Đặt vấn đề Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất chủ yếu không thay thế được của nông nghiệp, lâm nghiệp, là địa bàn để phân bố các khu dân cư, các công trình kinh tế, văn hóa, xã hội và các công trình an ninh quốc phòng. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng về lương thực, thực phẩm, chỗ ở cũng như các nhu cầu về văn hóa xã hội. Con người đã tìm mọi cách để khai thác đất đai để thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng đó. Như vậy đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp mặc dù hạn chế về diện tích (10,13 triệu ha (năm 2011)), bình quân đất nông nghiệp của nước ta vào loại cao nhưng lại có nguy cơ suy thoái ngày càng cao dưới tác động của thiên nhiên, của sức ép dân số và do sử dụng đất chưa hợp lý kéo dài.
Đó còn chưa kể đến sự suy giảm về diện tích đất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ, trong khi khả năng khai hoang đất mới lại hạn chế. Do vậy việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp từ đó lựa chọn các loại hình sử dụng đất có hiệu quả để sử dụng hợp lý theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề mang tính toàn cầu đang được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm. Đối với một nước có nền nông nghiệp chủ yếu như Việt Nam, nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Lê Lai là xã vùng II, thuộc huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng, cách trung tâm thị trấn 1,5km có diện tích tự nhiên là 3.239,32 ha trong đó diện tích đất nông nghiệp là 2.890,83 ha , địa hình phức tạp gây khó khăn cho công tác quản lý của các ban ngành.
Người dân sống chủ yếu bằng sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực trồng trọt cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả., xã Lê Lai có cơ cấu cây trồng như: lúa, ngô, đậu n 2 tương, mía, thuốc lá…. Vì vậy, làm thế nào để có thể sử dụng hiệu quả diện tích đất nông nghiệp hiện có trên địa bàn là vấn đề đang được các cấp chính quyền quan tâm nghiên cứu để xây dựng cơ sở cho việc đề ra các phương án chuyển dịch cơ cấu cây trồng một cách hợp lý nhất, nhằm đem lại hiệu quả sử dụng đất cao nhất có thể. Việc tiến hành đánh giá hoạt động sử dụng đất nông nghiệp là cơ sở khoa học cần thiết nhằm xây dựng chiến lược khai thác tối đa nguồn tài nguyên đất nông nghiệp. Để phục vụ cho quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý trên đất nông nghiệp thuộc địa bàn xã Lê Lai là việc làm cần thiết, quan trọng, đặc biệt trong thời điểm mà Đảng, Nhà nước và nhân dân đang nỗ lực chung tay xây dựng nông thôn mới.
Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại xã Lê Lai, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng. Mục tiêu chung - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của xã Lê Lai, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng - Đề xuất những giải pháp kinh tế kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn nghiên cứu. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá được điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Lê Lai, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng. - Đánh giá được thực trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2011 - 2013 của xã.
- Đề xuất được giải pháp khắc phục chủ yếu giúp các cơ quan quản lý có cơ sở để quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn trên cơ sở sử dụng có hiệu quả của đất nông nghiệp. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa học tập - Củng cố kiến thức đã được tiếp thu trong nhà trường và những kiến thức thực tế cho sinh viên trong quá trình thực tập tại cơ sở. - Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập và xử lý thông tin của sinh viên trong quá trình làm đề tài.
- Sinh viên hiểu biết phương pháp học, làm việc và nghiên cứu khoa học. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ đóng góp một phần vào việc đánh giá sát thực hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của người dân. Qua đó giúp người dân có cơ sở để có thể tiếp tục phát triển mở rộng hoạt động sản xuất trên đất nông nghiệp và đưa ra phương hướng để nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã. Đồng thời là cơ sở cho các nhà lãnh đạo địa phương có căn cứ để đưa ra những định hướng sử dụng đất nói chung và sử dụng đất nông nghiệp nói riêng của thị trấn một cách hợp lý và có hiệu quả.
n 4 Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 2. Khái niệm đất nông nghiệp a, Khái niệm đất đai Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng. [6] b, Khái niệm đất nông nghiệp Đất nông nghiệp là đất được sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng. Theo Luật đất đai năm 2003, đất nông nghiệp được chia ra làm các nhóm đất chính sau: đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác.
Phân loại đất nông nghiệp - Việc phân loại tiêu chuẩn theo FAO - Tổ chức Nông lương của Liên Hiệp Quốc thì phân chia đất nông nghiệp vào các thành phần sau đây: + Đất canh tác như đất trồng cây hàng năm, chẳng hạn như ngũ cốc, bông, khoai tây, rau, dưa hấu, loại hình này cũng bao gồm cả đất sử dụng được trong nông nghiệp nhưng tạm thời bỏ hoang (đất hoang hóa, đất thoái hóa). + Vườn cây ăn trái và những vườn nho hay cánh đồng nho (thông dụng ở châu Âu). + Đất trồng cây lâu năm ví dụ như trồng cây ăn quả). n 5 + Cánh đồng, thửa ruộng và đồng cỏ tự nhiên cho chăn thả gia súc.
Tùy thuộc vào việc sử dụng hệ thống tưới tiêu nhân tạo, đất nông nghiệp được chia thành đất có tưới tiêu và không tưới tiêu (thường xuyên). Ở các nước đang khô hạn và bán khô hạn đất nông nghiệp thường được giới hạn trong phạm vi đất tưới tiêu. Đất nông nghiệp cấu thành chỉ là một phần của lãnh thổ của bất kỳ quốc gia, trong đó ngoài cũng bao gồm các khu vực không thích hợp cho nông nghiệp, chẳng hạn như rừng, núi, và các vùng nước nội địa. Đất nông nghiệp bao gồm 38% diện tích đất của thế giới, với diện tích đất trồng đại diện cho ít hơn một phần ba đất nông nghiệp (11% diện tích đất của thế giới).
- Tại Việt Nam, đất nông nghiệp được định nghĩa là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng. Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác. Đất nông nghiệp gồm: + Đất sản xuất nông nghiệp: Là đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp. Bao gồm đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm.
+ Đất lâm nghiệp: Là đất có rừng tự nhiên hoặc có rừng trồng, đất khoanh nuôi phục hồi rừng (đất đã giao, cho thuê để khoanh nuôi, bảo vệ nhằm phục hồi rừng bằng hình thức tự nhiên là chính), đất để trồng rừng mới (đất đã giao, cho thuê để trồng rừng và đất có cây rừng mới trồng chưa đạt tiêu chuẩn rừng). Theo loại rừng lâm nghiệp bao gồm: đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng. + Đất nuôi trồng thuỷ sản: Là đất được sử dụng chuyên vào mục đích nuôi, trồng thuỷ sản, bao gồm đất nuôi trồng nước lợ, mặn và đất chuyên nuôi trồng nước ngọt. n 6 + Đất làm muối: Là đất các ruộng để sử dụng vào mục đích sản xuất muối.
+ Đất nông nghiệp khác: Là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng nhà kính (vườn ươm) và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất, xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép, đất để xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản, xây dựng cơ sở ươm tạo cây giống, con giống, xây dựng nhà kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp. - Theo luật đất đai 2003, nhóm đất nông nghiệp được phân thành các loại sau: + Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác; + Đất trồng cây lâu năm; + Đất rừng sản xuất; + Đất rừng phòng hộ; + Đất rừng đặc dụng; + Đất nuôi trồng thuỷ sản; + Đất làm muối; + Đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ; [7] 2. Ý nghĩa của sử dụng đất nông nghiệp đối với phát triển kinh tế hộ Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, sản xuất nông sản hàng hóa đã đem lại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân. Việc sản xuất ra các nông sản hàng hóa không nhất thiết chỉ là sản xuất lương thực mà còn sản xuất ra nhiều nông sản khác.
Khai thác triệt để tiềm năng đất nông nghiệp là thách thức lớn của Nhà nước. Canh tác được tiềm năng đất nông nghiệp sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân. Đây là nhân tố tạo công ăn việc làm và thu nhập cho n 7 người lao động nông thôn. Như vậy đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp sẽ là nơi cung cấp hàng hóa cho thị trường và cũng nâng cao thu nhập cho người dân.
Có thể sản phẩm ấy phục vụ tại chỗ hay phục vụ chế biến xuất khẩu hoặc là nguyên liệu trong ngành công nghiệp nhẹ.