MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là nền tảng để định cƣ và tổ chức các hoạt động kinh tế xã hội, nó không chỉ là đối tƣợng lao động mà còn là tƣ liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế đƣợc. Đất là cơ sở của sản xuất nông nghiệp, là yếu tố đầu vào có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Trong nền sản xuất nông nghiệp ở nƣớc ta nói chung và ở tỉnh Hà Giang nói riêng, có những đặc điểm chung là sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu, năng suất chất lƣợng còn chƣa cao, khả năng liên kết cạnh tranh trên thị trƣờng và sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp còn chậm.
Thêm vào đó quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, khai thác tài nguyên khoáng sản và sự gia tăng dân số đã gây áp lực mạnh mẽ đến việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất làm cho diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp. Vì vậy, sử dụng đất nông nghiệp một cách đúng đắn bền vững và có hiệu quả là yêu cầu có tính cấp thiết hiện nay. Yên Minh là một huyện miền núi vùng cao nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Hà Giang, tổng số đơn vị hành chính của huyện bao gồm 17 xã và 1 thị trấn, với tổng diện tích tự nhiên 78. Phía Bắc giáp nƣớc CHND Trung Hoa; Phía Nam giáp tỉnh Cao Bằng và huyện Bắc Mê; Phía Tây giáp huyện Quản Bạ và Vị Xuyên; Phía Đông giáp huyện Đồng Văn và Mèo Vạc.
Trên địa bàn huyện có quốc lộ 4C chạy qua là tuyến giao thông quan trọng của tỉnh Hà Giang. Trung tâm huỵên cách thành phố Hà Giang 100 km về phía Đông Bắc, Yên Minh vừa là cửa ngõ phía Bắc của tỉnh Hà Giang vừa là một điểm trên trục trung chuyển lớn giữa vùng cao nguyên Đồng Văn - Quản Bạ với Trung Quốc và thành phố Hà Giang. Vị trí đó vừa là lợi thế, vừa là một thách thức đối với huyện Yên Minh trong xu hƣớng hoà nhập nền kinh tế của huyện nói riêng và cả tỉnh Hà Giang nói chung với nền kinh tế của cả nƣớc. Trong những năm qua, cơ cấu kinh tế của huyện có bƣớc chuyển biến mạnh với sự tăng trƣởng nhanh chóng của hai khu vực kinh tế đó là khu vực kinh tế công Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 2 nghiệp - xây dựng và thƣơng mại - dịch vụ, khu vực kinh tế nông, lâm nghiệp cũng có bƣớc tăng trƣởng nhƣng chậm hơn dẫn đến cơ cấu kinh tế có sự thay đổi đó là giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và thƣơng mại - dịch vụ.
Tuy nhiên, thực trạng phát triển kinh tế - xã hội thời gian qua cùng với những dự báo về gia tăng dân số, xu thế công nghiệp hoá, đô thị hoá nông thôn và mức độ phát triển hạ tầng cơ sở, khai thác khoáng sản… đòi hỏi một quỹ đất không nhỏ, tất yếu sẽ gây ra áp lực rất lớn đến việc sử dụng đất, làm xáo trộn mạnh mẽ cơ cấu sử dụng thời gian tới. Vì vậy, việc nghiên cứu để đƣa ra các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, đảm bảo an ninh lƣơng thực và giữ gìn đƣợc bản sắc của địa phƣơng là một yêu cầu hết sức quan trọng và cần thiết trong thời gian tới. Xuất phát từ thực tế đó, dƣới sự hƣớng dẫn của TS. Nguyễn Chí Hiểu, tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài: "Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất hướng sử dụng đất phù hợp tại huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang".
Mục tiêu của đề tài * Mục tiêu tổng quát Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang. Từ đó, đề xuất hƣớng sử dụng đất nông nghiệp phù hợp, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đáp ứng yêu cầu tiến tới công nghiệp hoá - hiện đại hoá và phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang. * Mục tiêu cụ thể - Đánh giá những lợi thế và hạn chế của điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội tác động đến sản xuất nông nghiệp của huyện. - Xác định đƣợc yêu cầu và hiệu quả của việc sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu.
- Đề xuất các giải pháp có tính khả thi để đƣa đƣợc các loại hình sử dụng đất nông nghiệp thích hợp vào sản xuất tại huyện Yên Minh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 3 3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền trong việc quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp. Các khuyến cáo về loại hình sử dụng đất phù hợp, cung cấp cho nông dân lựa chọn hợp lý để chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả cao và bền vững.
Kết quả nghiên cứu của đề tài là tƣ liệu khoa học hữu ích cho việc nghiên cứu, tham khảo trong việc giảng dạy, học tập tại các trƣờng, các viện nghiên cứu về lĩnh vực quản lý đất đai. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Một số vấn đề liên quan đến đất nông nghiệp 1.
Sử dụng đất và các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất Sử dụng đất là hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ ngƣời - đất trong tổ hợp với các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trƣờng [7] * Những yếu tố ảnh hƣởng đến việc sử dụng đất - Yếu tố điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thủy văn, tài nguyên nƣớc ảnh hƣởng đến việc sử dụng đất đai. - Yếu tố về kinh tế - xã hội: Cơ cấu kinh tế, dân số, lao động, cơ sở hạ tầng ảnh hƣởng đến sử dụng đất. Khái niệm về Đất và Đất nông nghiệp Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến những khái niệm, định nghĩa về đất. Khái niệm đầu tiên của học giả ngƣời Nga Docutraiep (năm 1886), cho rằng “Đất là một vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập lâu đời do kết quả quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành đất đó là sinh vật, đá mẹ, khí hậu, địa hình và thời gian”.
Tuy vậy, khái niệm này chƣa đề cập đến khả năng sử dụng và sự tác động của các yếu tố khác tồn tại trong môi trƣờng xung quanh. Do đó sau này một số học giả khác đã bổ sung các yếu tố nƣớc của đất, nƣớc ngầm và đặc biệt là vai trò của con ngƣời để hoàn chỉnh khái niệm về đất nêu trên. Ngoài ra, còn có một số học giả khác cũng có những khái niệm về đất nhƣ sau: Học giả ngƣời Anh V.R William đã đƣa ra khái niệm “Đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm cho cây trồng [7] Học giả E.Mitscherlich (1923), cho rằng “Đất chỉ là cái giá đỡ, cái kho cung cấp chất dinh dƣỡng” và “Đất là cái khối hỗn hợp gồm các phân tử nhỏ, cứng rắn, nƣớc, không khí cần thiết cho thực vật”. Các Mác cho rằng “Đất đai là tƣ liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp, điều kiện không thể thiếu đƣợc của sự tồn tại và tái sinh của hàng loạt thế hệ ngƣời kế tiếp nhau”.
Nhƣ vậy, đất đai là một khoảng không gian có giới hạn gồm khí hậu, lớp đất bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nƣớc, nƣớc ngầm và khoáng sản trong lòng đất. Trên bề mặt đất đai là sự kết hợp giữa các yếu tố thổ nhƣỡng, địa hình, thuỷ văn, thảm thực vật cùng với các thành phần khác có vai trò quan trọng và ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất và cuộc sống của xã hội loài ngƣời. Nhƣ Luật đất đai (2003) đã khẳng định: Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tƣ liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trƣờng sống, là địa bàn phân bố các khu dân cƣ, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh và quốc phòng. Còn theo Luật đất đai (2013), “Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp (đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác), đất lâm nghiệp (đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng), đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ".[15] Tại Việt Nam, đất nông nghiệp đƣợc định nghĩa là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng.
Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác. Trong nông nghiệp, đất đai vừa là đối tƣợng lao động, vừa là tƣ liệu lao động. Ở đây, đất đai không chỉ là chỗ đứng, chỗ tựa của lao động mà còn cung cấp thức ăn cho cây trồng và thông qua sự phát triển của trồng trọt tạo điều kiện cho ngành chăn nuôi phát triển. Với nghĩa đó, đất đai là tƣ liệu sản xuất đặc biệt, là cơ sở Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 6 tự nhiên sản sinh ra của cải vật chất cho xã hội.
Ở nƣớc ta với gần 80% dân số làm trong ngành nông nghiệp cho nên vấn đề phát triển nông nghiệp là mặt trận hàng đầu tạo cơ sở vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc. Phân loại đất nông nghiệp Theo luật đất đai 2013 [15], nhóm đất nông nghiệp đƣợc phân thành các loại sau: - Đất trồng cây hàng năm (đất canh tác) là loại đất dùng trồng các loại cây ngắn ngày, có chu kỳ sinh trƣởng không quá một năm. Đất trồng cây hàng năm bao gồm: Đất 3 vụ là đất gieo trồng và thu hoạch đƣợc 3 vụ/năm với các công thức 3 vụ lúa, 2 vụ lúa + 1 vụ màu,… Đất 2 vụ có công thức luân canh nhƣ lúa - lúa, lúa - ngô, ngô - đậu tƣơng,… Đất 1 vụ là đất trên đó chỉ trồng đƣợc một vụ lúa hay một vụ màu/năm.