Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Nguồn gốc Trên thế giới, Giảo cổ lam được phát hiện ở độ cao 200-2.000m so với mặt nước biển, trong các khu rừng thưa và ẩm tại Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Indonexia, Triều Tiên và một số nước châu Á khác. Là loài cây thân leo, sinh trưởng quanh năm nhưng tốt nhất vào mừa xuân, cây có khả năng tái sinh từ chồi và hạt.
Ở phương Đông, một số nơi đã sử dụng các loài trong họ Bầu bí để chữa bệnh, nhờ hoạt chất Curcubitacin có trong thân lá. Một số minh chứng cho thấy Curcubitacin là hoạt chất chính có tác dụng ức chế khối u thận, khối u não và các khối u ác tính. Ở khu vực Thái Bình Dương, quả của một số loài trong họ Curcubitaceae được dùng làm lợi tiểu, hạ sốt, giảm viêm nhiễm, chống độc, trị bệnh vàng da, tiểu đường và sử dụng làm thuốc an thần (Đỗ Tất Lợi, 2004). Đặc điểm sinh thái Theo nghiên cứu của các tác giả như Yin, F.
Zhang, et al. (2006) tại Đại học Y Quảng Tây (Trung Quốc) cho thấy, cây Giảo cổ lam là cây ưa ánh sáng tán xạ, sinh trưởng tốt nơi đất ẩm; thân bò lan trên mặt đất và thường leo bằng các tua cuốn, cây tái sinh tự nhiên chủ yếu từ chồi sau khi cắt. Cây giảo cổ lam có thể phát triển ở hầu hết các vùng khí hậu, nhưng tốt nhất là ở các vùng khí hậu mát, ẩm. Khu phân bố tự nhiên có nhiệt độ bình quân là 15,80C, nhiệt độ cao nhất là 31,10C, nhiệt độ thấp nhất là 4,30C.
Tuy nhiên, cây có thể chịu được nhiệt độ cao nhất là 38,90C, thấp nhất là - 6,30C. Cây Giảo cổ lam sinh trưởng, phát triển trên rất nhiều loại đất như đất xít, thoát nước, đất giữ ẩm tốt, giầu dinh dưỡng. Độ ẩm không khí thích hợp trung bình là 75%, hàm lượng nước trong đất 25-40%. Cây Giảo cổ lam là loài thực vật ưa sáng tán xạ, mọc dưới tán rừng nguyên sinh, thứ sinh.
Tác dụng của cây Giảo cổ lam Với thành phần chính là Saponin và Flavonoid thì Giảo cổ lam có những tác dụng đối với sức khỏe như giúp làm giảm cholesterol trong máu, ngăn ngừa xơ vữa động mạch. 4 Một nghiên cứu gần đây đã khẳng định dịch chiết từ cây Giảo cổ lam có tác dụng hoạt hóa men AMPK, một men có vai trò quan trọng trong quá trình điều hòa chuyển hóa năng lượng của cơ thể, làm thúc đẩy quá trình oxy hóa chất béo và tăng cường chuyển hóa đường, đạm, mỡ trong cơ thể giúp cải thiện tình trạng béo phì. Một thử nghiệm trên chuột cho thấy khi dùng dịch chiết Giảo cổ lam với mức liều 150, 300 mg/kg cân nặng, sau 8 tuần điều trị thì trọng lượng cơ thể giảm đi 5,7% và 7,7% so với thời điểm ban đầu. Nghiên cứu của nhóm tác giả Sun, W.
Sha, et al. (1993) cũng khẳng định tác dụng làm giảm cholesterol toàn phần trong máu, triglycerid, LDL (một loại cholesterol xấu trong máu, loại cholesterol này làm tăng nguy cơ xuất hiện các mảng xơ vữa động mạch và các bệnh tim mạch như nhồi máu cơ tim, đột quỵ.) trên mô hình động vật thí nghiệm. Theo kết quả của nghiên cứu này thì khi sử dụng Giảo cổ lam làm giảm lượng triglycerid trong máu 85%, cholesterol toàn phần 44%, tác dụng này gần như tương đương với atorvastatin, là thuốc được ưu tiên lựa chọn hàng đầu cho bệnh nhân rối loạn mỡ máu hiện nay. Sở dĩ Giảo cổ lam làm hạ mỡ máu mạnh là do các chất saponin hàm lượng cao trong Giảo cổ lam đã “tóm lấy các hạt mỡ lơ lửng trong mạch máu” và kéo chúng vào trong tế bào để cơ thể chuyển hoá thành năng lượng.
Chất saponin trong Giảo cổ lam có đặc tính “tẩy rửa” các chất béo mạnh và làm giảm độ nhớt của máu, do vậy thường xuyên uống Giảo cổ lam sẽ làm trơn láng thành mạch máu, bào mòn dần các mảng xơ vữa bám trong lòng mạch, giúp máu lýu thông dễ dàng hõn, tãng cýờng máu lên não. Đây là lý do Giảo cổ lam giúp tỉnh táo, sảng khoái, giúp dễ ngủ và ngủ sâu giấc. Ngoài ra, Giảo cổ lam còn có tác dụng ổn định huyết áp, phòng ngừa các biến chứng và tai biến về tim mạch, não. Điều trị những bệnh lý do thiếu máu não, tăng cường máu lên não, ngăn ngừa chứng đãng trí ở người cao tuổi.
Giảm mệt mỏi, căng thẳng, tăng lực, tăng khả năng làm việc. Tăng cường miễn dịch, sức đề kháng của cơ thể, phòng chống bệnh tật về lâu dài, nâng cao tuổi thọ. Ngăn ngừa, phòng chống ung thư, ức chế sự hình thành và phát triển tế ung thư. Chống oxy hóa mạnh, làm chậm quá trình lão hóa giúp thanh nhiệt, giải độc, dùng điều trị và phòng chống mụn nhọn, nám da.
Tăng khả năng giải độc gan, làm hạ men gan, điều chỉnh rối loạn chuyển hóa mỡ, hỗ trợ điều trị gan nhiễm mỡ, giảm béo (WHO, 2003). Kỹ thuật trồng cây Giảo cổ lam Để đạt được năng suất cao, chất lượng tốt với cây trồng ngoài việc cung cấp đầy đủ các nguyên tố dinh dưỡng ra còn phải cung cấp cân đối và kịp thời các nguyên tố dinh dưỡng. Theo nghiên cứu của tác giả Papadopoulos (1998) cho thấy, lượng đạm tổng số và nitrat ở phiến lá và cuống lá sẽ cao hơn khi bón thêm đạm. Còn với Kaska and Gezerel (1983) giới thiệu thí nghiệm của mình và chỉ rõ hiệu lực của các dung dịch phân bón như Bayfolan, haxal, wuxal - 3, wuxal - 5 và phân ure, dinh dưỡng được hấp thụ của giống Tioga, Atiso và Hocahontas ở vùng Cukuro của Thổ nhĩ kỳ.
Thí nghiệm này đã tìm thấy các dạng đạm, lân, kali và magie được hấp thụ tăng theo các dạng phân bón (Takemoto, T. Arihara, et al, 1983). Theo Cutcliffe and Blatt (1984) cho rằng lượng đạm tập trung ở lá trên giống Redcoat trong thời kỳ ra hoa ở mức từ 1,4 đến 2,0% và lượng đạm bón bổ sung đạt cao nhất trong 6 tuần và sau đó lượng đạm có hiệu quả với lá trong vụ thứ nhất (WHO, 2003). Nghiên cứu của Takemoto, T.
Arihara, et al. (1983) cho thấy, liều lượng bón và loại phân bón có ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất của cây Giảo cổ lam, kết quả nghiên cứu cho thấy tốc độ sinh trưởng của cây tăng 1,5 lần so với công thức đối chứng khi không sử dụng phân bón hữu cơ. Như vậy, điểm qua những nghiên cứu trên Thế giới về dược liệu nói chung và loài Giảo cổ lam nói riêng cho thấy, Giảo cổ lam là loài cây lâm sản ngoài gỗ đa tác dụng, vừa được dùng làm thức ăn vừa được dùng làm thuốc chữa bệnh. Đây là nhân tố quan trọng trong việc quyết định sự thành công của việc phát triển loài cây này, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội cũng như bảo vệ và quản lý rừng bền tại tỉnh Bắc Kạn, góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo cho người dân địa phương, bảo tồn và phát triển loài cây này tại khu vực nghiên cứu trong tương lai.
Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 1. Nguồn gốc Ở Việt Nam, năm 1997 tác giả Phạm Thanh Kỳ (ĐH dược Hà Nội) đã phát hiện cây Giảo cổ lam trên núi Phan-xi-păng (Lào Cai) và được Vũ Văn Chuyên (ĐH dược Hà Nội) xác định đúng là loại Gynostemma pentaphyllum Thunb (Nguyễn Bá Hoạt, 2005). Trong đợt nghiên cứu, khảo sát nguồn dược liệu ở các vùng núi cao phía Bắc, cán bộ thuộc Trung tâm nghiên cứu cây thuốc Việt nam cùng với Phạm Thanh Kỳ đã phát hiện một quần thể cây Giảo cổ lam mọc hoang dại với trữ lượng lớn tại vùng núi cao thuộc huyện Mèo Vạc - Hà Giang và huyện Bảo Lạc - Cao Bằng (Ngô Tuấn Vinh, 2010). Việc phát hiện quần thể cây Giảo cổ lam tại vùng núi Cao Bằng và Hà Giang đã chứng tỏ sự đa dạng về nguồn tài nguyên cây thuốc ở các tỉnh miền núi nước ta.
Kết quả giám định loài Giảo cổ lam nằm trong hệ thống phân loại thực vật như sau: Ngành hạt kín: Angiospermae. Lớp hai lá mầm: Dicotylenodae. Bộ thực vật: Bầu bí Curcubitales. Họ thực vật: Bầu bí Curcbitaceae.
Loài Giảo cổ lam 5 lá chét: Gynostemma pentaphyllum (Thunb. Loài Giảo cổ lam 7 lá chét: Gynostemma pubescens (Gagnep) C. Trong họ Bầu bí (Curcubitaceae) có tổng số gần 90 chi, trên dưới 700 loài, trong đó có khoảng 50 loài có tác dụng chữa bệnh được sử dụng trong đông y. Các loài thực vật trong họ Bầu bí có một số đặc điểm chính như thân có các tua cuốn, phần lớn lá có chia thùy, có lông tuyến.
Hoa thật, cánh hoa màu vàng hay trắng, quả dạng bầu bí (Viện dược liệu, 2005). Đặc điểm sinh thái Theo Phạm Thanh Kỳ (ĐH dược Hà Nội) cây Giảo cổ lam sinh trưởng tốt nơi ánh sáng yếu (ánh sáng tán xạ) và đất ẩm hoặc hơi chịu bóng; thường leo trùm lên các tảng đá, hay những cây bụi, dây leo khác ở ven rừng thưa; tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt, và mọc chồi nhiều từ các phần còn lại sau khi cắt. Cây Giảo cổ lam là cây ưa ẩm, ưa bóng điển hình, vì vậy ánh sáng là yếu tố quan trọng đầu tiên được cân nhắc trong quá trình trồng trọt. Cây giảo cổ lam có thể phát triển ở hầu hết các vùng khí hậu, nhưng tốt nhất là ở các vùng khí hậu mát, ẩm.
Khu phân bố tự nhiên có nhiệt độ bình quân là 16,10C, nhiệt độ cao nhất là 28,80C, nhiệt độ thấp nhất là 3,60C. Tuy nhiên, cây có thể chịu được nhiệt độ cao nhất là 39,70C, thấp nhất là - 9,60C. Về yếu tố đất đai, cây có thể sinh trưởng, phát triển trên rất nhiều loại đất như đất cát, đất mùn, đất thịt. Đất trồng cần thoát nước tốt nhưng phải giữ được ẩm, đất giàu dinh dưỡng, đặc biệt là đạm.
Độ ẩm không khí thích hợp trung bình là 78% (Chu Thị Thơm và cộng sự, 2006). Tác dụng của cây Giảo cổ lam Những đánh giá bước đầu về tác dụng làm giảm cholesterol máu đã được tác giả Phạm Thanh Kỳ công bố trên tạp chí Dược liệu (2000) khi tiến hành thử nghiệm trên chuột đã gây rối loạn mỡ máu bằng chế độ ăn giàu lipid, kết quả cho thấy khi uống Giảo cổ lam trong 30 ngày làm giảm cholesterol toàn phần 71% so với nhóm không sử dụng dược liệu này. Kết quả này là cơ sở khoa học khẳng định tác dụng làm giảm mỡ máu của Giảo cổ lam (Viện dược liệu, 2000). Ngoài ra Giảo cổ lam có tác dụng hạ đường huyết trên chuột nhắt trắng.
Trên chuột đái tháo đường di truyền, liều uống 500 mg/kg làm hạ đường huyết 22%, liều 1000 mg/kg làm hạ tối đa 36%.