, IRR, kết quả phân tích độ nhạy đối với các phương án trong phân tích chi phí - lợi ích nhằm đưa ra khuyến nghị lựa chọn phương án bảo tồn mang lại hiệu quả cao nhất (mang lại phúc lợi xã hội cao nhất).
Cụ thể: Lựa chọn phương án tốt hơn trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học tài VQG Xuân Thủy: Dựa trên kết quả phân tích chi phí —lợi ích ta thấy việc thực hiện phương án bảo tôn tôt hơn tại VQG Xuân Thủy mang lại lợi ích ròng về mặt xã hội lớn nhất. Kiến nghị, đề xuất: Theo kết quả tính toán, các năm đầu tiên chưa xuất hiện các giá trị lợi ích tăng thêm. Đặc biệt phương án bảo tồn RNM phải từ năm thứ 7 mới xuất hiện đầy đủ các giá trị lợi ích tăng thêm do RNM mang lại. Do vậy, đây cũng là một đặc diêm cân lưu ý trong quá trình thực hiện các biện pháp bảo tồn, ví dụ hoạt động khôi phục RNM tại các đầm nuôi tôm quảng canh chính quyền nên có chính sách hợp lý trong việc cho thuê đất lâu dài với các chủ hộ nuôi trồng thủy sản, với khoảng thời gian lớn hơn 10 năm để các hộ có động cơ kinh tế trong việc cải tạo ao và trồng phục hồi RNM, bên cạnh kinh phí trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng.
VQG Xuân Thủy có thể kiến nghị để thực hiện việc quy hoạch bãi triều cho các hộ dân thuê nuôi trồng nhuyễn thể căn cứ theo điều kiện địa hình và thực tế sản xuất của người dân, kết hợp phương án sử dụng diện tích mặt nước và công tác bảo tồn để đảm bảo sử dụng khôn khéo tài nguyên ĐNN. Từ những nghiên cứu trên, ta thấy rằng phân tích chi phí - lợi ích là một công cụ hữu hiệu trong việc đánh giá xem các phương án thực hiện có mang lại hiệu quả vê mặt kinh tê, xã hội hay không. Trong quá trình đánh giá, các giá trị lợi ích cũng như chi phí đã được xác định và đo lường, đặc biệt một số giá trị mang lại lợi ích xã hội chung như: giá trị hấp thụ C 0 2, giá trị phòng hộ đê biển của RNM. Đề xuất vấn đề nghiên cứu tiếp theo Phân tích chi phí - lợi ích là một kỹ thuật giúp cho các nhà ra quyết định biết được "phần được" và “phần mất” của một dự án hoặc một hoạt động phát triển, từ đó lựa chọn được những quyết định tối ưu nhất.
Kết quả phân tích chi phí, lợi ích của của công tác bảo tồn ĐDSH đưa ra cách nhìn nhận mới về các lợi ích và chi phí mà hoạt động bảo tồn đó mang lại, chứng minh là một công cụ hữu ích hỗ trợ quá trình quyết. Nhờ việc xác định giá trị của tài nguyên và đánh giá chi phí và lợi ích của việc bảo tồn tài nguyên này, CBA có thê cung câp những thông tin có cơ sở khoa học vững chắc phục vụ quá trình ra quyết định quản lý. Kêt quả phân tích chi phí - lợi ích cho biết tổng giá trị hiện tại của phương VUI án bảo tồn, tuy nhiên có thể không hoặc ít đề cập đến vấn đề phân phối lợi ích hay chi phí giữa các tác nhân trong xã hội. Do vậy, một vấn đề nữa có thể cần đề cập đên trong khuyến nghị lựa chọn phương án bảo tồn là cần chỉ rõ trong các phương án bảo tồn thì ai sẽ là người được hưởng lợi chính và ai sẽ là người phải gánh chịu các chi phí phát sinh đế có cơ sở lựa chọn chính xác hơn.
Cũng cần chú ý rằng kết quả phân tích chi phí - lợi ích không phải là cơ sở duy nhất để đưa ra quyết định lựa chọn phương án mà trong thực tế cần căn cứ vào những cơ sở khác (chẳng hạn giới hạn về tài chính, mục tiêu của chính phủ. Phân tích chi phí - lợi ích không thể trả lời được tất cả các câu hỏi mà nó chỉ đóng vai trò cung cấp các thông tin cần thiết cho việc đưa ra quyết định cuối cùng. Nghiên cứu này được thực hiện dựa trên các quy hoạch, đề xuất, phương án thực hiện công tác bảo tồn tốt hơn tại VQG Xuân Thủy với một số giả thiết nhất định. Điều này dẫn tới một sổ sự không chắc chắn khi ước tính các giá trị lợi ích và chi phí.
Đồng thời, khoảng thời gian tính toán là 25 năm là khá dài, khó có thể đưa ra dự báo chính xác về giá và các yếu tố liên quan khác và đồng thời chưa xem xét hậu quả của các tác động môi trường mang tính dài hạn. Ngoài ra có những yếu tổ cũng chưa được xem xét đầy đủ do hạn chế về mặt kỳ thuật, ví dụ tác động môi trường của các hoạt động kinh tế chưa được đánh giá đầy đủ, dẫn tới việc lượng hoá tác động bị hạn chế. trong khuyển nghị lựa chọn phương án cũng phải thảo luận và trình bày rõ những vấn đề không chắc chắn có thể do thiếu thông tin (do không có thông tin hoặc do không có đủ nguồn lực để thu thập thông tin) và thảo luận về những khó khăn khác trong thực tế dẫn đến có thế không phải tất cả các lợi ích hoặc chi phí đã được tính toán đầy đủ trong quá trình phân tích.