Chương 1: NHỮNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. LÝ THUYẾT HÀNH ĐỘNG NGÔN TỪ 1. Khái niệm hành động ngôn từ Hoạt động giao tiếp là hoạt động có tính chất liên nhân diễn ra hai chiều: liên hệ xuôi từ người phát tới người nhận, và liên hệ ngược từ người nhận đến người phát. Nếu chỉ có một nửa quá trình thì sẽ không tạo thành hoạt động giao tiếp.
Ngôn ngữ phục vụ cho việc giao tiếp như một cách thức chuyển tải thông điệp và tạo hành động, do đó nó luôn chịu ảnh hưởng của người khác ngoài chủ thể giao tiếp, đồng thời cũng mang tính quy ước xã hội sâu sắc. Mối liên hệ giữa hành động ngôn từ và hành động của con người mang tính hiển nhiên, không thể bỏ qua và là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học liên quan, đặc biệt trong ngữ dụng học, vấn đề này là một đối tượng nghiên cứu quan trọng. Người ta cho rằng người đặt tiền đề, đi tiên phong cho lý thuyết này là nhà triết học người Áo L.Wittgenstein với quan niệm đồng nhất hoạt động giao tiếp với hoạt động xã hội và coi việc sử dụng ngôn từ như một loại hành động.Wittgenstein là người đặt tiền đề thì chính J. Searle là người đã đặt nền móng vững chắc cho đối tượng nghiên cứu này.
Các ông tin rằng ngôn ngữ không chỉ được dùng để thông báo hay miêu tả cái gì đó mà nó thường được dùng để “làm cái gì đó”, để thực hiện hành động. Với công trình nghiên cứu “How to do thing with words”, J. Austin đã bày tỏ quan điểm “To say is to do something”, (nói là làm). Ông cho rằng để thực hiện một hành động ngôn từ thì việc nói ra điều đó phải đi với việc làm một điều gì đó, tức phải tác động một điều gì đó vào thực tế.
Từ luận điểm trên, lý thuyết về hành động ngôn từ đã dần được xây dựng. Khi chúng ta nói một câu, nghĩa là chúng ta thực hiện một hành động nào đó, chẳng hạn như cầu khiến, van xin, bác bỏ, chúc mừng, tuyên bố… Chúng được xem là những hành động ngôn từ và được thực hiện bằng ngôn từ. Ví dụ 1 - Con chào mẹ ạ. - Tôi tuyên bố khai mạc hội nghị.
- Tôi chúc anh sớm khỏi bệnh. Dễ dàng nhận ra đây là những câu chào, câu tuyên bố, câu chúc phổ biến. Chính những động từ như “chào, tuyên bố, khuyên” đã thể hiện lần lượt các hành động trên. Người ta gọi những động từ này là động từ ngữ vi (hay ngôn hành).
Austin đã coi hành động ngôn từ là một thể thống nhất của ba loại hành động: hành động tạo lời; hành động tại lời; hành động mượn lời, hay còn gọi là hành động sau lời. Cái khó trong lý thuyết hành động ngôn từ là một phát ngôn thường không chỉ thực hiện một hành động mà thực hiện hai hoặc ba hành động và không phải bao giờ cũng dễ dàng quyết định được là phát ngôn ấy thực hiện hành động nào hoặc những hành động nào bởi vì nội dung của hành động có khi không phụ thuộc vào bản thân nội dung phát ngôn mà còn tùy thuộc vào văn cảnh nơi phát ngôn nảy sinh. Ví dụ 2 Đứa con mới đi học về: - Thưa mẹ, con mới về ạ. Hình thức là một câu thông báo sự tình, tuy nhiên, mục đích của phát ngôn trên không chỉ là đưa ra một thông báo, mà đó là một lời chào lễ phép của người nhỏ tuổi so với người lớn tuổi.
Các hành động ngôn từ Phân tích cụ thể hơn, hành động ngôn từ bao gồm những hành động cụ thể như sau. (1) Hành động tạo lời Đây là hành động sử dụng các chất liệu vật chất tạo nên ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp… để tạo nên một câu nói. Đây là một hành động thuần tính vật chất. (2) Hành động tại lời Hành động tại lời, hay còn được gọi là hành động ngôn trung là những hành động phát ra một câu với nghĩa và sở chỉ xác định.
Thực hiện hành động này tức là nói một điều gì đó và thực hiện nó. Nó có thể tạo ra một lời tuyên bố, một lời chào, lời hứa… khi phát ra một câu nhờ hiệu lực của những quy ước liên quan tới nó. Searle khi nghiên cứu về hành động ngôn từ lại đặc biệt quan tâm đến người nói và điều được nói. Dựa trên quan điểm và khắc phục những hạn chế trong lý thuyết của J.
Austin, ông đưa ra khái niệm hành động ngôn từ gián tiếp. Ông cho rằng: “Một hành động ngôn từ gián tiếp là hành động ngôn từ được thực hiện bằng hình thức của một hành động ngôn từ khác”. Nói cách khác, một hành động tại lời được thực hiện gián tiếp phải thông qua một hành động tại lời khác với hai đặc điểm như sau. - Một hành động ngôn từ gián tiếp được thực hiện thông qua những hành động tại lời khác nhau.
- Cùng một hành động tại lời có thể tạo ra những hành động gián tiếp khác nhau. Ví dụ 3 - Bố tôi sắp về rồi. Anh làm ơn đi ngay được không? Ở ví dụ trên, hành động tại lời là hỏi, nhưng mục đích chính là để đề nghị, yêu cầu: Anh hãy đi ngay đi. Searle đưa ra 12 tiêu chí phân loại hành động ngôn từ, trong đó có 3 tiêu chí quan trọng nhất như sau.
- Mục đích của hành động tại lời. - Hướng thích nghi giữa lời lẽ và hiện thực. - Trạng thái tâm lý được biểu hiện. Dựa theo đó, ông đã phân chia hành động ngôn từ ra làm 5 loại.
a) Khẳng định - Mục đích của hành động tại lời: người nói phải chịu trách nhiệm về những giá trị chân lý của mệnh đề được biểu đạt. - Hướng thích nghi: từ hiện thực tới lời lẽ. - Trạng thái tâm lý: tin tưởng vào tính đúng đắn, giá trị chân lý của điều được nói ra. b) Cầu khiến - Mục đích của hành động tại lời: nhằm để người tiếp nhận làm một việc gì đó.
- Hướng thích nghi: lời lẽ có trước, hiện thực thay đổi theo lời lẽ, do người tiếp nhận thực hiện. - Trạng thái tâm lý: người nói mong muốn điều mình cầu khiến sẽ được thực hiện. c) Hứa hẹn - Mục đích của hành động tại lời: người nói tự gán trách nhiệm cho mình là phải thực hiện một hành động nào đó đã cam kết trước đó. - Hướng thích nghi: từ lời nói tới hiện thực đều do người nói thực hiện.
- Trạng thái tâm lý: khi hứa hẹn trạng thái tâm lý không xác định, phụ thuộc vào từng hành động hứa cụ thể. d) Bày tỏ - Mục đích của hành động tại lời: bày tỏ một trạng thái tâm lý nào đó. - Hướng thích nghi: người nói làm cho lời lẽ thích nghi với hiện thực. Hiện thực xảy ra trước, lời lẽ làm cho thích nghi.
- Trạng thái tâm lý: không xác định, phụ thuộc vào hành động ngôn từ. e) Tuyên bố - Mục đích của hành động tại lời: gây ra một sự thay đổi nào đó bằng lời tuyên bố. - Hướng thích nghi: từ lời lẽ tới hiện thực, hiện thực xảy ra ngay sau khi hành động ngôn từ được thực hiện. - Trạng thái tâm lý: không xác định được nhưng các yếu tố của thể chế làm cho hành động ngôn từ của người nói có giá trị.
(3) Hành động mượn lời Hành động mượn lời là hành động thông qua câu nói, người nói tác động đến tư tưởng, tình cảm… của người tiếp nhận. Với một hành động mượn lời, người nghe có thể không nhận ra ngay mặc dù hiểu được hành động tại lời. Một hành động tại lời có thể có nhiều hành động mượn lời khác nhau. Điều kiện sử dụng hành động ngôn từ Việc sử dụng lời nói trong hoạt động ngôn từ sẽ phải chịu những sự chi phối nhất định mà L.Wittgenstein gọi là “trò chơi ngôn ngữ”, và J.
Austin đưa ra quan điểm “nói là làm”, tức sử dụng âm thanh để bộc lộ ra một nội dung hành động nào đó. Để đạt được hiệu quả trong giao tiếp, người nói cần quan tâm đến các điều kiện sử dụng của các hành động ngôn từ, bởi để hành động được thực hiện thì mỗi hành động ngôn từ phải có những điều kiện nhất định. Muốn cho người nghe thực hiện một hành động nào đó theo đúng như mong muốn, suy nghĩ của mình thì người nói phải lựa chọn cách nói làm sao để người nghe không chỉ hiểu mình nói ở bề mặt ngôn từ mà còn tri nhận được đích ngôn trung. Đối với hành động ngôn từ tạo lời, các điều kiện sử dụng của nó liên quan đến ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp của một ngôn ngữ cấu tạo nên lời nói và có thể hiểu được đối với người nghe.
Người nói, khi phát ngôn, buộc phải tôn trọng tính hình thức và các quy tắc kết hợp của một ngôn ngữ cụ thể. Đồng thời, cả hai bên đều phải có khả năng tiếp nhận và tạo thông tin, không bị những hạn chế sinh lý như câm hay điếc hay không hiểu các mã ngôn ngữ mà cộng đồng tại nơi đó quy định. Chẳng hạn, nếu ta đi ra nước ngoài và muốn trao đổi thông tin nào đó với người nước ngoài (mua bán hay trao đổi hàng hóa v.v…), ta buộc phải hiểu rõ và sử dụng được những chất liệu ngôn ngữ và các cách thức kết hợp đặc trưng chúng lại với nhau, khi đó hành động tạo lời mới có kết quả. Đối với hành động tại lời, các hành động tại lời bị chi phối bởi các quy tắc hình thành tự nhiên theo cộng đồng vì vậy mà mỗi loại hành động tại lời có những điều kiện sử dụng riêng mà Austin gọi là những điều kiện thuận lợi.
Về vấn đề này, Searle chia ra làm ba loại chính như sau. - Điều kiện ban đầu: liên quan đến quan hệ của hai người, người nói và người nghe, tới những ý nguyện, lợi ích và khả năng của người nghe. - Điều kiện chân thành: còn gọi là điều kiện hiện thực. Tập trung chủ yếu nói đến trạng thái tâm lý của hành động mà người nói thực hiện.
Yếu tố chân thành ở đây liên quan tới trạng thái tâm lý đặc trưng, khác với điều kiện chân thực về mặt logic tức tính đúng sai của mệnh đề được nói ra. Thông báo một điều gì đó cho người khác là phải tâm niệm rằng thông tin đó là sự thật. Ra lệnh không chỉ là ép buộc mà phải thực sự mong muốn người nhận lệnh chấp hành.