Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC GIAO TIẾP CÓ VĂN HÓA CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Khái niệm hành vi giao tiếp có văn hóa 1. Khái niệm văn hóa Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa về khái niệm văn hóa. Nhưng dù được hiểu theo nghĩa nào, văn hóa vẫn là một khái niệm quan trọng, liên quan mật thiết đến mọi mặt của đời sống con người.
Theo quan điểm của UNESCO, “Văn hóa là tập hợp các đặc trưng tiêu biểu về tinh thần, vật chất, tri thức và xúc cảm của xã hội hoặc một nhóm người trong xã hội; văn hóa không chỉ bao gồm văn học và nghệ thuật, mà còn cả phong cách sống, phương thức chung sống, các hệ giá trị, truyền thống và niềm tin”. Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam - Bộ GD&ĐT xuất bản năm 1998, “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần con người tạo ra trong lịch sử; là đời sống tinh thần của con người; là tri thức khoa học, trình độ học vấn; là lối sống, các ứng xử có trình độ cao, biểu hiện văn minh”. [35; tr1797] Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu định nghĩa về văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. [17; tr458] Phó Giáo sư, Viện sĩ Trần Ngọc Thêm đã xây dựng khái niệm văn hóa dựa trên đặc trưng cơ bản của nó: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động 12 thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”. [28; tr8] Như vậy, có nhiều cách biểu đạt văn hóa với quan niệm rộng hẹp khác nhau tùy theo cách tiếp cận vấn đề. Trong đề tài này, chúng tôi lựa chọn khái niệm của Đại từ điển Tiếng Việt để đưa ra khái niệm văn hóa vì khái niệm này phù hợp với việc nghiên cứu giáo dục HVGTCVH cho HS tiểu học trong nhà trường: “Văn hóa là sự kết tinh những giá trị vật chất và tinh thần của con người trong lịch sử; là nhận thức, tư tưởng, thái độ, trách nhiệm….
và các quy tắc ứng xử của mỗi người đối với bản thân, gia đình và xã hội. Khái niệm hành vi Hành vi là toàn bộ nói chung những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định. [23; tr423] Trong giáo dục, chúng ta thường quan tâm đến hành vi đạo đức. Đó là một hành động tự giác được thúc đẩy bởi một động cơ có ý nghĩa về mặt đạo đức.
Khi đánh giá một người có hành vi đạo đức hay không, chúng ta không chỉ xem xét hành vi của họ, có phù hợp với các tiêu chuẩn đạo đức xã hội hay không, mà còn phải xem xét động cơ của họ, đúng hay sai, tích cực hay tiêu cực. Tương tự như việc giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ, điều quan trọng là thúc đẩy các hoạt động có đạo đức cao và phù hợp với các chuẩn mực đạo đức xã hội. Như vậy, hành vi là cách ứng xử của con người đối với một sự kiện, sự vật hoặc hiện tượng trong một hoàn cảnh, tình huống cụ thể, được thể hiện bằng lời nói, cử chỉ hoặc hành động nhất định. Khái niệm giao tiếp Trong quá trình nghiên cứu xuất hiện nhiều định nghĩa khác nhau về giao tiếp, mỗi định nghĩa đều dựa trên một quan điểm riêng và có hợp lí riêng của nó.
Tác giả Nguyễn Quang Uẩn định nghĩa: “Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người và người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau.Bueva cho rằng: "Giao tiếp không chỉ là một quá trình tinh thần mà còn là quá trình vật chất, quá trình xã hội, trong đó diễn ra sự trao đổi hoạt động, kinh nghiệm, sản phẩm của hoạt động.” [25; tr10] Tác giả Trần Quốc Thành quan niệm: “Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lí giữa người với người, thông qua đó con người trao đổi thông tin, cảm xúc, nhận thức lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại cùng nhau”. [27; tr10] Như vậy, giao tiếp là quá trình tác động qua lại giữa con người với con người, thể hiện sự tiếp xúc tâm lí giữa người với người, thông qua đó, con người trao đổi thông tin, trao đổi cảm xúc, tác động và ảnh hưởng qua lại với nhau. * Giao tiếp có vai trò quan trọng trong sự hình thành phát triển tâm lí người - Giao tiếp là điều kiện tồn tại của cá nhân và xã hội loài người. Nhu cầu giao tiếp là một trong những nhu cầu xã hội cơ bản, xuất hiện sớm nhất ở con người.
- Nhờ giao tiếp, con người tham gia các mối quan hệ xã hội. - Thông qua giao tiếp con người năng lực, tự ý thức. Quá trình giao tiếp để đạt được hiệu quả cao phải tính đến các yếu tố tham gia trong giao tiếp như: chủ thể giao tiếp, mục đích giao tiếp, nội dung giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp. Khái niệm hành vi giao tiếp Tác giả Vũ Gia Hiền định nghĩa: “Hành vi giao tiếp là một chuỗi hành động được thúc đẩy bởi mục đích muốn thỏa mãn nhu cầu giao tiếp.” Như vậy, hành vi giao tiếp là hành động, cách cư xử biểu hiện quá trình tác động qua lại giữa con người với con người, hành vi thể hiện sự tiếp xúc tâm lí giữa người với người, để trao đổi cảm xúc, tác động qua lại với nhau.
Những yếu tố tác động đến hành vi giao tiếp: - Yếu tố di truyền, bẩm sinh: là tiền đề vật chất của sự phát triển tâm lí và nhân cách. Tác động đến sự phát triển về thể chất, tâm lý, trí tuệ và đời sống của con người. Đó là nguồn gốc sâu xa ảnh hưởng đến hành vi giao tiếp. - Yếu tố môi trường: Tác động mạnh mẽ đến hành vi giao tiếp.
Môi trường tạo ra ngữ cảnh và điều kiện mà hành vi giao tiếp có thể diễn ra, và nó có thể ảnh hưởng đến cách mọi người tương tác và trao đổi thông tin với nhau. 14 - Ảnh hưởng của cảm xúc và suy nghĩ về hành vi: Đây là yếu tố quan trọng và quyết định tính chất của hành vi giao tiếp. Cảm xúc và suy nghĩ có thể tạo ra tình trạng tâm trạng khác nhau trong suy nghĩ và hành vi của một người. Khi một người cảm thấy vui vẻ và hạnh phúc, họ có thể có xu hướng giao tiếp một cách tích cực và hoà đồng hơn.
Ngược lại, khi họ cảm thấy tức giận hoặc buồn chán, họ có thể giao tiếp một cách tiêu cực. Khái niệm hành vi giao tiếp có văn hóa Văn hóa giao tiếp là một bộ phận trong tổng thể văn hóa nhằm chỉ quan hệ giao tiếp có văn hóa của mỗi người trong xã hội (giao tiếp một cách lịch sự, thái độ thân thiện, cởi mở, chân thành, thể hiện sự tôn trọng nhau .), là tổ hợp của các thành tố: lời nói, cử chỉ, hành vi, thái độ, cách ứng xử… Hành vi giao tiếp có văn hóa (HVGTCVH) là những biểu hiện cụ thể bề ngoài được điều khiển bởi cấu trúc tâm lý bên trong của chủ thể, chứa đựng những giá trị và chuẩn mực văn hóa, được thực hiện theo quy tắc ứng xử của xã hội thông qua lời nói và cử chỉ trong các mối quan hệ hằng ngày. Tác giả Nguyễn Quang Uẩn quan niệm: “Hành vi giao tiếp có văn hóa là một loại hành vi văn hóa, hành vi đạo đức của con người biểu hiện cách giao tiếp của con người chứa đựng các giá trị văn hóa chuẩn mực mà cốt lõi là các giá trị đạo đức và thẩm mỹ, được thực hiện theo những quy tắc giao tiếp ứng xử xã hội, thông qua cung cách hành vi, cử chỉ cách nói viết và những kĩ năng giao tiếp, tuân theo các chuẩn mực văn hóa xã hội.” [34; tr5] - HVGTCVH là hành vi giao tiếp với một số đặc điểm như: + Được thực hiện bởi các chủ thể có ý thức, có đạo đức, có văn hóa. + Được biểu hiện qua cử chỉ, cung cách, hành vi, lời nói, cách viết của con người.
+ Chịu sự quy định của các chuẩn mực xã hội, được xây dựng từ hệ thống những giá trị xã hội cho một nền văn hóa được lựa chọn để định hướng. - Cấu trúc HVGTCVH bao gồm ba yếu tố cơ bản có quan hệ mật thiết với nhau, tạo nên một chỉnh thể điều chỉnh hành vi giao tiếp: 15 + Yếu tố nhận thức: cá nhân hiểu ý nghĩa các chuẩn mực, nắm được các quy tắc thực hiện các hành vi giao tiếp đã được xã hội thừa nhận; hiểu rõ và có ý thức về các chuẩn mực xã hội cần tuân thủ trong quá trình giao tiếp với người khác. + Yếu tố tình cảm: cá nhân tin tưởng và mong muốn thực hiện các chuẩn mực giao tiếp phù hợp với yêu cầu xã hội, rung động trước những HVGTCVH, trước những cách cư xử đẹp. + Yếu tố ý chí, thói quen: cá nhân biết lựa chọn, sử dụng các phương tiện giao tiếp một cách đúng đắn, linh hoạt và sáng tạo phù hợp với từng đối tượng, hoàn cảnh và mục đích giao tiếp.
- HVGTCVH biểu hiện ở các nhóm giá trị sau: + Nhóm giá trị trong quan hệ với người khác: với cha mẹ, anh chị em trong gia đình, với thầy cô giáo, với người lớn, với bạn, với các em nhỏ.; + Nhóm giá trị trong quan hệ với bản thân; + Nhóm các giá trị trong quan hệ con người với công việc. Các nhóm giá trị nói trên thể hiện ở việc ứng xử lịch sự, lễ phép; có hành vi văn hóa trong quá trình hội thoại; biểu đạt nhu cầu với người khác; thể hiện sự cảm thông, chia sẻ, giúp đỡ người khác; tôn trọng trong giao tiếp.