Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Nghiên cứu đối chiếu hành vi từ chối lời đề nghị và lời mời của người Mỹ và người Việt" do nghiên cứu sinh Vương Thị Hải Yến thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Vũ Thị Thanh Hương, chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu (mã số: 62220241) tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2019.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả trình bày rằng hành vi từ chối là một hành vi ngôn ngữ phổ quát trong mọi ngôn ngữ, chịu sự chi phối của các nhân tố ngôn ngữ và xã hội. Tuy nhiên, phương tiện biểu đạt và chiến lược thực hiện hành vi từ chối ở mỗi ngôn ngữ và nền văn hóa có sự khác biệt do đặc thù ngôn ngữ cùng thói quen tư duy, ứng xử của từng dân tộc. Sự khác biệt này là nguyên nhân chính dẫn đến hiểu lầm và xung đột trong giao tiếp liên văn hóa. Từ chối là một hành vi đe dọa thể diện của cả người nói lẫn người nghe, đòi hỏi người thực hiện phải cân nhắc các nhân tố xã hội như tuổi tác, địa vị và mức độ tế nhị để đạt được hiệu lực tại lời mà vẫn duy trì mối quan hệ giao tiếp. Trong các công trình nghiên cứu trước đây tại Việt Nam và trên thế giới, các tác giả chủ yếu tập trung vào hành vi từ chối lời thỉnh cầu, lời cầu khiến, lời gợi ý giữa tiếng Anh và một số ngôn ngữ như tiếng Nhật, tiếng Ả Rập, tiếng Đức, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Trung Quốc hoặc giữa tiếng Việt với tiếng Anh, tiếng Nhật. Cho đến thời điểm tác giả thực hiện nghiên cứu, chưa có công trình nào đối chiếu có hệ thống hành vi từ chối lời đề nghị được làm gì đó cho ai (refusing an offer) và hành vi từ chối lời mời (refusing an invitation) giữa tiếng Anh Mỹ và tiếng Việt.
Mục đích nghiên cứu của luận án là thông qua việc nghiên cứu đối chiếu hành vi từ chối lời đề nghị được làm gì đó cho ai và lời mời của người Mỹ nói tiếng Anh và người Việt nói tiếng Việt nhằm tìm hiểu sự tương đồng và khác biệt trong việc sử dụng các phương tiện biểu đạt và chiến lược từ chối trong hai ngôn ngữ.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu hành vi từ chối trong và ngoài nước; hệ thống hóa một số cơ sở lý luận làm nền tảng triển khai nội dung luận án.
- Thống kê, miêu tả, phân tích đối chiếu các phương tiện biểu đạt các chiến lược thực hiện hành vi từ chối lời đề nghị (refusing an offer) của người Mỹ nói tiếng Anh và người Việt nói tiếng Việt, chỉ ra các đặc điểm giống nhau và khác nhau giữa hai ngôn ngữ.
- Thống kê, miêu tả, phân tích đối chiếu các phương tiện biểu đạt các chiến lược thực hiện hành vi từ chối lời mời (refusing an invitation) của người Mỹ nói tiếng Anh và người Việt nói tiếng Việt, chỉ ra các đặc điểm giống nhau và khác nhau giữa hai ngôn ngữ.
- Tìm hiểu sự tác động của nhân tố quyền lực và nhân tố giới tính tới sự lựa chọn sử dụng chiến lược từ chối lời mời của người Mỹ nói tiếng Anh và người Việt nói tiếng Việt.
Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là các phương tiện biểu đạt chiến lược từ chối lời đề nghị được làm gì đó cho ai (offer) và từ chối lời mời (invitation) của người Mỹ nói tiếng Anh và người Việt nói tiếng Việt.
Phạm vi nghiên cứu của luận án giới hạn ở các phát ngôn thuộc lượt lời thứ hai của đoạn thoại đề nghị được làm gì đó cho ai và mời. Luận án không khảo sát các phát ngôn từ chối là lời đáp của các hành vi hỏi, khen, chê, đánh giá, thỉnh cầu (request), cũng như loại trừ các phương tiện biểu thị từ chối phi ngôn từ như xua tay, lắc đầu, lườm, nheo mày hoặc giữ im lặng. Về mặt thời gian thu thập dữ liệu khảo sát hoàn thiện diễn ngôn, nguồn tư liệu được thu thập từ tháng 01/2017 đến tháng 11/2017.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong luận án được tác giả phân chia theo hai mảng nghiên cứu: các nghiên cứu trên thế giới và các nghiên cứu tại Việt Nam.
Đối với các công trình trên thế giới, tác giả điểm lại hai nhóm nghiên cứu chính:
Nhóm nghiên cứu miêu tả phương tiện biểu đạt, chiến lược từ chối và đối chiếu tiếng Anh Mỹ với các ngôn ngữ khác:
- Công trình của Leslie M. Beebe, Tomoko Takahashi và Robin Uliss-Weltz (1990) thuộc Đại học Columbia nghiên cứu trên 20 người Nhật nói tiếng Nhật, 20 người Mỹ nói tiếng Anh và 20 người Nhật nói tiếng Anh thông qua phiếu hoàn thiện diễn ngôn (DCT) gồm 12 tình huống. Nhóm tác giả này đã xác lập 14 công thức ngữ nghĩa (Semantic Formulas) cấu tạo nên hành vi từ chối, bao gồm 3 công thức từ chối trực tiếp (dùng động từ ngữ vi, dùng từ phủ định "không", dùng cách nói phủ định) và 11 công thức từ chối gián tiếp (xin lỗi bày tỏ đáng tiếc; nêu nguyện vọng; trình bày lý do, nguyên nhân; đề xuất phương án thay thế; nêu điều kiện về tương lai hoặc quá khứ; đưa ra lời hứa sẽ nhận lời; nêu nguyên tắc; thành ngữ; thử dừng ý định của đối tượng giao tiếp; thừa nhận khuynh hướng từ chối; hỏi lại).
- Ikoma và Shimura sử dụng phiếu DCT chỉnh sửa từ Beebe và cộng sự để điều tra chuyển di ngữ dụng ở người Mỹ học tiếng Nhật, chỉ ra sự khác biệt về tần suất sử dụng công thức ngữ nghĩa khi tương tác với đối ngôn có địa vị khác nhau.
- Wannaruk nghiên cứu đối chiếu hành vi từ chối giữa người Mỹ và người Thái nói tiếng Anh, phát hiện chuyển di ngữ dụng trong việc lựa chọn chiến lược và nội dung chiến lược từ chối dựa trên trình độ ngôn ngữ.
- Hartford và Bardovi-Harlig khảo sát hành vi từ chối của người bản ngữ Mỹ và người phi bản ngữ trong bối cảnh tư vấn học tập, chỉ ra rằng người phi bản ngữ có xu hướng dùng chiến lược lảng tránh nhiều hơn.
- Chang (2009, 2011) so sánh hành vi từ chối của sinh viên Trung Quốc học tiếng Anh và người Mỹ bản ngữ, cho thấy người Mỹ ưa thích chiến lược trực tiếp kèm lý do trong khi người Trung Quốc thiên về chiến lược gián tiếp như nêu nguyện vọng.
- Hong (2011) khảo sát 60 sinh viên tại Mỹ về lời từ chối lời mời dự tiệc năm mới, chỉ ra người Trung Quốc có xu hướng đưa ra lý do chi tiết để giải thích hoàn cảnh ngoài tầm kiểm soát.
Nhóm nghiên cứu về các nhân tố tác động đến việc lựa chọn chiến lược từ chối:
- Beckers (1999) so sánh người Mỹ và người Đức, kết luận người Mỹ thay đổi chiến lược theo vị thế xã hội còn người Đức thay đổi theo khoảng cách xã hội.
- Felix-Brasdefer (2003, 2008) nghiên cứu hành vi từ chối của người Tây Ban Nha và người Mỹ thông qua đóng vai và thuyết trình, chỉ ra ảnh hưởng của sự am hiểu văn hóa đến chiến lược từ chối.
- Honglin khảo sát hành vi từ chối lời thỉnh cầu giữa người Mỹ và người Trung Quốc, phân tích sự chi phối của chủ nghĩa cá nhân so với chủ nghĩa tập thể.
- Liao và Bresnahan (1996) khảo sát tác động của biến số giới tính và vị thế xã hội ở sinh viên Mỹ và Trung Quốc.
- Al-Issa (2003) nghiên cứu chuyển di văn hóa - xã hội trong hành vi từ chối của người Jordan học tiếng Anh Mỹ.
- Kinjo và Chen nghiên cứu về mức độ trực tiếp và gián tiếp của người Nhật và người Mỹ theo các bậc địa vị.
Đối với các nghiên cứu tại Việt Nam, tác giả tổng hợp hai hướng:
Nhóm nghiên cứu miêu tả phương tiện và đối chiếu chiến lược từ chối:
- Trần Chi Mai khảo sát phương tiện biểu đạt hành vi từ chối trực tiếp và gián tiếp lời cầu khiến trong tiếng Anh và tiếng Việt dựa trên phân tích hội thoại và ngữ nghĩa.
- Ngô Hương Lan tiếp cận hành vi từ chối lời cầu khiến dưới góc độ cấu trúc - ngữ nghĩa - ngữ dụng, đối chiếu biểu thức ngữ nghĩa giữa tiếng Nhật và tiếng Việt qua thủ pháp DCT.
- Vũ Tiến Dũng phân tích 6 chiến lược lịch sự trong hành vi từ chối lời cầu khiến tiếng Việt.
- Nguyễn Phương Chi đối chiếu 23 chiến lược từ chối lời cầu khiến (request) giữa tiếng Việt và tiếng Anh qua 1500 phiếu khảo sát.
- Đoàn Thị Hồng Lan đối chiếu hành vi đề nghị ai đó làm gì cho mình và từ chối gián tiếp giữa tiếng Nhật và tiếng Việt, chỉ ra các phương tiện tương đương và mức độ gián tiếp của hai ngôn ngữ.
Nhóm nghiên cứu nhân tố tác động:
- Lưu Quý Khương và Nguyễn Thị Mỹ Ngân khảo sát sự lựa chọn ngôn từ khi từ chối gián tiếp lời mời của người Anh và người Việt từ góc độ lịch sự và thể diện.
- Nguyễn Thị Minh Phương phân tích yếu tố giới tính, khoảng cách xã hội và địa vị xã hội trong hành vi từ chối lời thỉnh cầu của người Úc và người Việt học tiếng Anh.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Phần lớn các công trình trong và ngoài nước tập trung vào hành vi từ chối lời cầu khiến hoặc thỉnh cầu (request). Luận án của Vương Thị Hải Yến định vị nghiên cứu vào việc lấp đầy khoảng trống về nghiên cứu đối chiếu có hệ thống giữa hành vi từ chối lời đề nghị được làm gì đó cho ai (refusing an offer) và hành vi từ chối lời mời (refusing an invitation) trong hai ngôn ngữ tiếng Anh Mỹ và tiếng Việt.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên bốn trụ cột lý thuyết chính:
- Lý thuyết hành vi ngôn ngữ (Speech Act Theory):
- Khái niệm hành vi ngôn ngữ dựa trên quan điểm của Austin (1962) và Searle (1969, 1976), phân biệt ba cấp độ: hành vi tạo lời (locutionary act), hành vi tại lời (illocutionary act) và hành vi mượn lời (perlocutionary act). Luận án tập trung vào hành vi tại lời.
- Phân loại hành vi tại lời của Searle gồm 5 lớp: Biểu hiện (Representatives), Điều khiến (Directives), Cam kết (Commissives), Biểu cảm (Expressives), Tuyên bố (Declaratives). Luận án xác định hành vi đề nghị được làm gì đó cho ai (offer) thuộc lớp Cam kết (Commissives), hành vi mời (invitation) thuộc lớp Điều khiến (Directives), và hành vi thỉnh cầu (request) thuộc lớp Điều khiến.
- Bốn điều kiện thỏa mãn hành vi tại lời của Searle: điều kiện nội dung mệnh đề, điều kiện chuẩn bị (ban đầu), điều kiện chân thực và điều kiện thiết yếu.
- Các khái niệm công cụ: Biểu thức ngữ vi (BTNV), Động từ ngữ vi (ĐTNV), Phát ngôn ngữ vi nguyên cấp (primary) và phát ngôn ngữ vi tường minh (explicit), Hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữ gián tiếp.
- Tiêu chí nhận diện và phân biệt hành vi từ chối:
- Tiêu chí nhận diện hành vi từ chối lời đề nghị và lời mời gồm: ngữ cảnh tình huống, nội dung mệnh đề và hình thức đánh dấu ý định từ chối (chứa các chỉ dẫn hiệu lực tại lời IFIDs như động từ ngữ vi refuse/từ chối, các từ phủ định no, not, never / không, thôi, không cần, không thể).
- Phân biệt hành vi từ chối với hành vi phủ định (phủ định miêu tả và phủ định bác bỏ theo Nguyễn Đức Dân) và hành vi cấm đoán, ngăn cản.
- Lý thuyết hội thoại:
- Cấu trúc hội thoại theo quan điểm của Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Thiện Giáp; trong đó cặp thoại (cặp trao đáp / cặp kế cận) là đơn vị cơ sở gồm hai lượt lời có quan hệ trực tiếp.
- Cặp thoại từ chối lời đề nghị hoặc lời mời thuộc kiểu cặp thoại không ưa chuộng (dispreferred pair), trong đó phát ngôn từ chối nằm ở lượt lời thứ hai sau lượt lời đề nghị hoặc mời tiền vị.
- Lý thuyết lịch sự và các nhân tố xã hội:
- Mô hình lịch sự của Brown và Levinson (1987) với các khái niệm thể diện âm tính (negative face), thể diện dương tính (positive face), cùng các chiến lược lịch sự dương tính, lịch sự âm tính và chiến lược gián tiếp. Hành vi từ chối được xác định là hành vi đe dọa thể diện (Face Threatening Act - FTA).
- Ba biến số xã hội chi phối mức độ lịch sự: Quyền lực quan hệ (Relative Power - P), Khoảng cách xã hội (Social Distance - D), Mức độ áp đặt (Absolute Ranking of Imposition - R).
- Nhân tố giới tính trong giao tiếp ngôn ngữ dựa trên các quan điểm của Holmes, Maltz và Borker, Tannen, West và Zimmerman.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp thống kê định lượng:
- Phương pháp phân tích hội thoại: Dùng để phân tích các đoạn thoại từ chối lời đề nghị và lời mời trong văn học và phim ảnh, xác định vai giao tiếp, ngữ cảnh và cấu trúc trao đáp.
- Phương pháp miêu tả: Miêu tả chi tiết các phương tiện ngôn ngữ biểu đạt và các chiến lược từ chối trong từng ngôn ngữ.
- Phương pháp đối chiếu: Thực hiện đối chiếu hai chiều giữa tiếng Anh Mỹ và tiếng Việt để tìm ra các điểm tương đồng và dị biệt.
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Khảo sát các đặc điểm diễn ngôn của phát ngôn từ chối bao gồm ngữ cảnh, quan hệ liên nhân, cấu trúc ngữ pháp và ngữ nghĩa.
- Thủ pháp thống kê: Thống kê tần suất, tỷ lệ phần trăm sử dụng các chiến lược từ chối trực tiếp và gián tiếp, phân tích tương quan với biến số quyền lực và giới tính.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Nguồn dữ liệu của luận án được thu thập từ hai nguồn chính:
- Tư liệu hội thoại: Trích xuất từ các bộ phim truyền hình Mỹ và Việt Nam phát sóng trên Đài Truyền hình Việt Nam, 85 tác phẩm văn học Việt Nam và 35 tác phẩm văn học Mỹ.
- Tư liệu khảo sát bằng phiếu hoàn thiện diễn ngôn (DCT): Phiếu gồm 3 cảnh huống mời được xây dựng bằng tiếng Anh và dịch tương đương sang tiếng Việt. Khảo sát thực hiện từ tháng 01/2017 đến tháng 11/2017.
| Loại tư liệu |
Tiếng Anh Mỹ |
Tiếng Việt |
Tổng số |
| Đoạn thoại từ chối lời đề nghị (offer) |
1.200 |
850 |
2.050 đoạn thoại |
| Đoạn thoại từ chối lời mời (invitation) |
720 |
700 |
1.420 đoạn thoại |
| Phiếu hoàn thiện diễn ngôn (DCT) hợp lệ |
85 phiếu (từ 135 phiếu thu về) |
85 phiếu (rút ngẫu nhiên từ 365 phiếu thu về) |
170 phiếu |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết
Chương 1 tập trung trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu hành vi từ chối trong tiếng Anh Mỹ và tiếng Việt trên thế giới và tại Việt Nam. Đồng thời, chương này hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết nền tảng gồm lý thuyết hành vi ngôn ngữ của Austin và Searle, phân loại các lớp hành vi tại lời, xác định bản chất của hành vi đề nghị (offer) thuộc nhóm Cam kết và hành vi mời (invitation) thuộc nhóm Điều khiến. Chương 1 cũng trình bày tiêu chí nhận diện hành vi từ chối, phân biệt từ chối với phủ định và cấm đoán, lý thuyết hội thoại về cặp kế cận không ưa chuộng, lý thuyết lịch sự của Brown và Levinson, cùng các nhân tố xã hội chi phối hành vi ngôn ngữ (quyền lực quan hệ P, khoảng cách xã hội D, mức độ áp đặt R, và nhân tố giới tính).
Chương 2: Đối chiếu các phương tiện biểu đạt hành vi từ chối lời đề nghị (offer) của người Mỹ và người Việt
Chương 2 đi sâu phân tích và miêu tả hệ thống phương tiện biểu đạt các chiến lược từ chối lời đề nghị được làm việc gì đó cho ai của người Mỹ và người Việt, chia thành hai nhóm chiến lược:
- Các phương tiện biểu đạt hành vi từ chối trực tiếp lời đề nghị: Sử dụng động từ ngữ vi (refuse / từ chối), sử dụng từ phủ định (No / không, thôi, khỏi), sử dụng cách nói phủ định khả năng hoặc ý chí (I can't, I won't / không thể, không cần).
- Các phương tiện biểu đạt hành vi từ chối gián tiếp lời đề nghị: Bày tỏ sự cảm ơn, đưa ra lý do/nguyên nhân giải thích, nêu sự bất cập hoặc vô ích của đề nghị, đề xuất phương án thay thế, trì hoãn trả lời.
- Đối chiếu hai ngôn ngữ: Luận án chỉ ra các điểm tương đồng và khác biệt về tần suất sử dụng, mức độ trực tiếp/gián tiếp và các cấu trúc ngôn ngữ cụ thể được người Mỹ và người Việt ưa chuộng khi từ chối lời đề nghị. Nội dung được tổng hợp qua Bảng 2.1 (Tần suất sử dụng các CLTC lời đề nghị của người Mỹ và người Việt).
Chương 3: Đối chiếu các phương tiện biểu đạt hành vi từ chối lời mời của người Mỹ và người Việt
Chương 3 tập trung phân tích các phương tiện biểu đạt hành vi từ chối lời mời (invitation) trong ngữ liệu tiếng Anh Mỹ và tiếng Việt:
- Phương tiện từ chối trực tiếp lời mời: Phân tích các biểu thức từ chối trực tiếp, từ ngữ phủ định và phát ngôn ngữ vi tường minh hoặc nguyên cấp.
- Phương tiện từ chối gián tiếp lời mời: Phân tích các chiến lược gián tiếp như đưa ra lời xin lỗi/tiếc nuối (I'm sorry / xin lỗi, tiếc quá), nêu lý do cản trở khách quan, nêu nguyện vọng không thực hiện được, hứa hẹn trong tương lai, chuyển hướng hành vi hoặc đưa ra điều kiện phản thực.
- Đối chiếu hai ngôn ngữ: Xác định điểm giống nhau và khác nhau trong việc vận dụng các công thức ngữ nghĩa khi từ chối lời mời giữa hai nền văn hóa. Dữ liệu được thể hiện qua Bảng 3.1 (Tần suất sử dụng các CLTC lời mời của người Mỹ và người Việt).
Chương 4: Nhân tố quyền lực và giới tính với sự lựa chọn các chiến lược từ chối lời mời của người Mỹ và người Việt
Chương 4 trình bày kết quả phân tích định lượng từ 170 phiếu hoàn thiện diễn ngôn (DCT) nhằm kiểm nghiệm ảnh hưởng của hai biến số xã hội:
- Tác động của nhân tố quyền lực: Khảo sát việc lựa chọn chiến lược từ chối lời mời trực tiếp và gián tiếp trong 3 tình huống vị thế xã hội tương quan giữa người từ chối và người mời: vị thế cao hơn, vị thế ngang bằng và vị thế thấp hơn. Số liệu được tổng hợp qua Bảng 4.1, Bảng 4.3, Bảng 4.4, Bảng 4.5 và minh họa qua các Biểu 4.1, Biểu 4.2, Biểu 4.3.
- Tác động của nhân tố giới tính: Phân tích sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới người Mỹ so với nam giới và nữ giới người Việt trong việc sử dụng số lượng và chủng loại chiến lược từ chối lời mời, mức độ bộc lộ sự lịch sự và các chiến lược giảm nhẹ đe dọa thể diện.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về hành vi từ chối lời đề nghị và hành vi từ chối lời mời trên bình diện ngữ dụng học và phân tích hội thoại.
- Luận án chỉ ra sự tương đồng và khác biệt cụ thể về các phương tiện biểu đạt ngôn ngữ và sự lựa chọn các chiến lược từ chối (trực tiếp và gián tiếp) đối với hai hành vi đề nghị và mời giữa người Mỹ nói tiếng Anh và người Việt nói tiếng Việt.
- Luận án cung cấp các bằng chứng thực nghiệm về mức độ tác động của nhân tố quyền lực quan hệ và nhân tố giới tính đến việc lựa chọn chiến lược từ chối lời mời trong hai nền văn hóa Mỹ và Việt Nam.
Về mặt thực tiễn:
- Kết quả nghiên cứu cung cấp tư liệu tham khảo phục vụ việc biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy tiếng Anh cho người Việt Nam và giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ cho người nước ngoài.
- Hỗ trợ công tác dịch thuật Anh - Việt và Việt - Anh trong việc xử lý các tình huống giao tiếp hội thoại nhạy cảm.
- Góp phần nâng cao năng lực giao tiếp liên văn hóa, giúp người học nhận biết các quy ước văn hóa để tránh xung đột hoặc các cú sốc văn hóa trong giao tiếp hàng ngày.
- Đóng góp vào việc nghiên cứu và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trong giao tiếp xã hội.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, luận án tự giới hạn phạm vi khảo sát ở các phát ngôn thuộc lượt lời thứ hai trong cặp trao đáp của hành vi đề nghị và hành vi mời. Luận án chưa mở rộng khảo sát hành vi từ chối đối với các hành vi ngôn ngữ khác như hành vi thỉnh cầu (request), hành vi khen, chê, hỏi hoặc đánh giá. Đồng thời, nghiên cứu chưa khảo sát các phương tiện biểu đạt từ chối phi ngôn từ (như cử chỉ xua tay, lắc đầu, nét mặt, ánh mắt hoặc sự im lặng tuyệt đối) do giới hạn của nguồn ngữ liệu văn bản và phiếu điều tra diễn ngôn viết.
Về hướng nghiên cứu tiếp, các nghiên cứu sau có thể mở rộng khảo sát hành vi từ chối trong các ngữ cảnh giao tiếp đa phương thức (multimodal communication), kết hợp phân tích các yếu tố cận ngôn và phi ngôn ngữ trong giao tiếp thực tế, hoặc khảo sát tác động của các biến số xã hội học khác như độ tuổi, khoảng cách xã hội vùng miền và bối cảnh giao tiếp chuyên biệt (như đàm phán thương mại, giao tiếp học thuật).
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho các nhóm đối tượng:
- Giảng viên và nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu, Ngôn ngữ Anh và Việt Nam học: Cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh về hành vi tại lời, cấu trúc hội thoại và hệ thống phân loại công thức ngữ nghĩa từ chối.
- Giáo viên dạy tiếng Anh và người biên soạn sách giáo khoa ngoại ngữ: Cung cấp dữ liệu thực tế về thói quen sử dụng chiến lược từ chối của người Mỹ bản ngữ, giúp xây dựng các bài học ngữ dụng học sát với thực tế giao tiếp.
- Dịch giả và người làm công tác truyền thông liên văn hóa: Giúp nắm bắt các phương thức biểu đạt tương đương, hiểu rõ các hàm ý gián tiếp và mức độ lịch sự khi chuyển ngữ giữa tiếng Anh và tiếng Việt.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt hành vi đề nghị (offer) và hành vi thỉnh cầu (request) như thế nào theo lý thuyết hành vi ngôn ngữ?
Theo phân loại của Searle được luận án áp dụng, hành vi đề nghị được làm gì đó cho ai (offer) thuộc nhóm Cam kết (Commissives), trong đó người nói cam kết thực hiện một hành động tương lai mang lại lợi ích cho người nghe. Ngược lại, hành vi thỉnh cầu ai đó làm gì cho mình (request) thuộc nhóm Điều khiến (Directives), trong đó người nói tác động để người nghe thực hiện hành động mang lại lợi ích cho người nói.
2. Khung phân loại 14 công thức ngữ nghĩa (Semantic Formulas) của hành vi từ chối mà luận án kế thừa gồm những nhóm nào?
Luận án kế thừa mô hình của Beebe, Takahashi và Uliss-Weltz (1990) gồm 14 công thức ngữ nghĩa chia thành 2 nhóm:
- 3 công thức trực tiếp: dùng động từ ngữ vi, dùng từ phủ định "không", và dùng cách nói phủ định khả năng/ý chí.
- 11 công thức gián tiếp: xin lỗi bày tỏ đáng tiếc; nêu nguyện vọng; trình bày lý do, nguyên nhân; đề xuất phương án thay thế; nêu điều kiện về tương lai hoặc quá khứ; đưa ra lời hứa sẽ nhận lời; nêu nguyên tắc; thành ngữ; thử dừng ý định của đối tượng giao tiếp; thừa nhận khuynh hướng từ chối; và hỏi lại.
3. Quy mô và tiêu chí thu thập mẫu khảo sát hoàn thiện diễn ngôn (DCT) trong luận án được xác định ra sao?
Phiếu DCT gồm 3 cảnh huống mời được thu thập từ tháng 01/2017 đến tháng 11/2017. Với mẫu người Mỹ, tác giả thu về 135 phiếu qua các fanpage chuyên ngành và hội sinh viên tại Mỹ, chọn ra 85 phiếu hợp lệ (người trả lời là người Mỹ, không bỏ trống câu hỏi). Với mẫu người Việt, tác giả phát 700 phiếu cho sinh viên các trường đại học tại Hà Nội và du học sinh, thu về 365 phiếu, sau đó rút ngẫu nhiên 85 phiếu để đảm bảo tính tương ứng về dung lượng mẫu khảo sát giữa hai nhóm (tổng số 170 phiếu).
4. Dữ liệu hội thoại thực tế được tác giả trích xuất từ những nguồn tư liệu cụ thể nào?
Dữ liệu hội thoại gồm 2.050 đoạn thoại từ chối lời đề nghị (1.200 tiếng Anh Mỹ, 850 tiếng Việt) và 1.420 đoạn thoại từ chối lời mời (720 tiếng Anh Mỹ, 700 tiếng Việt). Nguồn ngữ liệu được trích xuất từ các bộ phim truyền hình Mỹ và Việt Nam phát sóng trên Đài Truyền hình Việt Nam, 85 tác phẩm văn học Việt Nam và 35 tác phẩm văn học Mỹ.
5. Luận án phân loại hành vi từ chối vào kiểu cấu trúc hội thoại nào?
Dựa trên lý thuyết hội thoại, luận án xác định hành vi từ chối nằm ở lượt lời thứ hai trong cặp trao đáp (cặp kế cận) đứng sau phát ngôn đề nghị hoặc phát ngôn mời tiền vị. Đây là một hành vi hồi đáp tiêu cực, tạo nên cấu trúc cặp thoại không ưa chuộng (dispreferred pair) trong giao tiếp hội thoại.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Vương Thị Hải Yến là công trình nghiên cứu đối chiếu chuyên sâu về phương tiện biểu đạt và chiến lược thực hiện hành vi từ chối lời đề nghị (offer) và lời mời (invitation) giữa tiếng Anh Mỹ và tiếng Việt. Dựa trên khung lý thuyết hành vi ngôn ngữ, phân tích hội thoại và lý thuyết lịch sự, luận án đã phân tích ngữ liệu gồm 3.470 đoạn thoại thực tế cùng 170 phiếu hoàn thiện diễn ngôn để làm rõ các đặc trưng ngôn ngữ và văn hóa của hai cộng đồng. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra sự tương đồng và khác biệt trong việc vận dụng các chiến lược từ chối trực tiếp và gián tiếp, đồng thời xác định mức độ chi phối của hai biến số xã hội là quyền lực và giới tính đối với hành vi từ chối lời mời. Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác nghiên cứu ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu, giảng dạy ngoại ngữ, dịch thuật và giao tiếp liên văn hóa.