CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Ngày nay, có nhiều học giả nhận ra tầm quan trọng của việc phân tích mức tiêu thụ năng lượng của hộ gia đình từ góc độ hành vi. Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu thụ năng lượng của hộ gia đình là cơ sở để khám phá các tác động, và cơ chế hình thành các HVTKNL của từng cá nhân. Một số nghiên cứu chú ý đến tác động của các yếu tố ảnh hưởng bên ngoài đến HVTKNL bên cạnh ảnh hưởng của các biến nhân khẩu học và các yếu tố đặc trưng chủ quan của cá nhân. Một số nhóm nghiên cứu khác cho rằng các yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến các HVTKNL thông qua việc thực hiện các ý định tiết kiệm năng lượng của họ và ý định hành vi đóng vai trò quan trọng nhất trong giải thích các hành vi.
Dựa trên các tài liệu nghiên cứu trước, nghiên cứu này tổng hợp và phân loại các nhóm yếu tố ảnh hưởng như sau: + Các biến nhân khẩu học xã hội; + Yếu tố bên ngoài: chính sách; giá… + Yếu tố tâm lý học. Các nghiên cứu liên quan đến biến nhân khẩu học và HVTKNL Tác động của các yếu tố xã hội học đến HVTKNL cũng là trọng tâm của nghiên cứu trong lĩnh vực này. Nhiều yếu tố như tuổi tác, giới tính, mức thu nhập, trình độ học vấn và quy mô gia đình có thể có tác động đến HVTKNL của cư dân. Đã có nhiều nghiên cứu thực hiện, nhưng kết luận của các nghiên cứu không thống nhất, vai trò của các biến số không ổn định và có những khác biệt nhất định về văn hóa.
Ví dụ một nghiên cứu điển hình về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiết kiệm năng lượng của dân cư ở Bắc Kinh, Trung Quốc. Từ việc áp dụng mở rộng mô hình TPB, kết quả phân tích dữ liệu cho thấy yếu tố Chuẩn chủ quan, Thái độ, Công khai thông tin, lối sống, nhận thức kiểm soát hành vi ảnh hưởng tích cực đến HVTKNL, trong khi các yếu tố thuộc về nhân khẩu học xã hội lại có sự ảnh hưởng không rõ ràng đến ý định 11 tiết kiệm năng lượng. Các vấn đề về nhận thức ảnh hưởng gián tiếp tới các hoạt động tiết kiệm năng lượng thông qua yếu tố thái độ môi trường. Ngoài ra các tác giả cũng chỉ ra vai trò quan trọng của các hộ gia đình trong việc TKNL, [135], [123].
Dưới đây, là một số nghiên cứu có liên quan về biến nhân khẩu học xã hội. Giới tính Nhiều học giả đã nghiên cứu tác động của giới tính đối với một loạt các biến số như thái độ môi trường, hành vi môi trường và hành vi sử dụng tiết kiệm năng trong nghiên cứu của họ, nhưng kết quả không hoàn toàn nhất quán. Trong một nghiên cứu khi phân tích tác động của các yếu tố đặc trưng chủ quan về nhân khẩu học thông qua phân tích hồi quy phát hiện ra rằng những cá nhân có kiến thức về môi trường, xử lý các vấn đề môi trường nghiêm túc hơn và ủng hộ việc bảo tồn tài nguyên môi trường có nhiều khả năng thực hiện các HVTKNL hiệu quả hơn và nữ giới làm tốt hơn nam giới, [49], [54], [117], [121]. Điều này cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của các học giả ở Thổ Nhĩ Kỳ khi nghiên cứu HVTKNL của nữ giới trong gia đình [128].
Hiện tượng này có cơ sở lý thuyết nhất định, đó là, bị ảnh hưởng bởi sự phát triển xã hội và vai trò giới tính riêng biệt, kỹ năng và thái độ của phụ nữ. Thông thường, người ta cân nhắc nhiều hơn đến tác động của hành vi cá nhân của họ đối với người khác, và mối quan hệ giữa giới tính và các loại hành vi môi trường không giống nhau. Các hành vi vì môi trường trong khu vực công có sự tham gia của nam giới cao hơn đáng kể so với nữ giới và hầu hết các nghiên cứu cho thấy nam giới cao hơn, có thể đàn ông thường hướng ngoại hơn, và do đó nhận được nhiều thông tin về môi trường hơn phụ nữ [76]. Tuổi Ảnh hưởng của tuổi tác đến HVTKNL cũng đã được chú ý đến trong một số lượng lớn các nghiên cứu trong quá khứ, [27], [49].
Mức tiêu thụ năng lượng trong gia đình của người cao tuổi cao hơn các gia đình trẻ tuổi [109], điều này phù hợp với kết luận của một số học giả [37], [146]. Tuy nhiên một số nghiên cứu không tìm thấy mối tương quan giữa tuổi và mối quan hệ nhận thức về TKNL [41], [98]. 12 Trong một nghiên cứu thực nghiệm khác các học giả phát hiện ra rằng những người ở độ tuổi 20-39 và 40-64 sẵn sàng đầu tư vào hiệu quả năng lượng và kỹ thuật tiết kiệm năng lượng hơn những người từ 65 tuổi trở lên [103], hầu hết các nghiên cứu đều phát hiện ra rằng có mối tương quan thuận đáng kể giữa tuổi tác, mối quan tâm về môi trường và HVTKNL, đó là người cao tuổi quan tâm nhiều hơn đến tiết kiệm năng lượng [116]. Trong cuộc khảo sát và nghiên cứu đối với người dân Trùng Khánh, Trung Quốc thấy rằng mối quan hệ giữa tuổi và HVTKNL phụ thuộc vào loại HVTKNL, và các HVTKNL của những người trẻ có trình độ học vấn tốt cao hơn đáng kể so với nhóm người cao tuổi [90].
Mức thu nhập Nghiên cứu về ảnh hưởng của mức thu nhập hộ gia đình đến tiêu thụ năng lượng và HVTKNL của người dân, một số học giả đã kết luận rằng ảnh hưởng của thu nhập hộ gia đình đến tiêu thụ năng lượng là rất đáng kể. Hầu hết các nghiên cứu đã chỉ ra rằng các hộ gia đình có mức thu nhập cao thường "tiêu thụ nhiều năng lượng hơn các hộ gia đình có mức thu nhập thấp. Mức tiêu thụ năng lượng trong các hộ gia đình ở nước Anh có sự khác biệt theo mức thu nhập, mức thu nhập càng cao thì mức tiêu thụ năng lượng càng lớn [26], [37]. Tác động của tiết kiệm năng lượng là do hai cách thực hiện HVTKNL có cùng mục tiêu.
Cho dù đó là bằng cách giảm tiêu thụ năng lượng trực tiếp hoặc bằng cách mua các sản phẩm hiệu quả năng lượng để đạt được mục đích tiết kiệm năng lượng đang sử dụng, thì hiệu quả cuối cùng được phản ánh trong mức tiêu thụ năng lượng cụ thể. Mức tiêu thụ là một vấn đề quan trọng trong kinh tế, và tác động của mức thu nhập. Nghiên cứu cho thấy thu nhập là yếu tố quan trọng quyết định hành vi tiêu thụ năng lượng của người dân. Ngoài ra, mức thu nhập cũng ảnh hưởng đến HVTKNL của người dân và mức độ TKNL của người dân với mức thu nhập cao hơn thường thấp hơn [37], [93].
Mức thu nhập sẽ ảnh hưởng đến sự lựa chọn của mọi người về các phương tiện tiết kiệm năng lượng khác nhau [50], [105]. Đầu tư sử dụng năng lượng hiệu quả đòi 13 hỏi người tiêu dùng phải đầu tư một khoản tiền nhất định, nhóm thu nhập thấp dễ bị hạn chế về trình độ kinh tế, còn nhóm thu nhập cao không dễ bị ràng buộc về thu nhập nên họ sẽ lựa chọn phương thức đầu tư sử dụng năng lượng hiệu quả để tiết kiệm năng lượng. Các nhóm cấp cao hơn thường có yêu cầu cao hơn về chất lượng cuộc sống, điều này khiến họ đầu tư tiết kiệm năng lượng hơn là giảm mức sử dụng hàng ngày, trong khi nhóm thu nhập thấp có xu hướng thực hiện các biện pháp TKNL trực tiếp hàng ngày [103]. Trình độ học vấn Liên quan đến ảnh hưởng của trình độ học vấn đối với hành vi môi trường và HVTKNL, cũng có nhiều ý kiến trái chiều trong nghiên cứu của các học giả khác nhau, và một số nghiên cứu cho thấy trình độ học vấn có tương quan thuận đáng kể với thái độ của cư dân [62], [49], trong khi những người có trình độ học vấn cao hơn có nhiều khả năng hạn chế các hành vi môi trường hơn [112], [139], [141].
Trình độ học vấn của các thành viên chủ chốt trong gia đình ảnh hưởng đáng kể đến sở thích của họ đối với các biện pháp tiết kiệm năng lượng. Thành viên có trình độ học vấn cao có xu hướng lựa chọn các biện pháp kỹ thuật tiết kiệm năng lượng, trong khi những người có trình độ học vấn thấp có xu hướng lựa chọn các biện pháp TKNL mang tính hành vi, mức đầu tư vốn tương ứng cũng thấp hơn [103]. Quy mô hộ gia đình Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng cơ cấu các thành viên trong gia đình có tác động nhất định đến việc sử dụng năng lượng và thực hiện các HVTKNL trong gia đình. Vì các thành viên trong gia đình là đối tượng tiêu thụ năng lượng chung và tiết kiệm năng lượng của hộ gia đình nên mức tiêu thụ năng lượng và mức tiết kiệm năng lượng của gia đình thực tế do họ cùng xác định: Do ảnh hưởng của các chuẩn mực xã hội, các thành viên trong gia đình cũng sẽ ảnh hưởng đến tâm lý TKNL của nhau và thói quen tiêu thụ năng lượng.
Một mặt, các thành viên trong gia đình chịu ảnh hưởng của các thành viên khác và những người khác. Ngoài ra, các thành viên trong gia đình cũng có thể có những điều chỉnh nhất định đối với thói quen và hành vi sử dụng năng 14 lượng của mình mà không cần quan tâm đến các thành viên khác. Ví dụ, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nếu trong gia đình có trẻ em, các thành viên sẽ làm gương cho trẻ, đồng thời một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng những người có con trong gia đình của họ có xu hướng tiêu thụ nhiều năng lượng hơn, và mức độ TKNL trong hành vi của họ cũng thấp hơn [28], [91]. Những gia đình có người già, do người cao tuổi ở nhà trong thời gian dài, thời gian tiêu thụ năng lượng tổng thể của họ sẽ lâu hơn các thành viên khác trong gia đình, do đó ảnh hưởng đến mức độ tiêu thụ năng lượng của cả gia đình, nhưng ảnh hưởng của cấu trúc gia đình cũng mang tính đặc thù về văn hóa.
Mặc dù các nghiên cứu ở các nước phương Tây nói chung cho thấy người cao tuổi sẽ tăng mức tiêu thụ năng lượng và giảm mức tiêu hao năng lượng [108]. Tuy nhiên, một số nghiên cứu thực nghiệm ở Trung Quốc cho thấy người cao tuổi chú ý đến TKNL hơn người trẻ, và mức độ TKNL trong các gia đình có người già cũng cao hơn [147].