CHƯƠNG 1 Nghiên cứu về sự hòa hợp kế toán được thực hiện khá nhiều trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, một số công trình nghiên cứu tiêu biểu trong và ngoài nước về mức độ hòa hợp kế toán được trình bày trong chương này và nội dung chi tiết được tóm tắt trong Phụ lục 5 – Tóm tắt các nghiên cứu về hòa hợp kế toán trên thế giới và Việt Nam. Các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam được chia làm hai nhóm: nghiên cứu hòa hợp CMKT và nghiên cứu hòa hợp thực tế kế toán. Các nghiên cứu đã được đề cập trong chương này là: Nghiên cứu về hòa hợp thực tế kế toán trên thế giới: Evans và Taylor (1982), Van der Tas (1988), Archer và cộng sự (1995). Nghiên cứu về hòa hợp CMKT trên thế giới gồm: Nair và Frank (1981), Doupnik và Taylor (1985), Rahman và cộng sự (1996), Fontes, Rodrigues và Craig (2005), Ding và cộng sự (2007), Yu và Qu (2009).
Nghiên cứu về hòa hợp CMKT tại Việt Nam được đề cập đến là nghiên cứu của Phạm Hoài Hương (2012), Nguyễn Thị Thu Hiền (2015). Hòa hợp thực tế kế toán và hòa hợp CMKT tại Việt Nam có nghiên cứu của Trần Hồng Vân (2014). Để phục vụ cho mục tiêu của đề tài nghiên cứu này, các nghiên cứu về hòa hợp CMKT được tập trung đề cập theo dòng thời gian nhằm tìm ra phương pháp nghiên cứu phù hợp áp dụng cho đề tài này. Tuy có khá nhiều nghiên cứu về hòa hợp kế toán đã được thực hiện với nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau nhưng sự hòa hợp giữa CMKT quốc tế và Việt Nam về HĐBH vẫn chưa được nghiên cứu tại Việt Nam, thêm vào đó là sự tăng trưởng của thị trường bảo hiểm và sự đặc thù trong kế toán ngành bảo hiểm mà đề tài nghiên cứu này được chọn lựa để thực hiện.
16 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Ngay từ các công trình nghiên cứu đầu tiên về hòa hợp kế toán trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã đề cập đến các khái niệm về hòa hợp kế toán để giải thích và làm rõ cho nội dung nghiên cứu. Theo đó, khái niệm về hòa hợp kế toán đã được trình bày trong nhiều nghiên cứu và được chia là 2 nhóm: (1) hòa hợp thực tế kế toán và (2) hòa hợp CMKT với hòa hợp về mặt trình bày BCTC và hòa hợp về mặt đo lường. Hòa hợp kế toán 2. Khái niệm về hòa hợp, hội tụ kế toán Hòa hợp (harmonization) là sự kết hợp, sự điều chỉnh của hai hoặc nhiều đối tượng (Van der Tas, 1988, p.
157) Hòa hợp (quá trình) là việc loại bỏ sự đa dạng trong thực tế. Vì vậy, hòa hợp (trạng thái) được biểu hiện bằng việc các công ty áp dụng một hoặc một vài phương pháp sẵn có. Trạng thái đồng nhất bao gồm việc kết hợp của hòa hợp và việc giảm thiểu số lượng phương pháp hiện có. (Tay và Parker, 1990) Hội tụ là hành động tiến đến một điểm, đặc biệt là hướng đến sự hợp nhất hoặc đồng nhất.
Hòa hợp CMKT và hòa hợp thực tế kế toán Theo Van der Tas (1988), Tay và Parker (1990), Qu và Zhang (2010), hòa hợp kế toán gồm hòa hợp thực tế kế toán (BCTC) và hòa hợp CMKT. Hòa hợp CMKT (de jure harmonizition) là sự hòa hợp giữa các quy định, còn hòa hợp thực tế kế toán (de facto harmonization) là sự tương đồng của thông tin tài chính khi các công ty sử dụng các tiêu chuẩn kế toán giống hay khác nhau. Hòa hợp về trình bày thông tin và hòa hợp về đo lường Hòa hợp chuẩn mực liên quan đến mức độ trình bày thông tin hoặc phương pháp kế toán được áp dụng. Hòa hợp về trình bày các thông tin trên BCTC được gọi là hòa hợp về sự trình bày, còn hòa hợp về phương pháp kế toán được gọi là hòa hợp về đo lường.
(Van der Tas, 1988, p. 158) 17 Tổng hợp từ các khái niệm đã trình bày, hòa hợp kế toán được xem là việc giảm thiểu các khác biệt trong thực tế bằng việc áp dụng một hoặc một vài phương pháp sẵn có, tiến tới trạng thái đồng nhất trong việc áp dụng kế toán trên thế giới. Hòa hợp CMKT là sự đồng nhất trong việc áp dụng các nguyên tắc, phương pháp kế toán (hòa hợp về mặt đo lường) và trình bày thông tin (hòa hợp về mặt trình bày) theo một chuẩn mực chung. Chuẩn mực chung này có thể được áp dụng toàn bộ hoặc một phần tùy theo điều kiện áp dụng của từng thực thể và được gọi là mức độ hòa hợp CMKT.
Các quy định kế toán của chuẩn mực chung được một thực thể áp dụng càng nhiều thì mức độ hòa hợp CMKT càng cao và ngược lại. Tiến trình phát triển của hòa hợp kế toán 2. Tiến trình hòa hợp kế toán trên thế giới Hòa hợp kế toán quốc tế được thực hiện từ những năm 1973 khi IASC được thành lập. Từ đó đến nay, nhiều quốc gia đã và đang vận dụng CMKT quốc tế trong các hoạt động kế toán của mình.
Từ năm 2005, hệ thống IAS/IFRS đã được áp dụng một cách phổ biến ở 65 quốc gia ở Châu Âu, Úc, Nam Phi, Trung Quốc, các nước Đông Nam Á… Kết quả điều tra đối với 173 quốc gia của công ty kiểm toán Deloitte (2010) cũng đã cho thấy 123 quốc gia bắt buộc và yêu cầu áp dụng CMKT quốc tế. Trong một khảo sát về việc áp dụng chuẩn mực BCTC quốc tế của IASB thực hiện năm 2013 đối với 81 nước gồm các quốc gia trong nhóm G-20 và 61 quốc gia khác, kết quả nhận được là 14/20 nước trong nhóm G-20 yêu cầu áp dụng toàn bộ chuẩn mực BCTC quốc tế cho thị trường vốn, các nước còn lại trong nhóm G-20 (Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Saudi Arab) chỉ áp dụng chuẩn mực BCTC có chọn lọc. Nhìn chung, có 70/81 quốc gia được khảo sát áp dụng toàn bộ hoặc một phần chuẩn mực BCTC quốc tế. Tùy theo sự khác biệt về đặc điểm kinh tế, pháp luật, văn hóa… của từng quốc gia mà CMKT quốc tế được áp dụng một cách khác nhau, có thể kể đến sự hòa hợp kế toán quốc tế tại một số nước như sau: - Các nước Châu Âu: bắt đầu dùng IAS/IFRS cho các BCTC hợp nhất từ năm 2005 tại các công ty có niêm yết, ngoài ra các công ty khác cũng được khuyến 18 khích áp dụng.
Khảo sát của IASB năm 2013 cho thấy có 27 nước thuộc EU yêu cầu áp dụng chuẩn mực BCTC quốc tế cho các công ty niêm yết. - Mỹ: chưa quy định các công ty trong nước lập BCTC theo IFRS, còn các công ty tư nhân nước ngoài được phép dùng IFRS để lập BCTC. Năm 2008, Mỹ quyết định chính thức về việc áp dụng IAS/IFRS. Đến tháng 07/2012, Mỹ xem xét lại toàn bộ quá trình hội tụ trước khi ra quyết định cuối cùng về hội tụ CMKT Mỹ và chuẩn mực BCTC quốc tế nên việc hội tụ giữa hai bộ CMKT này bị hoãn lại và chưa có kế hoạch nào thực hiện tiếp theo.
Việc trì hoãn này gây ảnh hưởng đến quá trình hội tụ của một số quốc gia khác như Nhật Bản, Singapore…để theo dõi diễn biến tiếp theo. - Úc: Năm 2005, Ủy ban CMKT Úc (AASB) ban hành Australian GAAP (A- IFRS) dựa trên cơ sở thông qua toàn bộ IAS/IFRS. Các công ty niêm yết và các doanh nghiệp khác đều phải áp dụng IFRS, ngoại trừ những công ty rất nhỏ không niêm yết không bắt buộc phải áp dụng. Mặc dù Úc áp dụng toàn bộ IAS/IFRS nhưng vẫn điều chỉnh một số nội dung nhất định để phù hợp với đặc điểm riêng của Úc.
- Trung Quốc: Trung Quốc bắt đầu xây dựng CMKT từ năm 1988. Sau đó, trước xu hướng hội tụ với kế toán quốc tế, CMKT mới của Trung Quốc được thiết lập trên cơ sở IAS/IFRS gồm 38 CMKT và bắt đầu có hiệu lực từ 01/01/2007. Các doanh nghiệp ở Trung Quốc lập BCTC theo CMKT Trung Quốc được xây dựng trên cơ sở vận dụng có chọn lọc CMKT quốc tế. Tuy nhiên theo thực tế, các doanh nghiệp Trung Quốc vẫn thực hiện chính sách kế toán doanh nghiệp thay vì áp dụng theo CMKT đã được ban hành.
Trước sức ép về việc hội tụ kế toán quốc tế từ các tổ chức quốc tế, Trung Quốc đã xây dựng một lộ trình về hội tụ một cách toàn diện và bắt buộc các doanh nghiệp quy mô lớn phải thực hiện theo CMKT từ năm 2012. - Các quốc gia Đông Nam Á như Indonesia, Malaysia, Việt Nam, Thái Lan…cũng đã vận dụng chuẩn mức kế toán quốc tế nhưng có sự điều chỉnh phù hợp với đặc điểm riêng của từng nước. Bên cạnh đó, cũng có quốc gia như 19 Phillipines…đã chấp nhận áp dụng toàn bộ IAS/IFRS và hầu như không có bất kỳ điều chỉnh nào. Tiến trình hòa hợp kế toán tại Việt Nam CMKT Việt Nam được ban hành từ những năm 2000 đến năm 2005 và được xây dựng dựa trên cơ sở CMKT quốc tế theo nguyên tắc chọn lọc, phù hợp với đặc điểm kinh tế của Việt Nam và tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước, góp phần nâng cao tính minh bạch, có thể so sánh được của BCTC và hướng đến hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu.
Đến thời điểm hiện tại, Việt Nam đã ban hành 26 CMKT (Phụ lục 1), tuy nhiên, các chuẩn mực này vẫn chưa thực sự hòa hợp cũng như chưa cập nhật những thay đổi của CMKT quốc tế. Do đó, giữa VAS và IAS/IFRS còn tồn tại những điểm khác biệt, trong đó chủ yếu là sự khác nhau trong vấn đề sử dụng các xét đoán, ước tính đối với khai báo thông tin và cơ sở đo lường tài sản theo giá trị hợp lý. Để tiến tới hội tụ với kế toán quốc tế, Bộ Tài Chính đã triển khai kế hoạch về hoàn thiện khung pháp lý của chuẩn mực BCTC bằng việc xây dựng đề án áp dụng IFRS tại Việt Nam cũng như sửa đổi, ban hành VAS/chuẩn mực BCTC Việt Nam theo các giai đoạn như sau: - Giai đoạn 2017 – 2018: Soạn thảo nội dung cho VAS/chuẩn mực BCTC Việt Nam, thảo luận lấy ý kiến đóng góp về các nội dung dự thảo, đồng thời khảo sát về khả năng áp dụng và các yếu tố tác động đến việc áp dụng vào thực tế. Sau đó, một số đơn vị sẽ được lựa chọn để thí điểm.
- Giai đoạn 2018 – 2020: Một số CMKT đơn giản và phù hợp với điều kiện của Việt Nam sẽ được lựa chọn để áp dụng cho tất cả đơn vị có lợi ích công chúng từ năm 2020. Trong giai đoạn này, văn bản hướng dẫn thực hiện CMKT sẽ được ban hành.