Luận văn thạc sĩ nghiên cứu cơ sở khoa học xác định hệ số tiêu thiết kế cho khu vực thành phố hà nội nằm trong lưu vực từ phía đông sông nhuệ và phía bắc quốc lộ 70a đến sông hồng

Luận văn thạc sĩ phân tích nghiên cứu cơ sở khoa học xác định hệ số tiêu thiết kế cho khu vực thành phố hà nội nằm trong lưu, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Trường đại học

Trường Đại học Thủy lợi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

64
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan khu vực nghiên cứu

Khu vực nghiên cứu nằm trong phạm vi từ phía đông sông Nhuệ và phía bắc Quốc lộ 70A đến sông Hồng, thuộc địa phận Hà Nội. Đây là khu vực có ý nghĩa quan trọng về mặt địa lý, kinh tế và xã hội. Lưu vực phía đông sông Nhuệphía bắc QL70A được đặc trưng bởi địa hình đồng bằng thấp, chịu ảnh hưởng mạnh của quá trình đô thị hóa. Sông Hồng đóng vai trò quan trọng trong hệ thống thoát nước của khu vực. Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định hệ số tiêu thiết kế phù hợp với điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của khu vực.

1.1. Điều kiện tự nhiên

Khu vực nghiên cứu có địa hình thấp, độ cao trung bình từ 5-8m so với mực nước biển. Lưu vực sông Nhuệsông Hồng chịu ảnh hưởng của khí hậu cận nhiệt đới ẩm, với lượng mưa trung bình năm khoảng 1.700mm. Đặc điểm địa chất chủ yếu là trầm tích phù sa, tạo nên nền đất yếu, cần được xử lý kỹ thuật trong xây dựng. Thiết kế khu vực cần tính đến các yếu tố này để đảm bảo hiệu quả thoát nước.

1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội

Khu vực nghiên cứu bao gồm các quận trung tâm của Hà Nội như Đống Đa, Thanh Xuân và Cầu Giấy. Mật độ dân số cao cùng với tốc độ đô thị hóa nhanh đã gây áp lực lớn lên hệ thống thoát nước. Quy hoạch khu vực cần đảm bảo cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Các vấn đề an sinh xã hội và sử dụng đất cũng được đề cập trong nghiên cứu.

II. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số tiêu

Nghiên cứu tập trung vào việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số tiêu thiết kế trong khu vực. Các yếu tố bao gồm biến động về cơ cấu sử dụng đất, đặc điểm khí hậu và thủy văn. Thiết kế lưu vực cần tính đến sự thay đổi của các yếu tố này để đảm bảo hiệu quả thoát nước. Nghiên cứu cũng đề xuất các giải pháp tiêu nước phù hợp với điều kiện thực tế của khu vực.

2.1. Biến động hệ số tiêu

Hệ số tiêu thiết kế đã có sự biến động lớn trong thời gian ngắn, từ 11,6 l/s/ha lên 19,7 l/s/ha. Sự thay đổi này chủ yếu do quá trình đô thị hóa nhanh và thay đổi cơ cấu sử dụng đất. Nghiên cứu thiết kế cần xác định lại hệ số tiêu phù hợp để đảm bảo hiệu quả đầu tư và vận hành hệ thống thoát nước.

2.2. Giải pháp tiêu nước

Nghiên cứu đề xuất các giải pháp tiêu nước dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn. Các giải pháp bao gồm cải tạo hệ thống sông ngòi, xây dựng hồ điều hòa và nâng cấp trạm bơm. Thiết kế đô thị cần kết hợp các giải pháp này để giảm thiểu ngập úng và bảo vệ môi trường.

III. Tính toán hệ số tiêu thiết kế

Nghiên cứu sử dụng phương pháp tính toán hệ số tiêu thiết kế dựa trên các dự án trước đây như Dự án thoát nước Hà Nội và Dự án quy hoạch thủy lợi sông Nhuệ. Kết quả tính toán cho thấy hệ số tiêu phù hợp cho lưu vực sông Tô Lịchlưu vực sông Nhuệ lần lượt là 17,9 l/s/ha và 19,7 l/s/ha. Nghiên cứu cũng kiến nghị áp dụng các hệ số này trong thiết kế các công trình thoát nước tại Hà Nội.

3.1. Phương pháp tính toán

Phương pháp tính toán hệ số tiêu dựa trên tỷ lệ diện tích các đối tượng tiêu nước và đặc điểm thủy văn của khu vực. Thiết kế khu vực cần kết hợp các yếu tố này để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả của hệ số tiêu.

3.2. Kết quả tính toán

Kết quả tính toán cho thấy hệ số tiêu thiết kế cho lưu vực sông Tô Lịch là 17,9 l/s/ha và lưu vực sông Nhuệ là 19,7 l/s/ha. Các kết quả này phù hợp với điều kiện thực tế của khu vực và có thể áp dụng trong các dự án thoát nước tại Hà Nội.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu cơ sở khoa học xác định hệ số tiêu thiết kế cho khu vực thành phố hà nội nằm trong lưu vực từ phía đông sông nhuệ và phía bắc quốc lộ 70a đến sông hồng

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Khu vực nghiên cứu nằm trong phạm vi từ phía đông của đê sông Nhuệ và phía bắc Quốc lộ 70A đến sông Hồng, thuộc địa phận Thành phố Hà Nội, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của cả nước: - Phía bắc và phía đông giáp đê sông Hồng; - Phía tây giáp đê sông Nhuệ; - Phía nam giáp Quốc lộ 70A. Khu vực nghiên cứu thuộc đơn vị hành chính của các quận, huyện sau: - Toàn bộ phần diện tích của các quận: Đống Đa, Thanh Xuân và Cầu Giấy; - Toàn bộ phần diện tích nằm trong đê sông Hồng của các quận: Hoàn Kiếm, Ba Đình, Tây Hồ, Hoàng Mai và Hai Bà Trưng; - Một phần của các quận, huyện: Hà Đông, Thanh Trì, Từ Liêm (nay là quận Bắc Từ Liêm và quận Nam Từ Liêm).

Đặc điểm địa hình Nhờ phù sa châu thổ sông Hồng bồi đắp, nên diện tích tự nhiên của khu vực nghiên cứu là đồng bằng với độ cao trung bình khoảng từ 5m đến 8m so với mực nước biển. Địa hình khu vực nghiên cứu thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam. Tuy nhiên, khu vực nghiên cứu là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của cả nước, nơi có mật độ công trình xây dựng lớn, có tấc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa rất nhanh, vì vậy địa hình khu vực nghiên cứu bị chia cắt mạnh. Đặc điểm cấu tạo địa chất Nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng được thành tạo do quá trình bồi tụ và lắng đọng trầm tích trong điều kiện biển nông cùng với các dòng chảy của sông ra biển.

Do quá trình chuyển động kiến tạo đã trải qua với các kỷ Permier, Trias, Đệ 8 Tam, Đệ Tứ cùng với tác động mạnh của các điều kiện tự nhiên (nhiệt độ, nóng, ẩm, mưa v.) làm cho đất đá bị phong hoá mạnh tạo nên nền địa chất nham thạch, đất đai không đồng nhất. Với các lớp bồi tích, trầm tích, phù sa khá dầy thể hiện một bồn địa mới được hình thành. Trải qua thời kỳ biển lấn lần 1, lần 2 và thời kỳ phát triển kế thừa, biển lùi, miền trũng võng chuyển sang một thời kỳ bình ổn và lấp đầy tạo ra một vùng đồng bằng rộng lớn và ngập nước. Nhìn chung cấu trúc địa chất vùng nghiên cứu có dạng sau: Trầm tích Pleixtoxen: nằm dưới đáy địa tầng là cát thạch anh hạt nhỏ đến hạt trung thuộc bồi tích cổ alQIII, có bề dầy từ 20 đến 30 m hoặc lớn hơn, nằm khá sâu dưới mặt đất từ 20 đến trên 30 m.

Trầm tích tholoxen: nằm trên tầng trầm tích Pleixtoxen, dạng phổ biến là bùn sét kiểu đầm lầy ven biển (bmQIV). Trên tầng bùn sét là trầm tích sét biển (mQIV), trên nữa là tầng á sét có chứa vỏ sò, chất hữu cơ thực vật. Trên cùng là tầng bồi tích sông (alQIV). Đánh giá một cách tổng quát thì nền địa chất của hầu hết các khu vực trong vùng nghiên cứu đều rất yếu, khi khảo sát thiết kế và thi công các công trình xây dựng cần có biện pháp xử lý chống lún, chống cát đùn và cát chảy.

Đặc điểm thổ nhưỡng Lớp phủ thổ những vốn liên quan đến đặc tính phù sa, đến quá trình phong hóa, đến chế độ bồi tích và hoạt động sản xuất nông nghiệp. Dưới tác động của các yếu tố trên khu vực nghiên cứu có hai loại đất chính đó là đất phù sa trong đê (đất phù sa cổ) và đất bạc màu. Phần lớn đất đai của khu vực nghiên cứu được hình thành do phù sa sông Hồng bồi đắp. Đây là loại đất tốt cho trồng trọt, có độ pH từ 6 đến 7, có hàm lượng mùn và chất dinh dưỡng phong phú, thành phần cơ giới thích hợp với nhiều loại cây trồng.

Ngoài ra, ở một số khu vực, do tập quán sản xuất, canh tác không khoa học (lạm dụng phân bón hóa học, sử dụng nước thài ô nhiễm từ các con sông để tưới, đất bị phong hóa, rửa trôi do bỏ hoang của các khu đô thi quy hoạch treo) dẫn đến một bộ phận đất phù sa cổ đã thoái hóa, bạc màu, nghèo dinh dưỡng, không kết cấu, thành phần cơ giới nhẹ, cho năng suất cây trồng thấp. Đặc điểm khí tượng, khí hậu Theo Trung tâm Dự báo khí tượng thuỷ văn Trung ương, khí hậu khu vực nghiên cứu tiêu biểu cho khí hậu vùng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậu cận nhiệt đới ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa về đầu mùa và có mưa phùn về nửa cuối mùa. Nhiệt độ Nhiệt độ trong khu vực nghiên cứu tương đối cao. Nhiệt độ trung bình năm trên 24 oC.

Tổng nhiệt độ toàn năm trên 8. Hàng năm có 3 tháng (từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau) nhiệt độ trung bình tháng dưới 20oC. Tháng 1 là tháng lạnh nhất có nhiệt độ trung bình trên 16oC. Nhiệt độ tối thấp nhất tại Hà Nội đo được trong tháng 01/1995 là 2.

Trong khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 9 nhiệt độ trung bình khoảng 27 oC đến 30oC. Nhiệt độ cao nhất lên tới 42.8oC xuất hiện vào tháng 5/1926. Nhiệt độ không khí trung bình (Trạm Láng) Đơn vị tính: Độ C Năm Trung 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 bình Tháng (10 năm) 1 16.4 Nguồn: NGTK Hà Nội 2006, 2009, 2012 10 b. Độ ẩm không khí Độ ẩm không khí tương đối trung bình năm trên toàn vùng nghiên cứu dao động trong khoảng từ 74 đến 82%.

Sự biến đổi về độ ẩm giữa các tháng không nhiều. Mùa xuân là thời kỳ ẩm ướt nhất, độ ẩm trung bình tháng đạt khoảng 82% hoặc cao hơn. Các tháng cuối mùa thu và đầu mùa đông là thời kỳ khô hanh nhất, độ ẩm trung bình tháng có thể xuống dưới 70%. Độ ẩm ngày cao nhất có thể đạt trên 90% và thậm chí đạt gần 100%.

Độ ẩm trung bình các tháng trong năm (Trạm Láng) Đơn vị tính: % Năm Trung 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 bình Tháng (10 năm) 1 76 79 79 74 69 80 72 81 71 83 76 2 82 84 85 86 81 72 84 80 83 83 82 3 77 81 83 84 88 82 82 78 81 83 82 4 81 85 83 80 79 84 82 85 80 80 82 5 78 82 78 78 75 79 81 81 76 79 79 6 75 75 77 75 77 79 81 74 80 75 77 7 80 79 79 78 78 79 79 74 78 79 78 8 82 83 83 83 81 83 78 82 81 79 82 9 81 81 78 72 81 80 76 79 81 77 79 10 72 67 76 76 77 80 75 70 79 76 75 11 71 75 79 76 67 76 66 71 77 79 74 12 71 73 69 75 77 75 74 77 68 79 74 Độ ẩm trung 77 79 79 78 77 79 77 78 78 79 78 bình năm Nguồn: NGTK Hà Nội 2006, 2009, 2012 c. Mưa Khu vực nghiên cứu có lượng mưa tương đối lớn, tổng lượng mưa trung bình năm khoảng 1.700 mm với số ngày mưa khoảng 130 ÷ 140 ngày mỗi năm. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, tổng lượng mưa trong các tháng mùa mưa chiếm khoảng 75 đến 80% tổng lượng mưa năm. Lượng mưa các tháng trong năm (Trạm Láng) Đơn vị tính: mm Trung Năm 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 bình Tháng (10 năm) 1 41.3 mưa năm Nguồn: NGTK Hà Nội 2006, 2009, 2012 Lượng mưa năm lớn nhất tại Hà Nội đo được 2.

Lượng mưa lớn nhất năm ứng với các thời đoạn thường rơi vào các tháng 7, 8. Lượng mưa trung bình 1 ngày lớn nhất toàn khu vực nghiên cứu đạt từ 120 mm đến 160 mm, 3 ngày lớn nhất đạt từ 180 mm đến 230 mm, 5 ngày lớn nhất đạt từ 210 mm đến 260 mm và 7 ngày lớn nhất đạt từ 230 mm đến 280 mm. Các trận mưa thời đoạn ngắn thường nằm trong các trận mưa thời đoạn dài hơn. Bốc hơi Theo số liệu thống kê lượng bốc hơi bình quân năm ở toàn vùng đạt khoảng gần 1.

Các tháng 5, 6, 7 có lượng bốc hơi lớn nhất trong năm. Lượng bốc hơi bình quân tháng 7 đạt trên 100 mm. Các tháng mùa xuân (từ tháng 2 đến tháng 4) có lượng bốc hơi nhỏ nhất là những tháng có nhiều mưa phùn và độ ẩm tương đối cao. Lượng bốc hơi trung bình tháng Đơn vị tính: mm Tháng Trạm Năm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Hà Nội 71,4 59,7 56,9 65,2 98,6 97,8 100,6 84,1 84,4 95,6 89,8 85,0 989,1 Nguồn: Trung tâm Khoa học và triển khai kỹ thuật thủy lợi e.

Gió, dông, bão Hướng gió thịnh hành trong mùa hè là gió nam và đông nam còn mùa đông thường có gió bắc và đông bắc. Tốc độ gió trung bình khoảng 2-3 m/s. Hàng năm có trên 80 ngày dông. Tháng 7 và tháng 9 là những tháng có nhiều bão nhất.

Các cơn bão đổ bộ vào vùng này thường gây ra mưa lớn trong vài ba ngày, ảnh hưởng lớn cho sản xuất và đời sống của nhân dân. Tốc độ gió lớn nhất trong cơn bão có thể đạt 40 m/s. Nắng Số giờ nắng hàng năm vào khoảng trên 1. Các tháng mùa hè từ tháng 5 đến tháng 8 có nhiều nắng nhất, có tháng số giờ nắng đạt trên 200 giờ.

Tháng 1, 2, 3 là những tháng u ám, rất ít nắng, số giờ nắng trung bình chỉ đạt trên dưới 50 giờ, có tháng chỉ đạt 3 đến 4 giờ nắng. Số giờ nắng các tháng trong năm (Trạm Láng) Đơn vị tính: Giờ Năm Trung 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 bình Tháng (10 năm) 1 112.2 Tổng số giờ 1632.4 nắng cả năm Nguồn: NGTK Hà Nội 2006, 2009, 2012 g. Sương mù Trung bình mỗi năm có khoảng từ 10 ngày đến 20 ngày có sương mù. Hiện tượng này xảy ra chủ yếu vào các tháng đầu mùa đông, nhiều nhất là vào tháng 11 và tháng 12.

Các hiện tượng thời tiết bất thường Trong một vài năm gần đây khí hậu vùng nghiên cứu cũng ghi nhận những biến đổi bất thường. Cụ thể: - Trận mưa gây ngập úng lịch sử xảy ra gần như trên toàn vùng đồng bằng Bắc bộ với tâm mưa là khu vực Hà Nội vào cuối tháng 10 đầu tháng 11/2008. Tổng lượng mưa đo được trong 3 ngày từ 31/10 đến 02/11 tại Trạm Láng là 563,3 mm, Hà Đông là 812,0 mm, Thanh Trì là 500,0 mm đã làm cho giao thông nội thành Hà Nội và nhiều địa phương khác bị tê liệt vì ngập chìm trong nước nhiều ngày liền.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Nghiên cứu hệ số tiêu thiết kế cho khu vực Hà Nội: Lưu vực phía đông sông Nhuệ và phía bắc QL70A đến sông Hồng" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các hệ số tiêu thiết kế trong quy hoạch và quản lý tài nguyên nước tại khu vực Hà Nội. Nghiên cứu này không chỉ giúp xác định các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thiết kế hạ tầng mà còn đưa ra các khuyến nghị cụ thể nhằm cải thiện hiệu quả sử dụng tài nguyên nước trong khu vực. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức áp dụng các hệ số này trong thực tiễn, từ đó nâng cao khả năng quản lý và bảo vệ môi trường.

Để mở rộng thêm kiến thức về quy hoạch tài nguyên nước, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng quy hoạch tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông. Tài liệu này sẽ cung cấp thêm thông tin về các phương pháp và cơ sở lý thuyết trong quy hoạch tài nguyên nước, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực này.