Tổng quan nghiên cứu

Khu rừng phòng hộ xã Việt Hồng, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái sở hữu tổng diện tích đất tự nhiên 3.537,47 ha, trong đó diện tích đất quy hoạch lâm nghiệp đạt 3.049,7 ha với 2.318,3 ha rừng tự nhiên đóng vai trò lá chắn đầu nguồn xung yếu cho toàn bộ lưu vực ngòi Vần. Khu vực này còn gắn liền với Di tích lịch sử cấp Quốc gia Chiến khu Vần, được thành lập theo quyết định ngày 04 tháng 09 năm 1995 của Bộ Văn hóa - Thông tin, tạo nên không gian giao thoa đặc biệt giữa giá trị sinh thái rừng nhiệt đới và di sản lịch sử Tây Bắc.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực trạng suy thoái cấu trúc rừng tự nhiên do áp lực khai thác lâm sản, canh tác nương rẫy và chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ 630 hộ dân sinh sống tại khu vực vùng đệm. Mục tiêu cụ thể của công trình là giám định thành phần loài, phân tích cấu trúc phân loại học, đánh giá phổ dạng sống, xác định yếu tố địa lý và thống kê các loài nguy cấp có giá trị bảo tồn cao tại ba tiểu khu 415, 418 và 419.

Nghiên cứu được triển khai thực địa liên tục từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2019, cung cấp bộ dữ liệu nền tảng về 293 loài thực vật bậc cao có mạch. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện qua việc nâng cao hiệu quả quản lý cho 1.899,3 ha rừng tự nhiên phòng hộ do Ban chỉ đạo chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững huyện Trấn Yên quản lý, tạo cơ sở pháp lý và khoa học vững chắc giúp giảm thiểu hơn 80% nguy cơ suy thoái đa dạng sinh học trong giai đoạn phát triển tiếp theo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng hệ thống quan điểm sinh thái phát sinh quần xã thảm thực vật rừng nhiệt đới của các nhà khoa học lâm nghiệp hàng đầu kết hợp phương pháp phân loại học hình thái hiện đại. Cấu trúc hệ thống phân loại thực vật bậc cao có mạch được xây dựng dựa trên khung chuẩn hóa của Brummitt (1992) kết hợp hệ thống danh lục thực vật Việt Nam.

Ba lý thuyết nền tảng được tích hợp bao gồm: lý thuyết phân tích tính đa dạng họ của Tolmachev (1974) xác định ngưỡng đa dạng nhiệt đới khi tổng tỷ lệ của 10 họ giàu loài nhất không vượt quá 50%; phương pháp phân loại phổ dạng sống Raunkiaer (1934) cải tiến bởi Thái Văn Trừng (1999) nhằm xác định mức độ thích nghi sinh thái qua hai mùa mưa khô; và lý thuyết phân tích yếu tố địa lý thực vật của Pocs Tamas (1965) cùng Nguyễn Nghĩa Thìn (1999).

Bốn khái niệm then chốt được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm: độ phong phú taxon bậc họ - chi - loài, tỷ trọng tiến hóa giữa lớp Ngọc lan và lớp Loa kèn, chỉ số tương đồng hệ thực vật Sorenson (1983), và taxon họ đơn loài có giá trị bảo tồn nguồn gen nguy cấp.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu ngoại nghiệp được thu thập trực tiếp thông qua 622 số hiệu mẫu vật thực vật qua 3 đợt khảo sát thực địa chuyên sâu trên diện tích 3 tiểu khu trọng điểm. Cỡ mẫu này đảm bảo tính đại diện cao cho toàn bộ các đai cao và dạng sinh cảnh từ thung lũng khe suối lên đến đỉnh mốc 800 m.

Phương pháp chọn mẫu áp dụng là điều tra theo 9 tuyến khảo sát xuyên tâm kết hợp các tuyến phụ rẽ nhánh cách nhau 100 m về hai phía, đảm bảo không trùng lặp và bao phủ toàn diện các trạng thái rừng gỗ trung bình (IIIa2), rừng nghèo (IIIa1), rừng phục hồi sau nương rẫy (II) và rừng tre nứa. Lý do lựa chọn hệ thống tuyến điều tra kết hợp thu mẫu hình thái học so sánh vì địa hình xã Việt Hồng có dạng đồi bát úp chia cắt mạnh, độ dốc lớn từ Đông sang Tây, đòi hỏi việc lấy mẫu phải phủ kín các tiểu vùng vi khí hậu.

Dữ liệu nội nghiệp được xử lý bằng phương pháp tra cứu tài liệu chuyên khảo đối chiếu với Sách Đỏ Việt Nam (2007), Nghị định 06/2019/NĐ-CP và tiêu chuẩn danh lục đỏ quốc tế IUCN (2019). Timeline nghiên cứu tổng thể hoàn thành trọn vẹn trong vòng 5 tháng ngoại nghiệp và nội nghiệp năm 2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra đã xác lập danh lục đầy đủ gồm 293 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 221 chi, 93 họ trong 3 ngành chính:

  • Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) chiếm ưu thế tuyệt đối với 261 loài (chiếm 89,08% tổng số loài), 202 chi (chiếm 91,40%) và 80 họ (chiếm 86,02%). Trong đó, lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) chiếm 215 loài (82,38% trong ngành), vượt trội so với lớp Loa kèn (Liliopsida) có 46 loài (17,62%).
  • Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) đứng thứ hai với 31 loài (chiếm 10,58% tổng số loài), 18 chi (8,14%) và 12 họ (12,90%).
  • Ngành Thông đất (Lycopodiophyta) ghi nhận tỷ lệ thấp nhất với chỉ 1 loài, 1 chi và 1 họ (chiếm 0,34% tổng số loài).

Tỷ trọng tiến hóa giữa lớp Ngọc lan so với lớp Loa kèn đạt tỷ lệ 4,7 về số loài; 3,9 về số chi và 4,0 về số họ. Chỉ số này lớn hơn 3, minh chứng hệ thực vật tại đây mang đậm bản chất nhiệt đới ẩm gió mùa. Đánh giá ở cấp độ taxon dưới ngành cho thấy 10 họ giàu loài nhất chỉ chiếm 101 loài (tương đương 34,5% tổng số loài), dẫn đầu là họ Cà phê - Rubiaceae (18 loài, 6,1%), họ Na - Annonaceae (14 loài, 4,8%) và họ Đậu - Fabaceae (11 loài, 3,8%). Chi Sung (Ficus) chiếm vị trí dẫn đầu với 9 loài (3,1%), tiếp theo là chi Hồ tiêu (Piper) và Tử châu (Callicarpa) cùng có 5 loài (1,7%).

Khu hệ thực vật ghi nhận tới 32 họ đơn loài (như Quyển bá, Ráng móng ngựa, Măng cụt, Mã tiền, Mía dò, Râu hùm), đóng vai trò then chốt trong công tác bảo tồn sinh học vì nguy cơ mất một loài đồng nghĩa với việc biến mất hoàn toàn một taxon bậc họ tại địa phương. Đặc biệt, nghiên cứu đã phát hiện 15 loài thực vật nguy cấp quý hiếm, bao gồm 8 loài thuộc nhóm IIA theo Nghị định 06/2019/NĐ-CP (điển hình như Kiều hoa xếp ba, Nỉ lan bé, Trúc kinh, Trắc dây) và 7 loài trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 (trong đó có 2 loài Đang nguy cấp EN: Dần toòng, Sao hải nam; 5 loài Sắp nguy cấp VU: Chò nâu, Sồi bắc giang, Vàng tâm, Sâm cau, Lá khôi). Về giá trị tài nguyên, có 351 lượt sử dụng được phân loại vào 10 nhóm công dụng, nổi bật nhất là 168 loài cây làm thuốc (57,3%), 60 loài cây cảnh và bóng mát (20,5%), 50 loài cây làm thực phẩm (17,1%) và 46 loài cây lấy gỗ thương phẩm (15,7%).

Thảo luận kết quả

Cấu trúc phân loại học phản ánh mức độ phong phú cao của hệ thực vật xã Việt Hồng, thể hiện rõ quy luật phân bố của rừng mưa nhiệt đới gió mùa đồi núi thấp phía Bắc Việt Nam. Tỷ lệ 10 họ giàu loài nhất chiếm 34,5% (nằm dưới ngưỡng 50% theo lý thuyết Tolmachev) khẳng định tính phân tán và đa dạng sinh học cao của các họ thực vật bản địa, không bị chi phối đơn cực bởi một vài taxon cục bộ.

Khi so sánh qua ma trận chỉ số tương đồng sinh thái học Sorenson, hệ thực vật xã Việt Hồng có mối quan hệ giao thoa mật thiết với các khu hệ lân cận nhưng vẫn giữ nét đặc thù về tổ thành loài gỗ tán trên như Trám, Táu muối, Giẻ, Sâng, Phay và Chò nâu. Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan thông qua các biểu đồ hình cột so sánh tỷ trọng giữa các ngành thực vật, biểu đồ tròn phân bố tỷ lệ 10 nhóm công dụng kinh tế và các bảng đối chiếu taxon bậc cao.

Mặc dù chịu tác động bởi hoạt động khai thác gỗ chọn trong quá khứ khiến trạng thái rừng IIIa1 bị vỡ tán, mật độ cây tái sinh tự nhiên vẫn đạt bình quân 1.600 cây/ha và trạng thái rừng IIIa2 đạt trữ lượng gỗ trung bình 199,6 m3/ha. Điều này khẳng định khả năng tự phục hồi sinh thái mạnh mẽ của quần xã nếu có các biện pháp can thiệp lâm sinh kịp thời.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả đánh giá thực trạng đa dạng sinh học và các mối đe dọa, 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất:

  • Thiết lập phân khu bảo vệ nghiêm ngặt đối với 1.899,3 ha diện tích rừng tự nhiên phòng hộ tại các tiểu khu 418 và 419, ưu tiên bảo tồn nguyên vị (in-situ) 15 loài thực vật nguy cấp thuộc Sách Đỏ và Nghị định 06/2019/NĐ-CP, do Ban chỉ đạo phát triển lâm nghiệp bền vững huyện Trấn Yên chủ trì phối hợp với Hạt Kiểm lâm địa bàn thực hiện liên tục trong giai đoạn 2020-2024.
  • Triển khai mô hình phát triển lâm sản ngoài gỗ và thuần dưỡng 168 loài cây dược liệu có giá trị kinh tế cao (như Lá khôi, Dần toòng, Thiên niên kiện, Bách bộ), đặt mục tiêu nâng cao thu nhập cho 630 hộ dân bản địa thêm 15-20%, do UBND xã Việt Hồng và Hợp tác xã Nông lâm nghiệp địa phương điều hành giai đoạn 2021-2025.
  • Ứng dụng công nghệ định vị vệ tinh GPS và số hóa bản đồ phân bố 622 tọa độ điểm mẫu nhằm tăng cường tần suất tuần tra định kỳ 2 lần/tuần, cắt giảm 90% các vụ vi phạm chặt phá rừng và khai thác phong lan trái phép trước năm 2023.
  • Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục pháp luật về Luật Lâm nghiệp số 16/2017/QH14 kết hợp chi trả dịch vụ môi trường rừng, đảm bảo 100% các thôn bản ký cam kết bảo vệ rừng phòng hộ gắn với giữ gìn không gian di tích Chiến khu Vần trong suốt chu kỳ 2020-2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ quản lý lâm nghiệp và lực lượng Kiểm lâm: Sử dụng số liệu 293 loài thực vật và 15 loài nguy cấp để xây dựng phương án quản lý rừng bền vững, quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học cấp huyện và cấp tỉnh.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Lâm sinh, Quản lý tài nguyên rừng, Sinh học: Ứng dụng phương pháp điều tra 9 tuyến thực địa, quy trình giám định mẫu hình thái và phương pháp phân tích chỉ số Sorenson làm tài liệu tham khảo nghiên cứu học thuật.
  • Doanh nghiệp sản xuất dược liệu và chế biến lâm sản: Khai thác danh mục 168 loài cây thuốc và 46 loài cây lấy gỗ làm căn cứ quy hoạch vùng nguyên liệu tự nhiên bền vững.
  • Ban quản lý di tích lịch sử và các tổ chức phát triển du lịch sinh thái: Tích hợp dữ liệu cảnh quan sinh thái rừng phòng hộ vào các tour du lịch trải nghiệm lịch sử - môi trường tại quần thể di tích Chiến khu Vần.

Câu hỏi thường gặp

Hệ thực vật rừng phòng hộ xã Việt Hồng có quy mô và cấu trúc phân loại như thế nào? Hệ thực vật tại đây ghi nhận 293 loài thuộc 221 chi, 93 họ của 3 ngành thực vật bậc cao có mạch. Ngành Ngọc lan đóng vai trò chủ đạo với 261 loài (chiếm 89,08%), ngành Dương xỉ có 31 loài (10,58%) và ngành Thông đất có 1 loài (0,34%).

Tỷ trọng tiến hóa giữa hai lớp trong ngành Ngọc lan thể hiện ý nghĩa sinh thái gì? Tỷ trọng lớp Ngọc lan so với lớp Loa kèn đạt 4,7 về loài, 3,9 về chi và 4,0 về họ. Theo quy chuẩn sinh thái học thực vật, các tỷ số này đều vượt ngưỡng 3, khẳng định khu hệ thực vật xã Việt Hồng mang đặc trưng điển hình của đới rừng mưa nhiệt đới gió mùa.

Khu vực nghiên cứu có bao nhiêu loài thực vật quý hiếm cần ưu tiên bảo vệ? Nghiên cứu đã ghi nhận 15 loài nguy cấp, gồm 8 loài thuộc nhóm IIA Nghị định 06/2019/NĐ-CP (chủ yếu thuộc họ Lan Orchidaceae) và 7 loài trong Sách Đỏ Việt Nam 2007, tiêu biểu là 2 loài Đang nguy cấp EN (Dần toòng, Sao hải nam) cùng 5 loài Sắp nguy cấp VU (Chò nâu, Sồi bắc giang, Vàng tâm, Sâm cau, Lá khôi).

Tiềm năng sử dụng tài nguyên thực vật tại địa phương được phân bổ ra sao? Toàn bộ hệ thực vật mang lại 351 lượt giá trị sử dụng thuộc 10 nhóm khác nhau. Trong đó, nhóm cây làm thuốc chiếm tỷ trọng lớn nhất với 168 loài (57,3%), tiếp theo là nhóm cây làm cảnh, bóng mát với 60 loài (20,5%) và nhóm cây lấy gỗ với 46 loài (15,7%).

Cỡ mẫu và phương pháp điều tra thực địa của đề tài được tiến hành như thế nào? Tác giả đã thu thập 622 số hiệu mẫu vật qua 3 đợt khảo sát trên 9 tuyến điều tra chính kết hợp các tuyến phụ rẽ nhánh cách nhau 100 m, bao quát toàn bộ 3 tiểu khu 415, 418, 419 từ vùng thấp lên đến đỉnh cao 800 m.

Kết luận

  • Hệ thực vật rừng phòng hộ xã Việt Hồng có tính đa dạng sinh học cao với 293 loài, 221 chi, 93 họ thuộc 3 ngành thực vật bậc cao có mạch.
  • Bản chất hệ thực vật mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa rõ nét với tỷ trọng loài Ngọc lan/Loa kèn đạt 4,7 và 10 họ giàu loài nhất chiếm 34,5% tổng số loài.
  • Công trình đã phát hiện 15 loài thực vật nguy cấp quý hiếm cùng 32 họ đơn loài mang ý nghĩa bảo tồn nguồn gen sinh học cấp bách.
  • Tiềm năng tài nguyên kinh tế vượt trội với 168 loài cây thuốc (57,3%) và 46 loài cây gỗ thương phẩm giá trị cao (15,7%).
  • Luận văn cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc phục vụ công tác quản lý 3.049,7 ha đất lâm nghiệp gắn liền với bảo tồn di tích Chiến khu Vần.

Về lộ trình tiếp theo, các cơ quan chức năng cần triển khai ngay việc cắm mốc ranh giới bảo tồn cho các loài quý hiếm trong giai đoạn 2024-2026 và định kỳ quan trắc diễn thế sinh thái thảm thực vật 3 năm một lần. Hãy liên hệ với các cơ quan quản lý lâm nghiệp địa phương và viện nghiên cứu chuyên ngành để tiếp cận toàn văn bộ dữ liệu, cùng chung tay bảo vệ nguồn tài nguyên rừng quý giá tại Trấn Yên, Yên Bái.