phần mở đầu, 42 điều, 2 bản phụ lục. Việt Nam đã ký công ước ĐDSH vào tháng 10/1994 và đã trở thành thành viên thứ 99 của công ước này. Tất cả nội dung của công ước đưa ra 3 mục tiêu chính: + Bảo vệ ĐDSH + Sử dụng bền vững ĐDSH + Phân phối lợi nhuận của các sản phẩm mới lấy từ các loài hoang dại và các loài thuần dưỡng. Công ước CITES được kí kết thông qua ngày 1/3/1973 có hiệu lực từ ngày 1/7/1975 tại Washington, do vậy công ước này còn được gọi là công ước Washington.
Đến tháng 6 năm 2006 công ước này có 173 nước thành viên, Việt Nam trở thành thành viên thứ 121 của CITES vào ngày 20/01/1994. Nội dung của công ước CITES là những nước thành viên thực hiện việc cấm buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã đang có nguy cơ tuyệt n 8 chủng được ghi trong bản phụ lục kèm theo của công ước đã được hội nghị toàn thể các nước thành viên thỏa thuận thông qua.[15] - Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên Quốc tế Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên Quốc tế (IUCN) được thành lập nhằm mục tiêu gây ảnh hưởng, khuyến khích và hỗ trợ các tổ chức trên toàn thế giới bảo tồn tính toàn vẹn và đa dạng của thiên nhiên, đảm bảo việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên công bằng và bền vững về mặt sinh thái. Việt Nam là một quốc gia thành viên của IUCN từ năm 1993. Do đó, Chính phủ Việt Nam cần phải thực hiện sứ mạng của IUCN, có trách nhiệm chấp thuận Danh lục Đỏ IUCN và lồng ghép các loài liệt kê trong danh lục Đỏ IUCN vào hệ thống quy chế bảo vệ loài.
Công ước này được tạo ra và phê chuẩn bởi các quốc gia tham gia tại cuộc họp tại thành phố Ramsar, Iran ngày 2 tháng 2năm 1971 và có hiệu lực từ ngày 21 tháng 12 năm 1975.[15] Công ước Ramsar là một công ước quốc tế về bảo tồn và sử dụng một cách hợp lý và thích đáng các vùng ĐNN, mục đích ngăn chặn quá trình xâm lấn ngày càng gia tăng vào các vùng ĐNN cũng như sự mất đi của chúng ở thời điểm hiện nay cũng như trong tương lai, công nhận các chức năng sinh thái học nền tảng của các vùng ĐNN và các giá trị giải trí, khoa học, văn hóa và kinh tế của chúng. Công ước Ramsar cung cấp một khuôn khổ cho các hành động quốc gia và việc hợp tác quốc tế để bảo tồn và sử dụng khôn khéo các vùng ĐNN và tài nguyên ĐNN. Việt Nam tham gia vào công ước Ramsar từ năm 1989. n 9 Theo Điều 2 của Công ước, Việt Nam cam kết “đề xuất các vùng ĐNN phù hợp trong lãnh thổ của mình vào danh sách các Vùng ĐNN có tầm quan trọng Quốc tế.
đầu tiên là tất cả các vùng ĐNN có tầm quan trọng đối với các loài chim nước vào bất cứ mùa nào cần được đưa vào danh sách”. Theo Điều 3, “thúc đẩy việc bảo tồn các vùng ĐNN và các loài chim nước qua việc thiết lập các khu bảo tồn ĐNN”. Tuân thủ cam kết này, Việt Nam cần đảm bảo tối thiểu là tất cả các khu đáp ứng tiêu chí Ramsar sẽ được đề cử thành khu Ramsar và được đưa vào hệ thống các khu bảo vệ ở cấp quốc gia. Có 27 khu ở Việt Nam đã được Birdlife International xác định là đáp ứng các tiêu chí Ramsar (Birdlife International 2005) nhưng cho đến nay mới chỉ có 4 khu được công nhận, bao gồm: VQG Xuân Thủy (1989), Bàu Sấu - VQG Cát Tiên (2005), VQG Ba Bể (2011) và mới đây nhất là VQG Tràm Chim (tháng 2/2012).
Cơ sở lý luận và thực tiễn 1. Những nghiên cứu về RNM Những nghiên cứu về RNM trên thế giới Đến nay RNM xuất hiện trên 75% bờ biển nhiệt đới và á nhiệt đới trong khoảng từ 300 vĩ tuyến Nam đến 300 vĩ tuyến Bắc. RNM có diện tích lớn nhất trong vùng từ 100 vĩ độ Bắc tới 100 vĩ độ Nam (Twille và cộng sự, 1992). [27] Diện tích RNM trên toàn thế giới ước tính khoảng 18 triệu ha, phân bố tại 82 nước.
Trong đó, ở khu vực châu Á, RNM có khoảng 8,3 triệu ha chiếm tới 46% diện tích RNM trên thế giới. Riêng 7 nước Đông Nam Á, diện tích RNM chiếm tới 36% tổng diện tích RNM trên thế giới (Mark Spalding và cộng sự, 1997). [27] Từ lâu các ngành khoa học đã quan tâm nghiên cứu về đất ngập mặn cũng như RNM trên nhiều lĩnh vực vì những giá trị to lớn về sinh học, sinh thái, và kinh tế - xã hội của vùng ven biển. Từ năm 1928 Watson đã lập ra một bảng phân loại thủy văn liên quan đến sự phân vùng của các loài cây ngập mặn ở phía Tây Malayxia, cho đến nay nhiều nhà khoa học vẫn sử dụng n 10 để nghiên cứu sự phân bố các loài thuộc các khu vực khác nhau trên thế giới (Snedaker và Lugo, 1973; Chapman, 1977; Santisuk, 1983; Aksornkoae, 1986).
Dựa trên một số kết quả thí nghiệm cũng như quan sát thực địa, một số tác giả cho rằng RNM cũng phát triển ở cả những vùng không có nước triều (Stodart và cộng sự, 1973).Odum đã khám phá ra tác dụng của mùn bã thực vật ngập mặn khi nghiên cứu chuỗi thức ăn vùng cửa sông Florida. Lĩnh vực được quan tâm nhiều nhất là phân loại thực vật, thảm thực vật và phân bố. Có 2 công trình nổi tiếng là Mangrove vegetation của V.Chaman (1975) và The botany of mangroves của P. Tomlimson (1986) đã nghiên cứu về giả phẫu, phân loại, phân bố, sinh thái một số loài cây ngập mặn trên thế giới.
Nghiên cứu về các nhân tố sinh thái ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển RNM có nhiều tác giả đề cập đến.Chaman (1975) có 7 yếu tố sinh thái cơ bản ảnh hưởng tới sự phát triển RNM là : nhiệt độ, thế nền đất bùn, sự bảo vệ, độ mặn, thủy triều, dòng chảy hải lưu, biển nông. [27] Tổ chức UNESCO (1979) và FAO (1982) khi nghiên cứu về rừng và đất rừng ngập nước ở vùng Châu Á Thái Bình Dương cho rằng: HST rừng ngập mặn trong khu vực này đã và đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong đó, nguyên nhân chính là do sự khai thác rừng, đất RNM không hợp lí gây ra những biến đổi tiêu cực tới đất và nước. Các tổ chức này đã khuyến cáo các quốc gia có rừng và đất ngập mặn cần có những biện pháp hữu hiệu để khắc phục tình trạng này.
Cho đến nay những nghiên cứu ở nhiều nước đã xác định được phân bố, đặc điểm sinh thái các loại thực vật RNM, đa sạng của HST RNM. Số liệu nghiên cứu cho thấy RNM phân bố chủ yếu ở vùng cửa sông, ven biển, vùng nước lợ, nước mặn và ảnh hưởng bởi thủy triều. Đến nay, hệ thực vật RNM đã phát triển 100 loài trong đó có những loài phân bố rất hạn chế nhưng nhiều loài phân bố ở nhiều vùng sinh thái (Tomlimson, 1986; Mark Spalding và cộng sự, 1997; Rao, 1987; Mepham, 1985; Duke, 1992). Châu Á có sự đa n 11 dạng nhất về số loài cây RNM, với khoảng 70 loài, tiếp đến là Châu Phi khoảng 30 loài, Châu Mỹ và vùng Caribean khoảng 11 loài.
Các loài cây RNM phổ biến ở hầu khắp các vùng sinh thái thuộc chi Đước (Rhizhophora), Vẹt (Bruguiera) và Trang (Kandelia). WWF (1994), đã tiến hành nghiên cứu vùng RNM tại Costa Rica. Nghiên cứu đã sử dụng lượng giá kinh tế HST RNM làm công cụ xây dựng chính sách khôi phục và bảo tồn HST RNM trước những ép ngày càng gia tăng từ phát triển kinh tế, mà đặc biệt là xu hướng chuyển đổi mục đích sử dụng đất RNM sang nuôi tôm và các loại thủy sản khác. Việc lượng giá kinh tế HST RNM đã dựa trên cách tiếp cận tổng giá trị kinh tế (TEV).
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra giá trị sử dụng trực tiếp từ việc đánh bắt các tài nguyên RNM. Những nghiên cứu về RNM ở Việt Nam Việt Nam có tổng diện tích trên đất liền tự nhiên là 32.398 ha với bờ biển dài 3.260 km, hệ thống sông ngòi dày đặc đã tạo lên sự phong phú và đa dạng về HST rừng ngặp mặn. [28] Hiện nay những giá trị trực tiếp của RNM đối với nền kinh tế Việt Nam chủ yếu là củi và than, sau đó là gỗ. Tại miền Bắc Việt Nam, RNM sinh trưởng xấu hơn ở miền Nam rõ rệt, cây ngập măn ở trong rừng thường không quá 10m nên giá trị trực tiếp của RNM chủ yếu vẫn là củi, với năng suất không cao.
[28] Công trình nghiên cứu có hệ thống về RNM đầu tiên ở Việt Nam là luận văn tiến sĩ của Vũ Văn Cương (1964) về các quần xã thực vật ở rừng Sát thuộc vùng Sài Gòn - Vũng Tàu. Tác giả đã chia thực vật ở đây thành 2 nhóm: thực vật nước mặn và thực vật nước lợ. Lê Công Khanh (1986) mô tả các đặc điểm sinh học để phân biệt các chi, các họ có trong RNM. Tác giả đã xếp 57 loài cây RNM vào 4 nhóm dựa vào tính chất ngập nước và độ mặn của nước: nhóm mọc trên đất bồi ngập nước (độ mặn của nước từ 15-32 0/00) có 25 loài; nhóm sống trên đất bồi thường ngập trên nước lợ (độ mặn 0.5-15 0/00) có 9 loài; và nhóm sống trên đất bồi ít ngập nước lợ có 12 loài.
[13] n 12 Phùng Trung Ngân và Châu Quang Hiền (1987) đã đề cập tới 7 kiểu thảm thực vật ngập mặn ở Việt Nam: Rừng Mấm hoặc Bần đơn thuần, rừng Đước đơn thuần, rừng Dừa nước, rừng hỗn hợp vùng triều trung bình, rừng Vẹt - Giá vùng đất cao, rừng Chà là- Ráng dại và trảng thoái hóa. Mazda và cộng sự (1997), tiến hành nghiên cứu về tác dụng giảm sóng của RNM thực hiện tại vùng RNM mới trồng của tỉnh Thái Bình, với các loài cây chủ yếu là cây Trang (Kendelia candel). Kết quả cho thấy RNM góp phần làm giảm đáng kể áp lực của sóng biển tác động vào đê biển. [10] Nghiên cứu RNM Cần Giờ ở thành phố Hồ Chí Minh đã áp dụng phương pháp tổng giá trị kinh tế RNM được đánh giá dựa trên những số liệu thu thập được trên thực địa.
Kết quả cho thấy tổng giá trị kinh tế nguồn lợi RNM về lợi ích sử dụng trực tiếp, các giá trị gián tiếp hầu như chưa lượng giá được. Nguyễn Hoàng Trí (1999) và Phan Nguyên Hồng và cộng sự (1999) cho rằng Đưng không có ở miền Bắc Việt Nam mà chỉ có ở ven biển miền Trung và Nam Bộ.