Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các công ty kinh doanh bất động sản niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Đàm Thanh Tú, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Văn Hậu, bảo vệ tại Học viện Tài chính năm 2016 (Chuyên ngành: Kế toán, Mã số: 62.01).

Về tính cấp thiết, thị trường bất động sản Việt Nam sau giai đoạn tăng trưởng mạnh đã rơi vào tình trạng suy giảm với các biểu hiện cụ thể như lượng hàng tồn kho tăng cao, hiệu quả kinh doanh sụt giảm, nợ xấu phát sinh lớn. Tình trạng này khiến nhiều công ty kinh doanh bất động sản (KDBĐS), đặc biệt là các doanh nghiệp niêm yết, gặp khó khăn nghiêm trọng trong hoạt động kinh doanh và cân đối tài chính, dẫn đến việc nhiều đơn vị phải giải thể hoặc tạm ngừng hoạt động. Nguyên nhân chủ quan được tác giả xác định là do các công ty KDBĐS niêm yết chưa sử dụng hiệu quả các công cụ quản lý, đặc biệt là công tác phân tích tài chính (PTTC). Hệ thống chỉ tiêu PTTC hiện hành bộc lộ nhiều hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin hữu ích cho các bên liên quan và chưa xây dựng được các chỉ tiêu đặc thù phản ánh đầy đủ rủi ro của ngành KDBĐS. Bên cạnh đó, bối cảnh thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào ngày 31/12/2015 và tiến trình hội nhập quốc tế đòi hỏi các doanh nghiệp phải nâng cao tính minh bạch thông tin tài chính nhằm gia tăng năng lực cạnh tranh và đáp ứng các tiêu chuẩn niêm yết.

Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng phần lớn các công trình trước đây chỉ tập trung vào lý luận phân tích tài chính doanh nghiệp nói chung hoặc áp dụng cho các loại hình doanh nghiệp cổ phần phi tài chính, doanh nghiệp liên doanh, hoặc một số ngành nghề chuyên biệt (như xi măng, đóng tàu, dược phẩm, xây dựng, khai thác khoáng sản). Chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính gắn liền với đặc thù kinh doanh của các công ty KDBĐS niêm yết trên các Sở Giao dịch Chứng khoán (SGDCK) của Việt Nam theo hai định hướng độc lập: phục vụ quản trị nội bộ và công bố thông tin công khai.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm ba nội dung chính được đánh số theo văn bản:

  1. Làm rõ hơn những vấn đề lý luận về hệ thống chỉ tiêu PTTC trong các công ty cổ phần (CTCP) niêm yết.
  2. Nghiên cứu và đánh giá thực trạng hệ thống chỉ tiêu PTTC trong các công ty KDBĐS niêm yết trên thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam theo hai hướng: công bố thông tin theo quy định của pháp luật và phục vụ công tác quản trị tài chính.
  3. Đề xuất các giải pháp cơ bản để hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu PTTC dành riêng cho các công ty KDBĐS niêm yết theo hai hướng: hệ thống chỉ tiêu phục vụ công tác quản trị tài chính doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng quản trị tài chính, và hệ thống chỉ tiêu PTTC phải công bố công khai theo quy định của pháp luật nhằm trợ giúp cho các nhà đầu tư trên TTCK có những thông tin trực quan, dễ hiểu về tình hình tài chính của doanh nghiệp.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống chỉ tiêu PTTC trong các công ty cổ phần.
  • Phạm vi nội dung: Nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu PTTC trong các công ty KDBĐS niêm yết trên SGDCK Việt Nam theo mục tiêu công bố thông tin ra bên ngoài và phục vụ quản trị nội bộ.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát trên toàn bộ 58 công ty KDBĐS niêm yết trên TTCK Việt Nam, gồm 38 công ty niêm yết trên SGDCK TP. Hồ Chí Minh (HOSE) và 20 công ty niêm yết trên SGDCK Hà Nội (HNX).
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và xử lý số liệu giai đoạn 2011 – 2015.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài theo ba nhóm công trình:

Nhóm 1: Các giáo trình và sách chuyên khảo về phân tích báo cáo tài chính và PTTC doanh nghiệp tại Việt Nam:

  • Các ấn phẩm của Học viện Tài chính: Sách "Đọc và Phân tích Báo cáo tài chính doanh nghiệp" (2010) và "Giáo trình Phân tích Tài chính doanh nghiệp" (dùng cho lớp không chuyên ngành, tái bản 2015) do PGS. Nghiêm Thị Thà đồng chủ biên; "Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp" (tái bản lần 3, 2015) do GS. Nguyễn Trọng Cơ đồng chủ biên; "Giáo trình Tài chính doanh nghiệp" (tái bản 2015) do PGS. Vũ Văn Ninh đồng chủ biên. Nhóm tác giả này hệ thống hóa các chỉ tiêu PTTC thành: chỉ tiêu phân tích khái quát tình hình tài chính (quy mô, cấu trúc, khả năng sinh lời); phân tích chính sách tài chính (huy động vốn, đầu tư, phân phối lợi nhuận); phân tích tiềm lực tài chính (tình hình và kết quả kinh doanh, dòng tiền, công nợ, khả năng thanh toán, hiệu suất sử dụng vốn); phân tích tăng trưởng và giá trị doanh nghiệp; phân tích, dự báo rủi ro và dự báo báo cáo tài chính.
  • Các ấn phẩm của Đại học Kinh tế Quốc dân: "Giáo trình Quản trị tài chính doanh nghiệp" do PGS. Nguyễn Văn Công chủ biên; "Giáo trình phân tích báo cáo tài chính" (tái bản lần 2, 2011) do PGS. Nguyễn Ngọc Quang chủ biên. Nhóm tác giả tiếp cận theo hệ thống chỉ tiêu: đánh giá khái quát tình hình tài chính; phân tích cấu trúc tài chính và cân bằng tài chính; phân tích công nợ và khả năng thanh toán; phân tích hiệu quả kinh doanh; phân tích dấu hiệu khủng hoảng và rủi ro tài chính; dự báo chỉ tiêu trên báo cáo tài chính.
  • Các công trình khác: "Giáo trình Phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp thương mại – dịch vụ" của PGS. Nguyễn Quang Hùng và cộng sự (ĐH Thương mại); "Phân tích tài chính doanh nghiệp" của TS. Hồ Chí Minh.

Nhóm 2: Các luận án tiến sĩ và đề tài nghiên cứu khoa học chuyên sâu:

  • Nguyễn Tuấn Phương (1998): "Hoàn thiện nội dung phân tích hoạt động tài chính của các doanh nghiệp sản xuất liên doanh với nước ngoài".
  • Nguyễn Trọng Cơ (1999): "Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các doanh nghiệp cổ phần phi tài chính".
  • Nguyễn Thị Quyên (2012): "Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam" (tập trung vào công bố công khai).
  • Phạm Thị Quyên (2014): "Hoàn thiện nội dung phân tích tài chính trong các công ty cổ phần thuộc Tổng công ty công nghiệp xi măng Việt Nam" (hoàn thiện tổ chức, phương pháp và hệ thống chỉ tiêu).
  • Nguyễn Thị Ngọc Lan (2016): "Hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính trong các doanh nghiệp xây dựng phục vụ quản trị tài chính doanh nghiệp".
  • Nguyễn Thị Mai Hương: "Phân tích hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp khai thác khoáng sản Việt Nam".
  • Trần Thị Thu Phong (2012): "Hoàn thiện phân tích hiệu quả kinh doanh trong các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam".
  • Đề tài cấp cơ sở tại Học viện Tài chính: Nghiêm Thị Thà (2011) về ngành đóng tàu hàng hải; Nguyễn Thị Thanh (2014) về các công ty dược phẩm niêm yết.

Nhóm 3: Các tài liệu và nghiên cứu quốc tế:

  • Sách chuyên khảo: Josette Peyrard ("Phân tích tài chính doanh nghiệp", Đỗ Văn Thận dịch); Eugene F. Brigham ("Financial Management Theory and Practice", ĐH Florida) phân loại chỉ tiêu thành: khả năng thanh khoản, hiệu quả sử dụng tài sản và quản trị nợ, khả năng sinh lời, tỷ số giá thị trường; Steven Bragg ("Financial Analysis: A Business Decision Guide") phân thành: tình hình và khả năng thanh toán, cơ cấu tài chính, năng lực hoạt động, lợi nhuận và phân phối lợi nhuận; Peter Atrill và Eddie McLaney ("Financial Accounting for decision makers") phân thành: tình hình tài sản, khả năng sinh lời, vay và nợ, hiệu quả kinh doanh, tình hình đầu tư.
  • Các công trình nghiên cứu thực nghiệm: Larcker (ĐH Stanford) và Taylor Randall (ĐH Utah) trong công trình "Performance implications of strategic performance measurement in financial services firms"; Ooi và Kim-Hiang Liow (ĐH Quốc gia Singapore) trong "Risk adjusted performance of real estate stocks: from developing markets" nghiên cứu các chỉ tiêu cảnh báo rủi ro cổ phiếu KDBĐS; Yan-Leung Cheung, Lynda Zhou (ĐH Hồng Kông), J. Thomas Connelly và Piman Limpaphayom (ĐH Chulalongkorn, Thái Lan) trong nghiên cứu "Determinants of Corporate Disclosure and Transparency: Evidence from Hong Kong and Thailand" thiết lập mô hình 9 chỉ tiêu (5 chỉ tiêu tài chính và 4 chỉ tiêu quản trị công ty) để phân tích mức độ công bố thông tin.

Vị trí và khoảng trống nghiên cứu của luận án: Tổng hợp các công trình trên cho thấy chưa có nghiên cứu nào phân tích một cách có hệ thống tác động của các đặc thù ngành KDBĐS (chu kỳ kinh doanh dài, đòn bẩy tài chính cao, biến động hàng tồn kho lớn) đến việc thiết lập hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính tại các công ty niêm yết ở Việt Nam. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách phân tách và hoàn thiện đồng thời hai hệ thống chỉ tiêu: công bố thông tin công khai và quản trị tài chính nội bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án sử dụng các khung lý luận và khái niệm nền tảng:

  • Khái niệm công ty cổ phần: Dựa trên Điều 110 Luật Doanh nghiệp 2014 và quan điểm của PGS.TS. Nguyễn Năng Phúc, Phạm Thị Quyên. Luận án làm rõ các đặc trưng về tư cách pháp nhân độc lập, chế độ trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn góp, cấu trúc vốn (vốn điều lệ, vốn tự có, vốn vay), quyền tự do chuyển nhượng cổ phần và mô hình quản trị ba cấp (Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc). Đồng thời, luận án phân loại CTCP thành: CTCP nội bộ và CTCP đại chúng; CTCP niêm yết và CTCP không niêm yết.
  • Khái niệm và mục tiêu phân tích tài chính: Dựa trên các tài liệu của Học viện Tài chính và Josette Peyrard, PTTC được xác định là việc vận dụng tổng thể các phương pháp khoa học để đánh giá thực trạng tài chính, an ninh tài chính và dự báo rủi ro. Luận án phân tích mục tiêu của PTTC theo bốn nhóm chủ thể: nhà quản trị doanh nghiệp, nhà đầu tư, nhà cho vay (tổ chức tín dụng), và người lao động.

Về phương pháp nghiên cứu: Luận án kết hợp giữa phương pháp tiếp cận định tính và định lượng.

  • Phương pháp định tính: Sử dụng kỹ thuật phân tích văn bản, quyết định quản lý, mô tả lịch sử và đối chiếu logic biện chứng để phân tích đặc điểm hoạt động kinh doanh ngành KDBĐS ảnh hưởng đến các chỉ tiêu tài chính.
  • Phương pháp định lượng:
    • Xác định kích thước mẫu khảo sát nhà đầu tư cá nhân khi không xác định trước quy mô tổng thể: $$n = \frac{z^2}{4e^2}$$ Với sai số cho phép $e = 10%$ (0,1), độ tin cậy $1 - \alpha = 90%$ ứng với $z = 1,65$, kích thước mẫu tối thiểu được tính là: $$n = \frac{1,65^2}{4 \times 0,1^2} \approx 68 \text{ (người)}$$
    • Xác định kích thước mẫu doanh nghiệp từ tổng thể đã biết gồm $N = 58$ công ty KDBĐS niêm yết trên SGDCK: $$n = \frac{N}{1 + N \cdot e^2} = \frac{58}{1 + 58 \times 0,1^2} \approx 37 \text{ (công ty)}$$
    • Tiêu chí lựa chọn mẫu nghiên cứu chính thức gồm 39 công ty (Phụ lục 1b):
      1. Doanh nghiệp phải được niêm yết trước ngày 01/01/2012.
      2. Có dự án kinh doanh bất động sản tại các tỉnh, thành phố lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Bình Dương, Khánh Hòa, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh...
      3. Mảng doanh thu từ kinh doanh bất động sản tương đối ổn định.
      4. Các công ty có vốn kinh doanh dưới 500 tỷ đồng chiếm tỷ lệ không quá 20% trong mẫu.

Nguồn tư liệu và kỹ thuật xử lý dữ liệu:

  • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua phiếu khảo sát gửi tới các nhà quản lý phụ trách tài chính - kế toán của các công ty KDBĐS niêm yết (Phụ lục 4a) và các nhà đầu tư chứng khoán cá nhân tại các công ty chứng khoán (Phụ lục 4b) qua hình thức gửi email, phát phiếu trực tiếp hoặc phỏng vấn trực tiếp.
  • Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo tài chính kiểm toán, Báo cáo thường niên, báo cáo quản trị và báo cáo phân tích ngành BĐS của các công ty chứng khoán trong giai đoạn 2011 – 2015.
  • Công cụ và kỹ thuật xử lý: Sử dụng phần mềm Google Docs, Microsoft Excel, SPSS và EViews. Các kỹ thuật định lượng áp dụng gồm: thống kê mô tả, kiểm định tính dừng (nghiệm đơn vị) của chuỗi số liệu gốc và chuỗi sai phân bậc 1, mô hình dự báo Holt-Winters, kiểm định phương sai sai số thay đổi, kiểm nghiệm mô hình ARIMA(2, 1, 1), và ước lượng mô hình hồi quy bằng phương pháp bình phương bé nhất (OLS).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận về hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các công ty cổ phần

Chương 1 tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về CTCP, bản chất và mục tiêu của PTTC đối với các nhóm đối tượng sử dụng thông tin. Luận án phân tích chi tiết cơ sở dữ liệu phục vụ PTTC và các nguyên tắc phân loại hệ thống chỉ tiêu tài chính.

Các nội dung và bảng biểu quan trọng trong chương gồm:

  • Thiết lập hệ thống chỉ tiêu phân tích rủi ro tài chính của CTCP (Bảng 1.1, trang 65).
  • Khảo cứu kinh nghiệm quốc tế về hệ thống chỉ tiêu PTTC bắt buộc phải công bố công khai trên thị trường chứng khoán của ba nước phát triển:
    • Hệ thống chỉ tiêu PTTC của CTCP niêm yết trên SGDCK Singapore (Bảng 1.2, trang 66).
    • Hệ thống chỉ tiêu PTTC của CTCP niêm yết trên SGDCK Anh quốc (Bảng 1.3, trang 67).
    • Hệ thống chỉ tiêu PTTC của CTCP niêm yết trên SGDCK Mỹ (Bảng 1.4, trang 69).
  • Rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam (trang 71): Cần phân định rõ các chỉ tiêu công bố thông tin bắt buộc theo hướng minh bạch, ngắn gọn, dễ hiểu cho nhà đầu tư đại chúng, đồng thời phát triển hệ thống chỉ tiêu phân tích chuyên sâu phục vụ quản trị doanh nghiệp phù hợp với đặc thù ngành.

Chương 2: Thực trạng hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các công ty kinh doanh bất động sản niêm yết trên các Sở giao dịch chứng khoán của Việt Nam

Chương 2 trình bày tổng quan về lịch sử hình thành và phát triển của ngành KDBĐS tại Việt Nam, phân chia các giai đoạn phát triển của thị trường và phân tích giai đoạn thị trường đạt đỉnh lần thứ 3 (Hình 2.1, Bảng 2.1, trang 76-77). Luận án phân tích các đặc điểm kinh doanh đặc thù của ngành KDBĐS (như chu kỳ đầu tư dài, phụ thuộc lớn vào vốn vay, quy mô tài sản dở dang và hàng tồn kho lớn) và đánh giá ảnh hưởng của các đặc điểm này đến các chỉ tiêu tài chính.

Luận án tổng hợp kết quả kinh doanh của các công ty KDBĐS niêm yết giai đoạn 2011 – 2015 (Hình 2.2, trang 82) và đánh giá thực trạng hệ thống chỉ tiêu theo hai nhóm:

  1. Thực trạng hệ thống chỉ tiêu công bố công khai (Bảng 2.2, trang 85; minh họa qua hệ thống chỉ tiêu của CTCP Địa ốc Đất Xanh năm 2015 tại Hình 2.3, trang 86): Các công ty chủ yếu công bố các chỉ tiêu cơ bản theo quy định bắt buộc của Bộ Tài chính và UBCKNN, thiếu các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tài sản, rủi ro đòn bẩy và khả năng tạo tiền thực tế.
  2. Thực trạng hệ thống chỉ tiêu phục vụ quản trị tài chính nội bộ thông qua phân tích số liệu thực tế tại các doanh nghiệp điển hình năm 2015:
    • Khái quát quy mô và cấu trúc tài chính tại Công ty KBC (Bảng 2.3, Bảng 2.4, trang 87-89).
    • Tình hình tài sản, cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn tại Công ty SCR (Bảng 2.5a, Bảng 2.5b, Bảng 2.6b, trang 90-92).
    • Các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán tại Công ty SCR và Công ty NDN (Bảng 2.8a, Bảng 2.8b, trang 94-95).
    • Các chỉ tiêu phân tích kết quả kinh doanh tại Công ty VC3 (Bảng 2.9, trang 96).
    • Các chỉ tiêu hiệu suất hoạt động và khả năng sinh lời tại Công ty SJS (Bảng 2.10, Bảng 2.11, trang 98-99).

Đánh giá thực trạng: Luận án chỉ ra các hạn chế chính gồm hệ thống chỉ tiêu chưa đầy đủ, thiếu tính đồng bộ, chưa chú trọng phân tích dòng tiền và rủi ro tài chính đặc thù ngành KDBĐS. Nguyên nhân của hạn chế xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ của nhà quản trị, sự thiếu hụt hướng dẫn chuyên ngành từ cơ quan quản lý, và dữ liệu khảo sát có tính chủ quan nhất định.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các công ty kinh doanh bất động sản niêm yết trên các Sở giao dịch chứng khoán của Việt Nam

Chương 3 phân tích bối cảnh kinh tế - xã hội, mục tiêu và định hướng phát triển của ngành KDBĐS gắn liền với Chiến lược phát triển nhà ở đến năm 2030 của Chính phủ (trang 111-113). Tác giả xác định các mục tiêu và nguyên tắc hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu (trang 116-117), sau đó đưa ra hai nhóm giải pháp cụ thể:

Nhóm giải pháp 1: Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu PTTC công bố công khai trên thị trường chứng khoán (minh họa qua chuỗi số liệu của Công ty KDBĐS X giai đoạn 2011-2015):

  • Quy mô tài chính và cơ cấu tài sản, nguồn vốn (Hình 3.1, Hình 3.2, Hình 3.3).
  • Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn và khả năng thanh toán nhanh (Hình 3.4, Hình 3.5).
  • Vòng quay hàng tồn kho và hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh (Hình 3.6, Hình 3.7).
  • Hệ số sinh lời hoạt động bán hàng, tỷ suất sinh lời hoạt động ROS, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ROA, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu ROE (Hình 3.8, Hình 3.9, Hình 3.10, Hình 3.11).
  • Thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS), tỷ lệ trả cổ tức, tỷ lệ tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận sau thuế so với mức bình quân ngành (Hình 3.12, Hình 3.13, Hình 3.14, Hình 3.15).

Nhóm giải pháp 2: Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu PTTC phục vụ quản trị tài chính nội bộ (Bảng 3.25, trang 175):

  • Thiết kế hệ thống chỉ tiêu phân tích toàn diện theo các mảng: quy mô, cấu trúc, tài sản, nguồn vốn (KBC, SCR - Bảng 3.1 đến 3.4); khả năng thanh toán (DLR - Bảng 3.6); kết quả kinh doanh (VC3 - Bảng 3.7); dòng tiền (RCL - Bảng 3.8); hiệu suất hoạt động (QCG - Bảng 3.9); khả năng sinh lời (VIC - Bảng 3.10); giá cổ phiếu và chính sách cổ tức (Khang Điền - Bảng 3.11); tình hình tăng trưởng (NDN - Bảng 3.12); rủi ro tài chính (SJS - Bảng 3.13); và so sánh ROE của NVN, D2D với toàn ngành giai đoạn 2011-2015 (Bảng 3.14).
  • Ứng dụng các mô hình kinh tế lượng trong phân tích và dự báo tài chính:
    • Dự báo theo mô hình Holt-Winters trên phần mềm EViews (Bảng 3.16, trang 162).
    • Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu gốc và chuỗi sai phân bậc 1 kết hợp lược đồ tương quan (Bảng 3.17, Bảng 3.18, Hình 3.16, trang 163-164).
    • Kiểm định phương sai sai số thay đổi và kiểm nghiệm mô hình ARIMA(2, 1, 1) (Bảng 3.20, Bảng 3.21, trang 165).
    • Lập bảng dự báo các chỉ tiêu tài sản và nguồn vốn năm 2016 cho CTCP Phát triển nhà Thủ Đức (Bảng 3.22, trang 166).
    • Xây dựng mô hình hồi quy đa biến và ước lượng hệ số bằng phương pháp OLS để lượng hóa các nhân tố tác động (Bảng 3.23 mô tả biến, Bảng 3.24 kết quả ước lượng, trang 170-172).

Các điều kiện thực hiện và kiến nghị: Đề xuất các giải pháp đối với doanh nghiệp KDBĐS và kiến nghị cụ thể đối với Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) và các SGDCK (trang 177-180).

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về phân tích tài chính và hệ thống chỉ tiêu PTTC trong công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán.
  • Xác định rõ sự khác biệt và mối quan hệ giữa hai nhóm chỉ tiêu: hệ thống chỉ tiêu công bố công khai ra thị trường (phục vụ nhà đầu tư, cơ quan quản lý) và hệ thống chỉ tiêu phục vụ quản trị nội bộ doanh nghiệp.
  • Làm sáng tỏ các đặc thù của ngành kinh doanh bất động sản chi phối trực tiếp đến phương pháp tính toán và ý nghĩa kinh tế của các chỉ tiêu tài chính.

Về mặt thực tiễn:

  • Phản ánh bức tranh toàn diện về thực trạng sử dụng chỉ tiêu PTTC tại 39 công ty KDBĐS niêm yết tiêu biểu trên HOSE và HNX giai đoạn 2011 – 2015 thông qua kết hợp dữ liệu sơ cấp và thứ cấp.
  • Xây dựng bảng tổng hợp hoàn chỉnh hệ thống chỉ tiêu PTTC phục vụ quản trị nội bộ cho các công ty KDBĐS niêm yết (Bảng 3.25), bao quát từ quy mô, cơ cấu, dòng tiền, hiệu suất, khả năng sinh lời đến rủi ro tài chính.
  • Chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu công bố công khai có so sánh trực quan với bình quân ngành.
  • Đưa vào ứng dụng quy trình dự báo tài chính hiện đại sử dụng phần mềm EViews với mô hình Holt-Winters, chuỗi thời gian ARIMA(2, 1, 1) và mô hình hồi quy OLS áp dụng thực tế cho dữ liệu doanh nghiệp niêm yết.

Về mặt kiến nghị và giải pháp:

  • Đề xuất các điều kiện thực thi giải pháp tại các doanh nghiệp KDBĐS.
  • Kiến nghị với Bộ Tài chính và UBCKNN về việc sửa đổi, bổ sung quy chế công bố thông tin trên thị trường chứng khoán đối với nhóm ngành có rủi ro đặc thù như KDBĐS.
  • Kiến nghị với các SGDCK về việc xây dựng hệ thống dữ liệu chỉ số tài chính trung bình ngành để doanh nghiệp và nhà đầu tư có cơ sở so sánh chuẩn xác.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế của luận án:

  • Dữ liệu sơ cấp thu thập qua phiếu khảo sát phụ thuộc vào mức độ nhận thức và tính chủ quan của người tham gia trả lời (nhà quản lý tài chính - kế toán và nhà đầu tư chứng khoán cá nhân), không thể kiểm định tuyệt đối tính khách quan của các câu trả lời này.
  • Mức độ quan tâm và hiểu biết về vai trò của PTTC phục vụ quản trị tài chính tại một số doanh nghiệp khảo sát còn hạn chế, gây khó khăn nhất định cho việc thu thập thông tin chuyên sâu.
  • Phạm vi nghiên cứu mới chỉ tập trung vào 58 công ty KDBĐS niêm yết trên hai sàn HOSE và HNX trong giai đoạn 2011 – 2015, chưa mở rộng ra toàn bộ các doanh nghiệp KDBĐS chưa niêm yết.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát đối với các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản quy mô vừa và nhỏ, các doanh nghiệp chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán.
  • Kéo dài chuỗi thời gian phân tích và cập nhật dữ liệu tài chính trong các giai đoạn biến động tiếp theo của thị trường bất động sản.
  • Nghiên cứu sâu hơn việc ứng dụng các mô hình kinh tế lượng phức hợp và công cụ định lượng nâng cao trong quản trị rủi ro phá sản và dự báo dòng tiền dự án bất động sản.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Đối với nhà quản trị các công ty KDBĐS: Cung cấp khung hệ thống chỉ tiêu quản trị tài chính nội bộ (Bảng 3.25) và quy trình ứng dụng các mô hình định lượng (Holt-Winters, ARIMA, hồi quy OLS) để dự báo tài sản, nguồn vốn và đánh giá rủi ro tài chính định kỳ.
  • Đối với nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán: Cung cấp phương pháp đánh giá sức khỏe tài chính doanh nghiệp KDBĐS thông qua hệ thống chỉ tiêu công bố công khai có so sánh với trung bình ngành, giúp nhận diện rủi ro hàng tồn kho và đòn bẩy nợ trước khi ra quyết định đầu tư.
  • Đối với cơ quan quản lý (Bộ Tài chính, UBCKNN, SGDCK): Cung cấp luận cứ thực tiễn để rà soát, bổ sung các quy định về chuẩn mực công bố thông tin tài chính đặc thù cho ngành bất động sản, nâng cao tính minh bạch của thị trường chứng khoán.
  • Đối với nghiên cứu sinh, giảng viên và sinh viên khối ngành kinh tế, tài chính, kế toán: Là tài liệu tham khảo có giá trị về phương pháp luận kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng, phương pháp xác định kích thước mẫu khảo sát và kỹ thuật xử lý dữ liệu chuỗi thời gian trên phần mềm EViews và SPSS.

Câu hỏi thường gặp

1. Kích thước mẫu nghiên cứu của luận án được xác định bằng công thức nào và kết quả chọn mẫu thực tế là bao nhiêu?
Trả lời: Khi khảo sát nhà đầu tư cá nhân với tổng thể chưa biết, tác giả dùng công thức $n = z^2 / (4e^2)$ với $z=1,65$, $e=10%$, cho ra mẫu tối thiểu 68 người. Khi khảo sát doanh nghiệp với tổng thể $N = 58$ công ty KDBĐS niêm yết, tác giả dùng công thức $n = N / (1 + N \cdot e^2)$, cho ra mẫu tối thiểu 37 công ty. Kết hợp với 4 tiêu chí chọn mẫu bổ sung, tác giả đã chọn ra mẫu nghiên cứu chính thức gồm 39 công ty KDBĐS niêm yết.

2. Luận án phân chia việc hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu PTTC theo những định hướng chính nào?
Trả lời: Luận án phân chia hoàn thiện theo hai định hướng độc lập: (1) Hệ thống chỉ tiêu PTTC công bố công khai theo quy định pháp luật nhằm phục vụ nhà đầu tư và công chúng trên TTCK; và (2) Hệ thống chỉ tiêu PTTC phục vụ công tác quản trị tài chính nội bộ nhằm nâng cao chất lượng điều hành và kiểm soát rủi ro của ban lãnh đạo doanh nghiệp.

3. Những công cụ và mô hình kinh tế lượng nào đã được tác giả ứng dụng để phân tích và dự báo tài chính trong Chương 3?
Trả lời: Tác giả sử dụng phần mềm EViews để thực hiện: mô hình dự báo Holt-Winters; kiểm định tính dừng của chuỗi số liệu gốc và chuỗi sai phân bậc 1 kết hợp lược đồ tương quan; kiểm định phương sai sai số thay đổi; kiểm nghiệm mô hình chuỗi thời gian ARIMA(2, 1, 1) áp dụng dự báo cho CTCP Phát triển nhà Thủ Đức năm 2016; và ước lượng mô hình hồi quy đa biến bằng phương pháp bình phương bé nhất (OLS).

4. Bốn tiêu chí cụ thể được tác giả sử dụng để lọc chọn 39 công ty KDBĐS niêm yết vào mẫu nghiên cứu là gì?
Trả lời: Bốn tiêu chí gồm: (1) Công ty phải được niêm yết trước ngày 01/01/2012; (2) Có dự án KDBĐS tại các tỉnh/thành phố lớn (Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Bình Dương, Khánh Hòa, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh...); (3) Mảng doanh thu từ KDBĐS tương đối ổn định; (4) Tỷ lệ các công ty có vốn kinh doanh dưới 500 tỷ đồng chiếm không quá 20% tổng số công ty trong mẫu.

5. Kinh nghiệm quốc tế về hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính được khảo cứu từ những thị trường nào?
Trả lời: Luận án khảo cứu kinh nghiệm áp dụng hệ thống chỉ tiêu PTTC công bố công khai của các công ty niêm yết trên SGDCK của ba quốc gia phát triển: Singapore (Bảng 1.2), Vương quốc Anh (Bảng 1.3) và Mỹ (Bảng 1.4).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Đàm Thanh Tú đã giải quyết vấn đề hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính cho các công ty kinh doanh bất động sản niêm yết trên các SGDCK của Việt Nam giai đoạn 2011 – 2015. Bằng việc kết hợp phương pháp định tính và phương pháp định lượng với quy trình chọn mẫu khoa học gồm 39 doanh nghiệp tiêu biểu, tác giả đã đánh giá thực trạng và chỉ rõ các hạn chế của hệ thống chỉ tiêu hiện hành. Luận án đóng góp hệ thống giải pháp phân tách theo hai trục rõ ràng: hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu công bố công khai minh bạch ra thị trường và thiết lập hệ thống chỉ tiêu chuyên sâu phục vụ quản trị nội bộ, đồng thời tích hợp thành công các mô hình kinh tế lượng trong dự báo tài chính doanh nghiệp.