Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam được cộng đồng quốc tế công nhận là một trong 16 quốc gia sở hữu độ đa dạng sinh học cao nhất hành tinh. Với diện tích tự nhiên khoảng 330.541 km2 chỉ chiếm 1% diện tích đất liền của Trái Đất, lãnh thổ nước ta là nơi cư trú của gần 10% tổng số loài sinh vật toàn cầu, đóng góp cho nền kinh tế quốc dân hơn 2 tỷ USD mỗi năm thông qua các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản. Tuy nhiên, áp lực từ gia tăng dân số, đô thị hóa và khai thác quá mức đã khiến nguồn tài nguyên sinh thái bị suy thoái nghiêm trọng.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ khoảng cách giữa các quy định của Luật Đa dạng sinh học năm 2008 cùng các văn bản liên quan với thực tiễn áp dụng tại cơ sở. Mục tiêu cụ thể là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng thể chế pháp luật môi trường, khảo sát điển hình tại Vườn quốc gia Pù Mát thuộc huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2014, từ đó phát hiện các rào cản và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả bảo tồn.

Vườn quốc gia Pù Mát là hạt nhân của Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An được UNESCO công nhận vào tháng 11 năm 2007. Nơi đây sở hữu quần thể sinh thái phong phú với 2.494 loài thực vật có mạch cùng hơn 1.000 loài động vật quý hiếm. Nghiên cứu mang ý nghĩa then chốt trong việc hoàn thiện thể chế quản lý cho hơn 30 vườn quốc gia trên toàn quốc, hướng tới mục tiêu giảm thiểu tỷ lệ vi phạm lâm luật từ 20% đến 30% và bảo tồn bền vững nguồn gen bản địa quý báu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng ba lý thuyết nền tảng trong khoa học pháp lý sinh thái: Lý thuyết quản trị tài nguyên công, Lý thuyết điều chỉnh hành vi pháp luật môi trường và Lý thuyết phát triển bền vững đa mục tiêu. Về mặt học thuật, nghiên cứu làm rõ các khái niệm cốt lõi bao gồm:

Thứ nhất, đa dạng sinh học được tiếp cận toàn diện ở 3 cấp độ: đa dạng nguồn gen, đa dạng thành phần loài và đa dạng hệ sinh thái.

Thứ hai, phương thức bảo tồn được phân định thành 2 cơ chế chủ chốt: bảo tồn tại chỗ (in-situ) thông qua việc xác lập ranh giới các khu bảo tồn thiên nhiên và bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ) thông qua hệ thống vườn thực vật, trạm cứu hộ và ngân hàng gen nhân tạo.

Thứ ba, cơ chế pháp lý về phân hạng và quản lý khu bảo tồn dựa trên chuẩn mực của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) với 6 hạng phân loại, đối chiếu trực tiếp với hệ thống phân hạng rừng đặc dụng và khu bảo tồn thiên nhiên theo pháp luật Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng tổng hợp các phương pháp khoa học chuyên ngành:

Phương pháp phân tích chuẩn tắc và duy vật biện chứng được dùng để giải mã hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, đối chiếu sự tương thích giữa Luật Đa dạng sinh học năm 2008 với Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 và Luật Thủy sản năm 2003.

Phương pháp luật học so sánh đối chiếu kinh nghiệm xây dựng pháp luật của 5 quốc gia tiêu biểu: mô hình quy hoạch tổng thể của Hungary, cơ chế phân cấp quản lý 4 tầng của Nam Phi, nguyên tắc duy trì trạng thái thuận lợi nơi cư trú của Slovenia, chế tài hình sự hóa nghiêm ngặt của Trung Quốc và cơ chế tiếp cận nguồn gen kèm chia sẻ lợi ích công bằng (ABS) của Costa Rica.

Về quy mô và phương pháp chọn mẫu: Tác giả thu thập và xử lý thứ cấp bộ dữ liệu quản lý từ 211 khu bảo tồn trên cả nước (gồm 128 khu bảo tồn rừng, 15 khu bảo tồn biển và 68 khu bảo tồn đất ngập nước). Đối với khảo sát thực địa, nghiên cứu chọn mẫu trọng điểm tại Vườn quốc gia Pù Mát với diện tích vùng lõi hơn 94.000 ha và khảo sát hồ sơ xử lý vi phạm tại 16 trạm kiểm lâm trong giai đoạn 2009-2014. Lý do lựa chọn là vì Pù Mát đại diện tiêu biểu cho hệ sinh thái rừng nhiệt đới 5 tầng vùng Bắc Trung Bộ, hội tụ đầy đủ các xung đột pháp lý điển hình giữa bảo tồn vùng lõi và sinh kế cộng đồng vùng đệm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tồn tại sự chồng chéo và mâu thuẫn thể chế sâu sắc giữa 3 đạo luật chuyên ngành: Luật Đa dạng sinh học năm 2008 sử dụng thuật ngữ "khu bảo tồn thiên nhiên", trong khi Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 áp dụng khái niệm "rừng đặc dụng", còn Luật Thủy sản năm 2003 quản lý "khu bảo tồn vùng nước nội địa". Về mặt tổ chức bộ máy, cả nước có 6 vườn quốc gia trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong khi 24 vườn quốc gia còn lại và 98 khu rừng đặc dụng trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Chi cục Kiểm lâm quản lý, dẫn đến tình trạng phân mảnh trách nhiệm và thiếu sự chỉ đạo thống nhất.

Thứ hai, áp lực sinh kế dân cư đe dọa trực tiếp đến tính toàn vẹn của hệ sinh thái. Mặc dù Vườn quốc gia Pù Mát lưu giữ 2.494 loài thực vật và nhiều loài động vật nguy cấp có tên trong Sách Đỏ, tỷ lệ vi phạm quy định cấm săn bắt, khai thác gỗ trái phép tại địa bàn các xã vùng đệm vẫn ở mức cao. Theo thống kê thực địa, khoảng 80% hộ dân sinh sống giáp ranh vùng lõi phụ thuộc vào việc thu hái lâm sản phụ và săn bắt thú rừng để duy trì thu nhập hàng ngày.

Thứ ba, cơ chế tài chính bền vững và chia sẻ lợi ích còn nhiều khoảng trống. Hơn 70% kinh phí hoạt động của vườn quốc gia dựa vào nguồn ngân sách nhà nước cấp phát định kỳ, các nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng và du lịch sinh thái chỉ đóng góp dưới 10% tổng chi phí vận hành. Cơ chế tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ tri thức bản địa chưa được cụ thể hóa bằng các hướng dẫn dưới luật.

Các phát hiện này có thể được minh họa trực quan qua biểu đồ ma trận thể hiện mức độ chồng lấn thẩm quyền giữa các bộ ngành, kết hợp bảng thống kê so sánh biến động số vụ xử phạt hành chính lâm luật qua từng năm tại địa bàn huyện Con Cuông.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế trên xuất phát từ việc các điều luật hiện hành nặng tính mệnh lệnh, cấm đoán mà thiếu cơ chế khuyến khích kinh tế và đồng quản lý. Khi so sánh với mô hình của Costa Rica và Nam Phi, pháp luật Việt Nam chưa trao quyền tự chủ thực chất cho cộng đồng địa phương trong việc cùng quản lý và hưởng lợi từ tài nguyên rừng. Sự thiếu hụt các chỉ số lượng hóa định kỳ 3 năm một lần về quần thể loài bị đe dọa dẫn đến tình trạng phản ứng chính sách chậm trễ trước các nguy cơ suy giảm sinh thái.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Quốc hội và Bộ Tư pháp cần chủ trì rà soát, sửa đổi Luật Đa dạng sinh học và Luật Bảo vệ và Phát triển rừng nhằm thống nhất tên gọi, tiêu chí phân hạng khu bảo tồn theo chuẩn IUCN. Mục tiêu cụ thể là cắt giảm 100% các điểm mâu thuẫn về thẩm quyền cấp phép trong giai đoạn 2015-2020.

Thứ hai, tái cấu trúc mô hình tổ chức quản trị: Chính phủ cần thống nhất đầu mối quản lý nhà nước về khu bảo tồn, chuyển giao toàn bộ quyền quản lý chuyên môn về một cơ quan thống nhất, đồng thời nâng cao năng lực cho lực lượng kiểm lâm tại 16 trạm kiểm soát của Vườn quốc gia Pù Mát. Mục tiêu nâng cao tỷ lệ phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật môi trường lên trên 90% trước năm 2018.

Thứ ba, triển khai chính sách kinh tế sinh thái vùng đệm: Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An và Ban quản lý Vườn quốc gia Pù Mát cần đẩy mạnh chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (PES), trích tối thiểu 30% doanh thu từ hoạt động du lịch sinh thái để tái đầu tư vào quỹ phát triển cộng đồng tại các xã nghèo huyện Con Cuông. Thời gian triển khai từ năm 2015 với mục tiêu ổn định sinh kế cho hơn 80% hộ dân vùng đệm trong vòng 3 đến 5 năm.

Thứ tư, thiết lập cơ chế bảo tồn ngoại vi và chia sẻ lợi ích nguồn gen: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành quy chế bảo hộ tri thức bản địa của đồng bào dân tộc thiểu số tại Pù Mát, xây dựng ngân hàng lưu trữ nguồn gen cho ít nhất 50 loài thực vật dược liệu quý hiếm trước năm 2022.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan lập pháp và hoạch định chính sách (Quốc hội, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn): Sử dụng luận văn làm cơ sở thực tiễn để sửa đổi, bổ sung các điều luật liên quan đến phân cấp quản lý rừng đặc dụng và khu bảo tồn thiên nhiên.

Nhóm ban quản lý khu bảo tồn và vườn quốc gia trên toàn quốc: Đặc biệt là ban lãnh đạo của hơn 30 vườn quốc gia có thể áp dụng các bài học kinh nghiệm tại Pù Mát để giải quyết bài toán mâu thuẫn giữa kiểm soát bảo vệ nghiêm ngặt và hỗ trợ sinh kế vùng đệm.

Nhóm giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Luật kinh tế, Luật tài nguyên môi trường: Tham khảo nguồn tư liệu học thuật giá trị với khung phân tích 3 chương chuyên sâu, hệ thống số liệu trích dẫn chuẩn xác và phương pháp so sánh luật học quốc tế.

Nhóm các tổ chức bảo tồn trong nước và quốc tế (IUCN, WWF, BirdLife): Khai thác dữ liệu đánh giá thực địa về 2.494 loài thực vật để thiết kế các dự án viện trợ kỹ thuật, quan trắc biến thái rừng và bảo tồn nguồn gen nguy cấp tại khu vực miền Tây Nghệ An.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân dẫn đến sự không thống nhất giữa Luật Đa dạng sinh học 2008 và Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004 là gì? Nguyên nhân chủ yếu do lịch sử quản lý ngành phân tán, khi Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 tiếp cận theo góc độ quản lý ngành lâm nghiệp với khái niệm rừng đặc dụng, trong khi Luật Đa dạng sinh học năm 2008 tiếp cận theo nguyên tắc bảo tồn tổng hợp sinh thái của thế giới.

Vườn quốc gia Pù Mát có vị trí quan trọng như thế nào trong mạng lưới bảo tồn quốc gia? Pù Mát là trung tâm của Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An được UNESCO công nhận năm 2007, lưu giữ thảm thực vật phong phú gồm 2.494 loài thực vật có mạch, hơn 1.000 loài động vật và là sinh cảnh sinh tồn của nhiều loài thú lớn nguy cấp toàn cầu.

Cơ chế chia sẻ lợi ích nguồn gen theo kinh nghiệm Costa Rica có thể áp dụng tại Việt Nam như thế nào? Việt Nam có thể áp dụng quy định bắt buộc phải có sự chấp thuận trước của cộng đồng sở hữu tri thức bản địa, ký kết thỏa thuận chuyển giao công nghệ và phân chia tối thiểu 10% đến 20% lợi nhuận thương mại hóa nguồn gen cho quỹ bảo tồn địa phương.

Rào cản lớn nhất trong việc thực thi pháp luật bảo tồn tại huyện Con Cuông hiện nay là gì? Rào cản lớn nhất là xung đột giữa mục tiêu bảo tồn nghiêm ngặt vùng lõi hơn 94.000 ha với áp lực tìm kiếm kế sinh nhai của hàng ngàn hộ dân nghèo tại vùng đệm thiếu đất canh tác và nguồn vốn sản xuất.

Cơ chế đồng quản lý rừng có vai trò gì trong việc nâng cao hiệu lực pháp luật bảo tồn? Cơ chế đồng quản lý giúp chuyển đổi người dân từ đối tượng bị cấm đoán thành chủ thể tham gia bảo vệ, được giao quyền hưởng lợi từ lâm sản phụ và dịch vụ môi trường rừng, giúp giảm trên 50% số vụ phá rừng trái phép.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về bảo tồn đa dạng sinh học và chỉ rõ bản chất công cụ điều chỉnh hành vi của pháp luật môi trường.
  • Làm sáng tỏ thực trạng mâu thuẫn thể chế giữa Luật Đa dạng sinh học năm 2008 với các luật chuyên ngành trong việc phân loại và quản lý 211 khu bảo tồn toàn quốc.
  • Phân tích sâu sắc thực trạng áp dụng pháp luật tại Vườn quốc gia Pù Mát, nơi có 2.494 loài thực vật, chỉ ra nguyên nhân vi phạm bắt nguồn từ bất cập sinh kế vùng đệm.
  • Đúc kết 5 bài học kinh nghiệm quốc tế quý giá từ Hungary, Nam Phi, Slovenia, Trung Quốc và Costa Rica để áp dụng linh hoạt vào hoàn cảnh Việt Nam.
  • Đề xuất lộ trình 4 nhóm giải pháp đồng bộ về lập pháp, tổ chức bộ máy, kinh tế sinh thái và hợp tác quốc tế hướng tới mốc phát triển bền vững 2020-2025.

Học viên, nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách hãy khai thác ngay nguồn dữ liệu thực chứng chuyên sâu của công trình này để phục vụ công tác nghiên cứu và hoàn thiện thể chế quản lý tài nguyên thiên nhiên quốc gia.