CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY LIÊN QUAN ĐẾN CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VỀ DOANH THU Mặc dù số lượng các nghiên cứu về hài hòa chuẩn mực (de jure) và hài hòa thực tế (de facto) đã tăng lên gần đây, nhưng rất ít những nghiên cứu về mối quan hệ giữa cả hai loại hoà đượcthực hiện bởi vì các nhà nghiên cứu muốn đo từng loại hài hòa một cách riêng biệt. Một số người cho rằng việc đo sự hài hòa chuẩn mực là thích hợp hơn nhiều do ảnh hưởng ngày càng tăng của chuẩn mực kế toán đến thực hành kế toán (Fontes, Rodrigues, & Craig, 2005; Garrido, Leon, & Zorio, 2002; Rahman, Perera, & Ganeshanandam, 1996). (Herrmann &Thomas, 1998; Archer, Pascale, & McLeay, 1998; Emenyonu & Gray, 1992; Canibano & Mora, 2000) lại lập luận rằng mối quan tâm cốt yếu của sự hài hòa là tăng cường khả năng so sánh được của báo cáo tài chính. Do vậy, nghiên cứu về hài hòa thực tế thích hợp hơn.
Vì hạn chế về thời gian nghiên cứu cũng như hiểu biết chưa sâu rộng về vấn đề này nên đề tài cũng tập trung vào mảng hài hòa chuẩn mực về công bố thông tin trên báo cáo tài chính với những nghiên cứu điển hình như sau: Toàn cầu hóa của nền kinh tế thế giới đã thúc đẩy các nỗ lực thiết lập một bộ chuẩn mực báo cáo tài chínhchung vốn được xem là con đường để đạt được sự hội tụ chuẩn mực kế toán toàn cầu. Trong tháng 5 năm 2000, Tổ chức quốc tế các ủy ban chứng khoán (IOSCO) hoàn thành việc đánh giá các tiêu chuẩn cốt lõi của Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC). Thành viên của IOSCO được khuyến khích sử dụng các tiêu chuẩn của IASC để lập báo cáo tài chính cho các dịch vụ xuyên biên giới bao gồm các giao dich bán chứng khoán. Đã có những nghiên cứu sâu rộng được thực hiện trong lĩnh vực hài hòa ở mức độ toàn cầu.
Các lĩnh vực nghiên cứu không giới hạn đến một chủ đề cụ thể của sự hài hòa, nhưng nó được mở rộng đến một loạt các khía cạnh hài hòa, trong đó bao gồm các nghiên cứu cụm mờ, quy định hài hòa, hài hòa thực tế, kỹ thuật đo lường sự hài hòa và phù hợp với IAS. Tương tự như vậy, các nghiên cứu về sự hài hòa có thể được nhóm lại ở tầm cỡ quốc tế, khu vực và nghiên cứu cấp quốc gia về chuẩn mực kế toán hoặc kế toán thực tế ở các công ty. Van der Tas (1988) là người tiên phong để định lượng sự hài hòa và để xác định khi nào đạt được sự hài hòa và hài hòa đến mức độ nào và sau đó để đo lường tác động của các tổ chức tham gia vào hài hòa quốc tế. Hầu hết các nghiên cứu trước về đánh giá hài hòa kế toán tập trung vào các đo lường hài hòa thực tế.
Các chỉ số, chẳng hạn như I và C, cũng như chỉ số H được giới thiệu bởi Van der Tas (1988), được sử dụng phổ biến. Một số tác giả thực hiện cải tiến thêm hoặc phát triển những chỉ số, chẳng hạn như Archer, Delvaille, và McLeay (1998), Herrmann và Thomas (1995). Trong những nghiên cứu này, các nguồn dữ liệu được sử dụng để xác định mức độ hài hoà giữa kế toán thực hành và cách xử lý các nghiệp vụ kế toán của các công ty. Tuy nhiên, bởi vì nghiên cứu hài hòa thực tế so với hài hòa chuẩn mực có sự khác nhau đáng kể, chỉ số được sử dụng trong đo lường hài hòa thực tế không có giá trị để đánh giá hài hòa chuẩn mực.
Một số nhà nghiên cứu, chẳng hạn nhưRahman, Perera, và Siva (1996), đã bắt đầu phát triển phương pháp mới để đo lường tiến bộ trong sự hài hòa chuẩn mực. Trong nhiều năm gần đây, Garrido, León, Zorio (2002). Fontes, Rodrigues, và Craig (2005) đã có những đóng góp đáng kể cho lĩnh vực nghiên cứu này. Họ tiến hành nghiên cứu hài hòa từ một giai đoạn kế toán thử nghiệm cho đến giai đoạn phương pháp luận và đưa ra phương pháp nghiên cứu, từ đó bất cứ vấn đề kế toán và bất cứ quốc gia nào cũng có thể được đánh giá trong khuôn khổ của các thiết kế nghiên cứu này, thay vì chỉ có mẫu cụ thể của vấn đề kế toán của các nước khác nhau đang được thử nghiệm bởi phương pháp đề xuất và kỹ thuật phân tích.
Rahman và các cộng sự. (1996) đã tiến hành nghiên cứu ban đầu về hài hòa chuẩn mực giữa các quốc gia, đo lường mức độ hài hòa chuẩn mực đã đạt được giữa hai nước "láng giềng" là Úc và New Zealand. Họ sử dụng các yêu cầu công bố thông tin và đo lường thông tin quy định tại các chuẩn mực kế toán, yêu cầu luật pháp, và các yêu cầu niêm yết chứng khoán như là nguồn dữ liệu, họ xác định các nhóm yêu cầu khác nhau mà có mức độ hài hòa thấp hơn hoặc cao giữa hai nước bằng nhiều phân tích riêng biệt. Các yêu cầu công bố thông tin và đo lường trong mỗi mục được xem là dữ liệu riêng rẽ.
Khoảng cách Mahalanobis đã được sử dụng để đo khoảng cách giữa các mục đó. Kết quả cho thấy một mức độ hài hòa cao hơn của yêu cầu về mặt đo lường và mức độ hài hòa thấp hơn về mặt công bố. Một vấn đề lớn phát sinh đối với cách đánh giá hài hòa bằng khoảng cách Mahalanobis vì khoảng cách này chủ yếu được xác định cho các biến liên tục, trong khi yêu cầu công bố và đo lường thông tin là các dữ liệu rời rạc, cần được xử lý bằng cách mô tả. Ngoài ra, rất khó để giải thích mức độ hài hoà bởi một khoảng cách tuyệt đối.
Mặc dù có những vấn đề về đo lường hài hòa nhưng bài nghiên cứu của Rahman et al. (1996) đã cung cấp một cái nhìn mới về sự hội tụ hài hòa chuẩn mực. Không giống như các nghiên cứu theo chiều ngang trình bày bởi Rahman et al. (1996), Garrido et al.
(2002) tiến hành một nghiên cứu theo chiều dọc (theo tiến trình thời gian) về tiến trình hài hòa chuẩn mực, đó là nghiên cứu sự thay đổi của một tiêu chuẩn theo thời gian. Trong nghiên cứu này, họ tập trung nghiên cứu về việc đánh giá sự tiến bộ của IASC qua tất cả ba giai đoạn của hoạt động thiết lập tiêu chuẩn của nó bằng khoảng cách Euclide. Các kết quả đã chứng minh rằng IASC đã được tiến bộ vượt bậc trong việc làm tăng mức độ hài hòa đạt được thông qua các chuẩn mực kế toán đã phát hành hoặc sửa đổi. Mặc dù nghiên cứu này cho thấy sự tiến bộ trong việc đo lường sự hài hòa chuẩn mực nhưng việc sử dụng khoảng cách Euclide đặt ra nhiều dấu hỏi.
Khi hoảng cách Euclide là một số tuyệt đối thì kết quả chỉ có thể cho thấy sự khác biệt giữa các mục so sánh mà thôi. Nó không thể hiện sự tương đồng hoặc khác biệt đối với các mục được so sánh. Lỗi này làm cho nó không phù hợp để sử dụng trong phân tích sự hội tụ giữa tiêu chuẩn khác nhau (theo chiều ngang) hoặc các tiến bộ đạt được trong một chuẩn theo thời gian (theo chiều dọc). Nhận thức của các lỗ hổng tồn tại trong phương pháp luận, Fontes et al.
(2005) đã đề xuất sử dụng hệ số Jaccard và hệ số Spearman để đánh giá sự tiến bộ của hài hòa chuẩn mực giữa bất kỳ hai bộ chuẩn mực kế toán bằng cách đo lường hài hòa chuẩn mực giữa chuẩn mực kế toán Bồ Đào Nha (PAS) và IFRS trong ba giai đoạn của hội tụ kế toán bằng cách sử dụng khoảng cách Euclide, hệ số Jaccard, và hệ số Spearman. Các kết quả đã chứng minh rằng phương pháp hệ số tương quan tốt hơn so với khoảng cách Euclide. Khi khoảng cách Euclide mang lại giá trị tuyệt đối và không phải là dễ dàng để giải thích. Ngược lại, các kết quả thu được từ việc đánh già hài hòa bằng hệ số Jaccard có thể được giải thích cả về quá trình (tăng kết quả theo thời gian biểu thị tiến hài hòa chuẩn mực) và vào một thời điểm cụ thể.
Việc tính toán hệ số tương quan Spearman tăng cường các kết quả và cung cấp thêm bằng chứng về những tiến bộ đạt được bởi sự hội tụ PAS với IFRS. Việc sử dụng các hệ số này có thể đánh giá những điểm tương tự của các chuẩn mực giữa các quốc gia và có thể thay thế cho các phương pháp không thích hợp trong việc đo lường sự khác biệt về hài hòa giữa các chuẩn mực. Phương pháp này được cho là áp dụng để phân tích mức độ hội tụ giữa các quy định khác nhau ở các thời điểm khác nhau hoặc giữa các quốc gia với nhau. Nghiên cứu gần đây của Zhang & Qu, 2010 đề xuất một phương pháp mới để đo lường sự hội tụ của hài hòa chuẩn mực kế toán một cách hợp lý hơn và cung cấp nhiều thông tin hơn.
Cách tiếp cận mới dựa vào phân tích cụm mờ để đo lường sự hội tụ hài hòa chuẩn mực kế toán và đưa ra những gợi ý sáng tạo ra liên quan đến các khía cạnh của các mục so sánh, lựa chọn phương pháp đo lường, và các kích thước đo lường. Nghiên cứu “Measuring the convergence of national accounting standards with international financial reporting standards: The application of fuzzy clustering analysis” - Xiaohui Qu, Guohua Zhang. Trên tinh thần toàn cầu hóa nền kinh tế nên hai tác giả của bài nghiên cứu này xét thấy cần có một bộ chuẩn mực kế toán chungđể có thế đi đến con đường hộ tụ kế toán toàn cầu. Để có thể hội tụ kế toán toàn cầu, thiết kế một bộ chuẩn mực kế toán chung chỉ là một trong các nhân tố và với một vai trò quan trọng – hài hòa chuẩn mực kế toán sẽ đảm đương vai trò này nên bài nghiên cứu tập trung đo lường mức độ hội tụ giữa chuẩn mực kế toán Trung Quốc (Thành viên của IASB) và chuẩn mực BCTC quốc tế bằng một phương pháp mới sau khi đánh giá tính hiệu quả của các phương pháp hiện hữu đó là phương pháp phân tích cụm mờ.
Như một ví dụ minh họa, các thành tựu đạt được ở Trung Quốc được đánh giá bằng cách sử dụng phương pháp mới này. Kết quả cho thấy rằng phương pháp mới này có thể đo lường mức độ hội tụ của CMKT quốc gia với IFRS rõ ràng hơn và cung cấp nhiều thông tin hơn.