Chương 1 mô tả khái quát về lý do chọn đề tài và các dữ kiện hiện tại trong công ty liên quan bổ trợ cho lý do chọn đề tài. Đồng thời, đặt ra mục tiêu nghiên cứu, khái quát phương pháp nghiên cứu, trình bài ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 CHƯƠNG 2 CƠ SƠ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm động lực: Động lực là sức mạnh chi phối hành vi, thiết lập hành vi và có xu hướng duy trì. Theo định nghĩa này, để đạt được các mục tiêu cam kết, các cá nhân phải có năng lượng tích cực và hiểu rõ mục tiêu của cá nhân họ và của tổ chức.
Theo Baron (1983), động lực rất quan trọng và cần phải được duy trì để thực hiện khối những công việc để đạt mục tiêu và tham vọng cụ thể. Thêm vào đó, Porter và cộng sự, 1974, đã minh chứng và cho rằng động lực làm tăng khả năng thực hiện công việc và duy trì khả năng đó. Động lực của một cá nhân bao trùm tất cả các động cơ mà anh ta chọn để hoạt động theo một cách tiếp cận xác định. Theo Brooks, 2009, động lực có thể được mô tả như là ý chí, ý thức chủ động thực hiện công việc, thể hiện sự muốn làm mà không cần có sự tác động khác.2 Khái niệm về động lực nhân viên: “Động lực nhân viên” là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng lớn đến hiệu suất của nhân viên.
Hiệu suất làm việc của nhân viên về cơ bản phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đánh giá hiệu suất, sự hài lòngcủa nhân viên trong công việc, phần thưởng, động lực làm việc của nhân viên, sự đào tạo và phát triển, sự an toàn lao động và sự ổn định công việc, cơ cấu tổ”chức.Động lực làm việc nhân viên là một tập hợp các quy trình tổng thể dựa trên sự thôi thúc làm tăng năng lượng tích cực, chi phối hành vi tích cực để hướng đến đạt được mục tiêu cụ thể đặt ra (Baron và cộng sự, 2008). Động lực của nhân viên là một trong những yếu tố quan trọng mà các nhà quản lý quan tâm đưa vào chính sách nhằm để tăng động lực nhân viên. Khi nhân viên có động lực hay năng lượng tích cực, họ sẽ tiếp nhận các mục tiêu với tinh thần tích cực và họ xem như đó là mục tiêu của cá nhân mà họ phải đạt được. Do đó, mọi hành vi, hành động của họ trong công việc đều nhắm đến mục tiêu, phải đạt được mục tiêu.
Nhân viên có động lực sẽ cố gắng hoàn thành công việc được giao ngay cả trong hoàn cảnh vất vả với tinh thần tích cực đó là tinh thần “có thể làm được”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Tổng quan về các nghiên cứu trước a. Theo nghiên cứu của Shukla, 2012, về sự tác động của những yếu tố động lực ảnh hưởng động lực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Theo đó,người lao động mongmuốn nhận được mức thu nhập tương xứng với công sức và khối lượng công việc họ đảm nhận.
Theo Frederick Taylor và cộng sự của ông thì cho rằng tiền là yếu tố cơ bản nhất để thúc đẩy các công nhân công nghiệp đạt được năng suất cao hơn.Nghiên cứu đã đề xuất rằng phần thưởng tạo ra sự hài lòng của nhân viên, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất của nhân viên. Phần thưởng là các công cụ quản lý sẽ đóng góp vào hiệu quả của công ty bằng cách ảnh hưởng đến hành vi của cá nhân hoặc nhóm. Tất cả các doanh nghiệp sử dụng lương, khuyến mãi, tiền thưởng hoặc các loại phần thưởng khác để thúc đẩy và khuyến khích hiệu suất cao của nhân viên. Để sử dụng tiền lương làm động lực hiệu quả, các nhà quản lý phải xem xét các cấu trúc tiền lương rõ ràng theo đề mục, thanh toán theo hiệu suất, phụ cấp cá nhân hoặc đặc biệt, trợ cấp bên lề, lương hưu, v.Lãnh đạo cần phải tạo niềm tin cho nhân viên và phải tạo động lực để nhân viên làm việc với tinh thần “là chủ của doanh nghiệp”.
Mọi tổ chức và doanh nghiệp đều muốn thành công và có mong muốn đạt được tiến bộ không ngừng. Thời đại hiện nay có tính cạnh tranh cao và các tổ chức bất kể quy mô, công nghệ và tập trung thị trường, đang đối mặt với những thách thức giữ chân nhân viên. Để khắc phục những hạn chế này, cần có và duy trì một sự gắn kết mạnh mẽ và tích cực giữa các nhân viên và tổ chức của họ. Nhân sự là một nguồn tài sản vô giá trong nội tại tổ chức vì vậy việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực để nâng cao năng lực làm việc cũng như việc chủ động truyền lửa hay nguồn cảm hứng cho nhân viên tự ý thức hoàn thành nhiệm vụ là một thách thức lớn đối với cấp quản lý của tổ chức.
Động lực của nhân viên là biến độc lập và sẽ được kiểm tra thông qua hai yếu tố, sự công nhận và trao quyền. Biến phụ thuộc là hiệu quả tổ chức. Trao quyền làm cho nhân viên cảm thấy rằng họ được đánh giá cao (Smith, 1997). Theo Pastor, 1996, trao quyền thành công khi mà một cá nhân tự ý thức nhận trách nhiệm, tự ý thức phải nỗ lực và hành động triệt để để thực hiện mục tiêu của tổ chức giao cho, bất kể LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 điều kiện nào, họ không lấy đó làm lý do để chối bỏ trách nhiệm (Amin và cộng sự, 2010).
Sanderson (2003) tin rằng việc trao quyền tạo ra động lực và năng lượng tích cực đối với nhân viên nhằm thúc đẩy để thực hiện công việc của họ hiệu quả. Theo tác giả Reena và cộng sự, 2009, trao quyền cho nhân viên là rất cần thiết hay có thể nói là bắt buộc để nhân viên có động lực liên tục cống hiến cho tổ chức, bên cạnh đó, nhân viên cảm thấy được tôn trọng và được công nhận như là một thành viên thực sự của tổ chức, nhân viên có cảm giác được tin cậy hơn khi được trao quyền. Điều này góp phần hình thành lòng trung thành của nhân viên đối với tổ chức, tạo gắn bó và gia tăng đóng góp cho tổ chức. Đây là yếu tố cốt lõi giúp tổ chức hoạt động hiệu quả.
Singh và cộng sự, 2018, với nghiên cứu sự ảnh hưởng những yếu tố động lực đến sự cam kết của nhân viên về việc hoàn thành công việc. Theo Stamper và cộng sự, 2003, sự thành công hay thất bại của tổ chức có mối quan hệ mật thiết với sự nỗ lực của nhân viên và động lực làm việc của nhân viên. Sự hài lòng của nhân viên bao gồm sự mang lại nhu cầu và mong đợi của nhân viên từ công việc. Sự thỏa mãncủa nhân viên là một phép thử hữu hiệu về sự cam kết hoàn thành công việc của nhân viên, Ryan và cộng sự, 2000,một nhân viên cam kết sẽ tạo ra thêm giá trị cho tổ chức thông qua sự thấu hiểu về trách nhiệm, về năng suất cao và về chất lượng.
Một nhân viên cam kết sẽ thể hiện tinh thần tích cực, hành vi ứng xử phù hợp và làm việc đội nhóm cao hướng đến kết quả, đạt được mục tiêu của tổ chức(Meyer và cộng sự, 2002). Nhân viên được động viên có xu hướng tự ý thức nâng cao kỹ năng để tăng hiệu suất làm việc, sẵn sàng học hỏi để phát triển năng lực hơn những nhân viên không được động viên. Nhân viên được động viên có xu hướng đóng góp cho tổ chức lâu hơn, cố gắng để kết quả thể hiện tốt và tìm tòi những giải pháp sáng tạo để giải quyết vấn đề. Động viên hiệu quả ở nhiều cấp độ khác nhau là cần thiết để thỏa mãn nhân viên và làm cho họ cam kết với tổ chức (Salleh và cộng sự, 2016).
Nhân viên được tạo động lực hiểu được vai trò của họ trong việc thực hiện sứ mệnh, mục tiêu, tầm nhìn của tổ chức. Nhân viên có động lực sẽ cảm thấy ít áp lực trong LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 công việc, yêu công việc và có sức khỏe về tinh thần và thể chất tốt hơn để tạo ra năng lượng tích cực và hạn chế những cảm xúc tiêu cực (Clark, 2003).Nhìn chung, động lực nhân viên chịu sự ảnh hưởng bởi các yếu tố bao gồmsự công nhận, sự thăng tiến và đào tạo, phát triển. Theo tác giả Bulto và cộng sự, 2017, với nghiên cứu sự ảnh hưởng của hệ thống đánh giá thành tích nhân viên đến động lực nhân viên. Hệ thống đánh giá thành tích nhân viên là thực hành quản trị có ảnh hưởng tích cực và đáng kể đến động lực nhân viên.
Hệ thống đánh giá nhân viên rất quan trọng, kết quả được dùng cho các quyết định quan trọng như thăng chức, tăng lương, thưởng, ngưng hợp đồng và các đặc quyền khác. Theo Mullins, 2005, động lực dẫn dắt các nguồn lực để thực hiện mục tiêu. Tuy nhiên, Luthan, 2005, định nghĩa động lực là sự kết hợp giữa 3 yếu tố quan trọng đó là nhu cầu, yếu tố dẫn dắt bao gồm cơ hội phát triển nghề nghiệp, cơ hội thăng tiến, lương, chính sách phúc lợivà thưởng. Nhìn chung, động lực có thể được xem xét theo hai cách bao gồm động lực nội tại (Intrinsic Motivation), trong đó đề cập đến việc một người muốn làm một cái gì đó bởi vì bản thân họ cảm thấylàm điều đó thú vị (Csikszentmihaly và cộng sự, 2005; Ryan cộng sự, 2000) và động lực bên ngoài (Extrinsic Motivation), trong đó đề cập đến việc một người muốn làm một cái gì đó bởi vì có tác động bởi yếu tố bên ngoài.
Theo Taylor, 2003, một nhà lãnh đạo giỏi sẽ biết sử dụng kết hợp yếu tố động lực bên trong và động lực bên ngoài. Theo tác giả Kefey và cộng sự, 2019, với nghiên cứu về sự ảnh hưởng những yếu tố phi tài chính đến động lực làm việc nhân viên. Theo đó, tăng động lực làm việc nhân viên là một trong những chìa khóa để giúp cải thiện hiệu suất làm việc của nhân viên nói riêng và hiệu suất của tổ chức nói chung, theo đó, giúp cải thiện kết quả hoạt động của tổ chức. Trên thực tế, hầu hết các tổ chức đều dùng các công cụ tài chính xem như là công cụ quyền lực nhất để kích thích nhân viên làm việc nhiều hơn”và“để tưởng thưởng khi nhân viên đạt được mục tiêu đặt ra, điều này không sai, tuy nhiên, vô hình chung tạo lối nghĩ mặc định là chỉ có tiền thì họ mới làm tốt công việc được giao, không có động lực khác để phấn đấu.