Chương 1: Tổng quan về hệ thống chiếu sáng cho công trình trường học. Chương 2: Các phương pháp thiết kế hệ thống chiếu sáng trong công trình trường học. Chương 3: Xây dựng các chỉ dẫn thiết kế hệ thống chiếu sáng tích hợp giữa hệ thống chiếu sáng tự nhiên và chiếu sáng nhân tạo cho công trình trường học. Chương 4: Ví dụ tính toán.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 3 1. CHƢƠNG : T NG QUAN VỀ HỆ THỐNG CHIẾU SÁNG CÔNG TRÌNH TRƢỜNG HỌC 1.1 Khái niệm chung về hệ thống chiếu sáng cho công trình trƣờng học: 1.1 Khái niệm chung về hệ thống chiếu sáng: 1.1 Định nghĩa chiếu sáng: - Kỹ thuật chiếu sáng là khoa học nghiên cứu sự sinh ra, phân bố và lan truyền trong không gian các bức xạ điện từ trong dải quang của phổ. - Dải quang của phổ: dải quang phổ điện từ trường với độ dài của bước sóng từ 0,001µm đến 1mm. - Bức xạ chia làm 3 vùng: Bức xạ tử ngoại: 0,001µm-0,38µm Bức xạ nhìn thấy: 0,38µm-0,78µm Bức xạ hồng ngoại: 0,78µm-1mm - Chiếu sáng bao gồm chiếu sáng tự nhiên và chiếu sáng nhân tạo.2 Vai trò của chiếu sáng: - Ý nghĩa sinh học của ánh sáng đối với cơ thể con người, nhất là cơ thể trẻ em còn đang trong giai đoạn phát triển rất lớn, có tác dụng tăng cường quá trình trao đổi chất và thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát triển.
Tia cực tím có khả năng chuyển hoá vitamin D nằm ở dưới da về trạng thái hoạt động, đảm bảo cho quá trình kiến tạo và hoàn chỉnh xương. - nh sáng không đủ ảnh hưởng xấu tới các quá trình sinh học và sinh lý học trong cơ thể, dẫn tới giảm cường độ trao đổi chất. Các chức năng thị giác liên quan tỷ lệ thuận với cường độ chiếu sáng như: thị lực (khả năng phân biệt các vật của mắt), thời gian nhận biết (thời gian nhỏ nhất để nhận biết vật), sự ổn định thị giác (thời gian nhìn rõ vật) cảm nhận độ tương phản (khả năng phân biệt sự khác nhau giữa các độ chói xen lẫn nhau). Theo kết quả nghiên cứu, khi làm việc bằng mắt trong thời gian 3 giờ với độ chiếu sáng là 30-50 lux thì sự ổn định thị giác giảm 37%, với cường độ ánh sáng từ 200 đến 300 lux chỉ giảm 10 – 15 %.
- Khi tiến hành các công việc trí tuệ và chân tay liên quan đến thị giác trong điều kiện chiếu sáng yếu (30 lux), thị lực học sinh bắt đầu giảm sau giờ học thứ nhất và đến giờ học thứ 5 giảm khoảng 22% so với đầu buổi học. Nếu công việc diễn ra trong điều kiện chiếu sáng là 100 lux thì thị lực từ tiết học đầu đến tiết học thứ 3 của học sinh tăng lên, sau đó giảm dần đến cuối buổi học ở dưới mức khi mới bắt đầu buổi học. - Mức độ chiếu sáng ảnh hưởng thực sự tới chất lượng công việc của học sinh. Khi chiếu sáng bề mặt làm việc của học sinh là 400 lux thì số lượng bài tập không mắc lỗi chiếm 74%, nếu chiếu sáng chỉ còn 100-50 lux thì số bài tập không mắc lỗi tương đương là 47 và 37%.
- Các chức năng thị giác ở học sinh trở nên tốt hơn sau khi làm việc trong điều kiện chiếu sáng từ 250 lux trở lên. 4 - Độ rọi càng tốt thì khả năng làm việc bằng mắt càng cao và giảm mệt mỏi thị giác. Cải thiện điều kiện chiếu sáng sẽ làm tăng hiệu suất lao động cả về số lượng lẫn chất lượng. Theo các nhà khoa học Mỹ, khoảng 20% các tai nạn rủi ro trong sản xuất và tai nạn giao thông là do chiếu sáng kém.
- Mức chiếu sáng tự nhiên tối đa là 2000 lux. Mức độ chiếu sáng tự nhiên cao hơn sẽ ảnh hưởng không tốt tới chức năng thị giác và khả năng làm việc của con người. - Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy có một bộ phận không nhỏ (20-30%) học sinh khi chuẩn bị tốt nghiệp bị giảm thị lực và sự giảm thị lực này chủ yếu liên quan đến tật cận thị. Cùng với tuổi, không chỉ tỷ lệ cận thị ở trẻ em tăng lên mà mức độ cận thị cũng tăng khá nhanh.2 Chiếu sáng tự nhiên: - Chiếu sáng tự nhiên là chiếu sáng dựa vào sự thực hành của việc đặt cửa sổ, hệ thống che chắn, hướng hứng ánh sáng hay màu sắc vật liệu trong phòng để ánh sáng tự nhiên trong ngày cung cấp ánh sáng nội bộ hiệu quả.
Đặc biệt chú trọng đến chiếu sáng tự nhiên khi mục đích là để tối đa hóa sự thoải mái trực quan hoặc giảm sử dụng năng lượng. - Tổ chức chiếu sáng trong lớp học cần được thiết kế hợp lý có tính đến sự phân hoá chức năng bình thường của cơ quan phân tích thị giác và đặc điểm tiếp nhận ánh sáng về mặt tâm sinh lý. Chiếu sáng trong phòng học cần phải đủ, ổn định và đảm bảo tính đồng đều, nhằm phòng ngừa sự tái thích nghi liên tục dẫn tới mệt mỏi thị giác. - Do điều kiện địa lý, nước ta có tiềm năng về ánh sáng tự nhiên rất lớn, 81,5% thời gian trong năm (ứng với 4.077 giờ ban ngày), độ rọi bên ngoài nhà thay đổi từ 3.
Do vậy, việc tổ chức chiếu sáng phòng học hợp lý sẽ đảm bảo cho các lớp học được chiếu sáng đầy đủ, có chất lượng và tiết kiệm được nguồn điện năng sử dụng chiếu sáng, tiết kiệm kinh phí cho các trường học. - Để đánh giá hiệu quả chiếu sáng tự nhiên thường thông qua chỉ tiêu kiểm tra trực tiếp độ rọi tự nhiên (lux) tại các điểm khác nhau trên bể mặt làm việc của phòng (thường là một mặt phẳng quy ước nằm ngang cách mặt sàn 0,85m). Tuy nhiên, khác với trường hợp sử dụng ánh sáng nhân tạo, khi độ rọi ngoài nhà thay đổi thì độ rọi tự nhiên trong nhà cũng thay đổi theo, khó có thể đặc trưng bằng một trị số. Để khắc phục người ta đề xuất cách đánh giá thứ 2 là dùng tỷ số giữa độ rọi trong nhà và độ rọi nằm ngang ngoài nhà ở cùng một thời điểm, biểu diễn bằng phần trăm (%) gọi là hệ số độ rọi tự nhiên, ký hiêu là e: - e (%) = Độ rọi trong nhà/ Độ rọi ngoài nhà - Độ rọi chiếu sáng tự nhiên phụ thuộc vào hàng loạt các yếu tố: Vị trí địa lý, thời gian trong năm và trong ngày, thời tiết và hướng lấy ánh sáng của toà nhà, của phòng học, bóng của các toà nhà và cây to cạnh nhà.
Cửa sổ cũng đóng một vai trò rất quan trọng: thiết kế cửa sổ, hình dáng cửa sổ, hướng lấy ánh sáng, đặc điểm và độ sạch của kính, khung cửa sổ, màu của trần nhà và màu tường, thiết kế kích thước phòng học. 5 - Chiếu sáng tự nhiên tốt nhất đạt được là nhờ cách bố trí ngôi nhà, bãi trống và giữ đúng khoảng cách giữa ngôi trường và các tòa nhà đối diện. Các toà nhà của trường học nên quy hoạch xây dựng cách xa các nhà đối diện để không bị che ánh sáng và cản trở ánh sáng mặt trời chiếu vào phòng học. Khoảng cách từ ngôi trường đến các tòa nhà xung quanh được phản ánh bằng hệ số che chắn.
Đó là tỷ số giữa chiều cao của tòa nhà đối diện chia cho khoảng cách từ nhà đó đến ngôi trường. Hệ số che chắn được khuyến cáo là không không nhỏ hơn 1/2, tốt nhất là 1/5. Cây cối cũng nên trồng cách xa cửa sổ trên 10 mét để chúng không che cửa sổ, mùa xuân nên chặt bỏ các cành to. - Hướng của các cửa sổ lấy ánh sáng chính có ý nghĩa quyết định đến chất lượng chiếu sáng tự nhiên trong phòng học.
Hướng Nam là hướng có ánh sáng tốt nhất. Nếu lấy quang thông vào phòng học hướng Nam là 100%, thì tại các lớp học hướng Đông chỉ được 71,4 - 96%, hướng Tây 71. Quan sát trực xạ suốt ngày đêm cho thấy ưu điểm của hướng Nam là trong mọi mùa trong năm độ rọi đều có trị số cao, cho nên ít phải sử dụng chiếu sáng nhân tạo, về mùa đông phòng học ấm áp hơn do mặt trời nung nóng tường ngoài. Nhược điểm của phòng học hướng Nam là về mùa hè ánh sáng chói chang, nhưng có thể khắc phục được dễ dàng bằng các ô văng cửa sổ.
- Tại các lớp học có cửa số lấy ánh sáng chính về hướng Tây thì vào ca học buổi chiều, mặt trời gây khó khăn cho việc học tập ở tất cả các bàn học sinh, trên bảng có vết nắng chói chiếu vào. Tác động chói lóa của tia sáng mặt trời đưa đến giảm thị lực và độ nhạy cảm tương phản. Khi kiểm tra khả năng làm việc của học sinh ở các lớp học hướng Tây và hướng Nam, người ta thấy số lỗi của bài vở học sinh trong các lớp hướng Tây nhiều hơn trong các lớp hướng Nam. - Do vậy, cửa sổ phòng học nên mở ra hướng Nam, Đông Nam và hướng Đông là tối ưu nhất.
Khi đó phòng học sẽ được mặt trời chiếu sáng đây đủ mà không khí trong phòng không bị nóng lên. - Mức độ rọi của chiếu sáng tự nhiên, ngoài hướng phòng học còn phụ thuộc vào hình dáng chung của phòng học, số lượng, kích thước và cách bố trí cửa sổ, khoảng cách giữa các cửa sổ. - Phòng học cần được xây dựng theo tiêu chuẩn về kích thước. Chiều ngang của phòng học không nên vượt quá 6,5 m vì nếu rộng hơn sẽ làm cho các vị trí ở sát tường đối diện với cửa sổ lấy ánh sáng có cường độ chiếu sáng thấp, có thể thấp hơn từ 4-5 lần so với các bàn kê sát cửa sổ.
Các cửa sổ nên bố trí dọc theo chiều dài của phòng học. Tổng diện tích của các cửa sổ (chỉ tính phần kính) không nhỏ hơn 1/5 diện tích phòng học (người ta gọi chỉ số này là hệ số chiếu sáng). Bên cạnh đó, chiều cao của cạnh trên cửa sổ hợp lý tạo điều kiện cho ánh sáng tán xạ vào sâu, làm tăng chất lượng chiếu sáng tự nhiên trong phòng học. Chiều cao cạnh trên cửa sổ không được nhỏ hơn 1/2 chiều ngang của phòng học (người ta gọi đây là hệ số chiều sâu).
Bên cạnh đó, liên quan đến chiều cao của cạnh trên và kích thước cửa sổ, người ta còn quy định góc rơi của các tia sáng không được nhỏ hơn 270, góc khoảng sáng không được nhỏ hơn 50. 6 - Chiều cao của bệ cửa sổ cần phải đảm bảo cho học sinh có thể đưa mắt nhìn xa ra phía ngoài nhằm giảm căng thẳng cho bộ máy điều tiết của mắt.