ĐẶT VẤN ĐỀ Thú là nhóm loài động vật có giá trị cao về mặt thực phẩm, dƣợc liệu và thƣơng mại nên là đối tƣợng săn bắt chủ yếu của con ngƣời. Quần thể các loài thú ngoài tự nhiên ngày càng bị suy giảm mạnh, đặc biệt là các loài thú lớn và thú có giá trị. Thực tiễn cho thấy, trong tổng số 418 loài động vật đƣợc liệt kê trong Sách đỏ Việt Nam (2007) thì có 94 loài thú (chiếm 22,5% tổng số các loài động vật) đang đứng bên bờ tuyệt chủng. Khả năng bắt gặp các loài thú lớn ở ngoài tự nhiên rất hiếm mà chủ yếu là các loài thú nhỏ nhƣ chuột, sóc, hoặc các loài dơi.
Bên cạnh đó, các loài thú nói riêng và các loài động vật nói chung hiện đang đối mặt với nhiều mối đe dọa khác nhau, điển hình là săn bắt và phá hủy sinh cảnh sống. Tình trạng khai thác gỗ củi, lấn chiếm đất rừng để canh tác nông nghiệp hoặc xây dựng công trình, khai thác lâm sản phụ, săn bắn trái phép xảy ra ở tất cả các khu rừng đặc dụng trong cả nƣớc. Mặc dù, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều biện pháp nhằm bảo tồn tài nguyên rừng nhƣ: công tác bảo tồn nội vi trong việc thành lập gần 200 khu rừng đặc dụng; công tác bảo tồn ngoại vi trong việc xây dựng các vƣờn sƣu tập, các trung tâm cứu hộ, các ngân hàng gen…và cả sử dụng các Văn bản luật nhằm dăn đe các tội phạm phá rừng nhƣng vẫn chƣa thể ngăn chặn đƣợc sự mất mát nguồn tài nguyên nhƣ hiện nay. Công tác bảo tồn tài nguyên rừng cần phải mang tính chất toàn dân và tại tất cả các địa phƣơng trong cả nƣớc.
Vì vậy, nghiên cứu hiện trạng quần thể các loài động vật và có phƣơng án bảo tồn tại các vùng miền là công việc cần thiết và cần sớm đƣợc triển khai. Hồ Đồng Mô là hồ nƣớc ngọt nhân tạo thuộc địa phận xã Kim Sơn, thị xã Sơn Tây và một phần thuộc huyện Ba Vì, TP. Hồ Đồng Mô cách trung tâm Hà Nội khoảng 40km về phía Tây Bắc, là một vùng bán sơn thủy có diện tích 1. Trƣớc những vẻ đẹp của thiên nhiên ban tặng, khu vực hồ Đồng Mô đã trở thành một trong những điểm du lịch hấp dẫn cho các du khách trong nƣớc và quốc tế nhƣ Sân Golf, Đảo Dài, các khu nghỉ dƣỡng.
Không những vậy, 1 hồ Đồng Mô là nơi sinh sống của nhiều loài thực vật, động vật hoang dã nhƣ sen, súng, các trảm cỏ lau sậy…và đặc biệt, trong lòng hồ có nhiều đảo nhỏ tạo nên các dạng sinh cảnh và nơi cƣ chú của nhiều loài chim, thú. Đặc biệt, hồ Đồng Mô là địa điểm thứ 2 của nƣớc ta phát hiện có sự cƣ trú của loài Giải sin hoe hay tên gọi khác là Rùa hoàn Kiếm (Rafetus swinhoei) hiện đang sinh sống. Tuy nhiên, đến nay chƣa có một công trình nghiên cứu nào về đa dạng sinh học tại hồ Đồng Mô. Vì vậy, nghiên cứu đa dạng sinh học và giảm thiểu các tác động tiêu cực của ngƣời dân địa phƣơng có ý nghĩa to lớn không chỉ góp phần bổ sung dữ liệu về đa dạng sinh học của cả nƣớc mà còn có ý nghĩa to lớn trong việc bảo vệ loài Rùa hoàn kiếm đang có nguy cơ bị tuyệt chủng cao ở nƣớc ta.
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng các loài thú và đề xuất các giải pháp bảo tồn tại khu vực hồ Đồng Mô, Hà Nội”. Đề tài đƣợc thực hiện nhằm bổ sung cơ sở dữ liệu về đa dạng sinh học cũng nhƣ bảo tồn sinh cảnh sống của các loài động vật tại khu vực hồ Đồng Mô. 2 PHẦN I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Đặc điểm chung của lớp Thú Theo tài liệu của Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy (1998), Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh (2009), đặc điểm chung của các loài thú nhƣ sau: ớp thú (Mamalia) là nhóm động vật có tổ chức cao nhất trong động vật Có xƣơng sống.
Cơ thể phủ lông mao (một số ít loài không có lông). Da có nhiều loại tuyến, nhƣng nổi bật là có tuyến sữa. Bộ xƣơng có sự tiến hoá cao nhƣ: sọ có 2 lồi cầu chẩm, xƣơng màng nhĩ và xƣơng xoăn mũi do có liên quan đến sự phát triển của thính giác và khứu giác mà phân hoá phức tạp, cổ có 7 đốt, chi có cấu tạo 5 ngón điển hình nhƣng có biến đổi để thích nghi với các lối vận chuyển khác nhau. Có cơ hoành đặc trƣng, ngăn cách và hình thành xoang ngực và xoang bụng.
Răng phân hoá, mọc trên xƣơng hàm. ệ thần kinh phát triển rất cao, bán cầu não trƣớc có vỏ não lớn và hình thành vòm não mới, có nhiều khe rãnh trên bán cầu não, tiểu não hình thành bán cầu tiểu não. Có đủ 12 đôi dây thần kinh não - giác quan phát triển mạnh. Tim có 4 ngăn, chỉ có chủ động mạch trái, hồng cầu không nhân - lõm 2 mặt - hổi có buồng thanh, nhiều phế nang, khả năng trao đổi khí với cƣờng độ cao.
à động vật đẳng nhiệt, khả năng điều hoà thân nhiệt cao. ậu thận, ống dẫn niệu mở vào bóng đái, ống dẫn niệu - sinh dục và ống tiêu hoá đổ vào hai lỗ khác nhau - có cơ quan giao phối, dịch hoàn nằm lọt xuống bìu ngoài xoang bụng - Có 02 buồng trứng, 02 ống dẫn và 01 tử cung, 01 âm đạo. Trứng nhỏ, thụ tinh trong và phát triển trong tử cung. Đối với thú cao thì phôi có liên hệ mật thiết với cơ thể mẹ qua màng phôi là màng ối, màng đệm, túi niệu tạo thành nhau thai.
Nuôi con bằng sữa. Lớp thú có ba dạng chính do thích nghi với môi trƣờng sống: Dạng có đầu, mình, cổ, và đuôi phân biệt rõ ràng: dạng này chiếm đa số các loài trong lớp thú, các loài này chủ yếu là sống trên cạn. Ví dụ: Mèo, Thỏ, Hổ, Trâu. Dạng có cánh: dạng này thích nghi với môi trƣờng sống không khí, có khả năng bay lƣợn.
Giữa các ngón của chi có lớp da – giống y nhƣ cánh của các loài 3 chim, hoặc màng da nối chi trƣớc với cổ, chi sau. Ví dụ: Dơi, Chồn bay, Sóc bay. Dạng thích nghi bơi lội: cơ thể có các chi biến đổi thành các vây. Lớp da trở nên trơn và bóng hơn.
Các đặc điểm tiến hóa vƣợt trội của lớp thú hơn các lớp động vật khác giúp cho các loài thú sinh sống trên khắp lục địa trừ vùng Nam Cực. Mỗi loài thú thích nghi với môi trƣờng sống đặc trƣng. Con non sinh ra đƣợc bảo vệ và chăm sóc tốt. Thành phần các loài thú ở Việt Nam Nghiên cứu về thành phần các loài thú ở Việt Nam đƣợc thực hiện bởi nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc.
Phần lớn các nghiên cứu tập trung vào một nhóm loài cụ thể. Trên cơ sở này, nhiều tác giả đã tổng hợp kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học ở tất cả các vùng miền và các nhóm loài khác nhau để xây dựng bản danh lục thú Việt Nam, tiêu biểu nhƣ: Đặng Huy Huỳnh (1994), ê Vũ Khôi (2000), Kyznetsov (2006), Đặng Ngọc Quân và cộng sự (2008), Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh (2009). Năm 1980, Cao Văn Sung và các cộng sự nghiên cứu về “Những loài gặm nhấm ở Việt Nam” đã thống kê đƣợc 64 loài, 7 họ thú gặm nhấm ở nƣớc ta. Năm 1981, Đặng Huy Huỳnh và cộng sự trong báo cáo “Kết quả điều tra nguồn lợi thú ở Việt Nam” đã tập hợp các tƣ liệu điều tra thú và lập danh sách các loài thú ở miền Bắc Việt Nam bao gồm 169 loài thú (202 loài và phân loài) thuộc 32 loài và 11 bộ.
Năm 1985, Đào Văn Tiến đã tiến hành khảo sát thú ở miền Bắc Việt Nam. Kết quả nghiên cứu đã lập đƣợc danh lục 129 loài và phân loài thú thuộc 32 họ, 11 bộ. Kết quả nghiên cứu của Đào Văn Tiến dựa vào phân tích các mẫu vật thú sƣu tầm đƣợc ở 12 tỉnh miền Bắc Việt Nam từ năm 1957 - 1971. Năm 1994, Đặng Huy Huỳnh và các cộng sự trong bản “Danh lục các loài thú (Mammalia) Việt Nam” đã thống kê đƣợc 223 loài thú thuộc 12 bộ, 37 họ (không thống kê các loài thú biển).
Năm 2000, ê Vũ Khôi trong bản “Danh lục các loài thú Việt Nam” đã thống kê 252 loài (289 loài và phân loài) thú ở Việt Nam (không thống kê các loài thú trên biển). Borissenko và Kruskop trong báo cáo “Bats of Vietnam and Ajacent territories.An indentìication manual” đã mô tả 57 loài dơi ở Việt Nam. Năm 2006, Kyznetsov trong tác phẩm “Mlekopitausii Vietnama” (thú Việt Nam tiếng Nga) đã thống kê 310 loài thú thuộc 44 họ và 14 bộ (kể cả loài thú biển) đây là danh lục thú Việt Nam đầu tiên có thống kê các loài thú biển đã biết ở vùng biển Việt Nam. Năm 2008, Đặng Ngọc Quân và cộng sự trong tác phẩm: “Danh lục các loài thú Việt Nam” đã thống kê 295 loài thú (298 loài và phân loài) thú thuộc 37 họ và 13 bộ ở Việt Nam (không kể thú biển).
Và gần đây nhất là vào năm 2009, Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh đã xây dựng tài liệu “Phân loại học lớp thú (Mammalia) và đặc điểm về khu hệ thú hoang dã Việt Nam”. Trong bản danh lục này, các tác giả đã thống kê 322 loài thuộc 43 họ 15 bộ thú ở Việt Nam (kể cả các loài thú biển). Thông tin về các bộ và họ thú đƣợc trình bày chi tiết trong bảng 1.1: Bảng tổng hợp về phân loại lớp thú ở Việt Nam TT Tên Việt Nam Tên khoa học Họ Loài 1 Bộ có vòi Proboscidea 1 1 2 Bộ Bò nƣớc Sirenia 1 1 3 Bộ Nhiều răng Scandentia 1 2 4 Bộ Linh trƣởng Primates 3 23 5 Bộ Cánh da Dermoptera 1 1 6 Bộ Thỏ Lagomorpha 1 3 7 Bộ Chuột voi Erinaceomorpha 1 2 8 Bộ Chuột chù Soricomorpha 2 22 9 Bộ Dơi Chiroptera 7 113 10 Bộ Tê tê Pholidota 1 2 11 Bộ Ăn thịt Carnivora 7 39 12 Bộ Móng guốc ngón lẻ Perrisodactyla 2 3 13 Bộ Móng guốc ngón chẵn Artiodactyla 5 20 14 Bộ Cá voi Cetacea 4 22 15 Bộ Gặm nhấm Rodentia 6 68 Tổng 15 43 322 Nguồn: Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh (2009). 5 Có thể nói, thành phần các loài thú ở Việt Nam thay đổi theo thời gian và khác nhau giữa các tác giả.
Việc thống kê các loài thú biển cũng có nhiều quan điểm khau nhau. Tổng hợp các nghiên cứu về thành phần các loài thú ở Việt Nam đƣợc trình bày trong bảng 1.