Tổng quan luận án
Công trình "Nghiên cứu đối chiếu hành động bác bỏ trong tiếng Thái và tiếng Việt" được nghiên cứu sinh Siriwong Hongsawan thực hiện năm 2009 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Phạm Đức Dương. Luận án thuộc chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ, mã số 62 22 01 01.
Về tính cấp thiết, tác giả xác định ngữ dụng học và lý thuyết hành động ngôn từ liên quan đến tiếng Thái và tiếng Việt cho đến thời điểm nghiên cứu chủ yếu mới xuất hiện ở một số luận văn thạc sĩ và một vài luận án tiến sĩ riêng lẻ tại mỗi quốc gia. Mảng nghiên cứu đối chiếu hành động ngôn từ giữa hai ngôn ngữ này còn rất ít tài liệu tham khảo. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và đàm phán kinh tế, bác bỏ là hành động ngôn từ xuất hiện thường xuyên nhưng lại có nguy cơ đe dọa thể diện người đối thoại cao nhất, đòi hỏi người tham gia giao tiếp phải lựa chọn chiến lược phù hợp và sử dụng các biểu thức điều biến để vừa đạt mục tiêu thông tin, vừa duy trì quan hệ xã hội. Khoảng trống nghiên cứu được chỉ ra là sự thiếu vắng một công trình đối chiếu có hệ thống về hành động bác bỏ giữa tiếng Thái và tiếng Việt từ bình diện cấu trúc hình thức đến bình diện ngữ nghĩa - ngữ dụng.
Mục đích và nhiệm vụ của luận án được văn bản phân định thành ba nội dung cụ thể:
- Khảo sát hành động bác bỏ trên cứ liệu tiếng Thái và tiếng Việt.
- Tìm hiểu những nét tương đồng và khác biệt trong cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa của những phát ngôn dùng để thực hiện hành động bác bỏ trong tiếng Thái và tiếng Việt.
- Phân tích ảnh hưởng của phép lịch sự đối với hành động bác bỏ, qua đó đưa ra những nhận xét về cách ứng xử văn hóa và cách thức tư duy của hai dân tộc Thái và Việt được thể hiện qua hành động bác bỏ.
Giả thuyết nghiên cứu của luận án là: Mặc dù tiếng Thái thuộc ngữ hệ Tai-Kadai (Thai Kadai) và tiếng Việt thuộc ngữ hệ Nam Á (Austroasiatic), có diện mạo ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp khác nhau, hành động ngôn từ nói chung và hành động bác bỏ nói riêng trên cứ liệu hai thứ tiếng vẫn tồn tại nhiều nét tương đồng, phản ánh những phương diện chung trong chiến lược giao tiếp.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hành động bác bỏ trong tính toàn diện và nhiều chiều kích của nó (bao gồm cả trường hợp trực tiếp và gián tiếp, các dấu hiệu tường minh ổn định và các dạng thức chuyển hóa). Phạm vi nghiên cứu tập trung vào cứ liệu tiếng Thái và tiếng Việt hiện đại, được thu thập qua phiếu điều tra xã hội học và ngữ cảnh hội thoại thực tế tại hai cộng đồng ngôn ngữ.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án điểm lại hệ thống các công trình nghiên cứu về hành động ngôn từ và ngữ dụng học tại Thái Lan và Việt Nam từ năm 1996 đến thời điểm thực hiện đề tài.
Tại Thái Lan, các công trình ứng dụng lý thuyết hành động ngôn từ gồm có: Thasanee Makthavornvattana (1998) nghiên cứu hành động xin lỗi trong tiếng Thái; Sinee Wanitchanon (1998) nghiên cứu siêu ngữ dụng về hành vi hứa hẹn ở trẻ em Thái; Sareeya Thabthan (2000) nghiên cứu các phương tiện ngôn ngữ trong thẩm vấn tại phiên tòa; Passapong Pewporchai (2002) tìm hiểu cách thức đáp lại lời xin lỗi; Watcharachai Khobluang (2004) khảo sát tính gián tiếp như một chiến lược giao tiếp trong tiếng Nhật; Supasinee Pothiwit (2004) phân tích các chiến lược biểu đạt xung đột trong tiếng Thái.
Trong văn liệu tiếng Việt, các nghiên cứu tiêu biểu được tác giả tổng thuật gồm: Lê Đông (1996) với ngữ nghĩa - ngữ dụng câu hỏi chính danh; Nguyễn Quang (1999) đối chiếu cách khen và nhận lời khen giữa người Việt và người Mỹ; Mai Thị Hảo Yến (2000) khảo sát hội thoại trong truyện ngắn Nam Cao; Đặng Thị Hảo Tâm (2002, 2003) nghiên cứu cơ sở giải nghĩa hàm ẩn của hành vi ngôn ngữ gián tiếp và đặc điểm của hành vi bác bỏ; Nguyễn Phương Chi (2004) nghiên cứu đặc điểm văn hóa ứng xử của hành vi từ chối có đối chiếu tiếng Anh; Trần Chi Mai (2005) khảo sát hành vi từ chối lời cầu khiến trong tiếng Anh và tiếng Việt; Sophana nghiên cứu mô hình câu phủ định chung (S) + NEG + V trong tiếng Thái và tiếng Việt; Nguyễn Thị Kim Dung (2006) nghiên cứu hành động phản bác trong tiếng Việt; Nguyễn Quang Ngoạn (2007) phân loại 26 chiến lược phản bác thường dùng. Ngoài ra còn có các nghiên cứu nền tảng của Nguyễn Đức Dân (1983, 1999, 2000) về câu phủ định bác bỏ, quan hệ cặp thoại và tác tử bác bỏ; Nguyễn Thị Thìn (2003) về dấu hiệu chuyên dụng của câu bác bỏ; Hoàng Phê (1975, 1997, 2003) về tiền giả định và ngữ nghĩa từ điển; Bùi Quang Tịnh (2001) về định nghĩa bác bỏ trong từ điển.
Đánh giá về vị trí học thuật, tác giả chỉ ra rằng công trình của Nguyễn Thị Kim Dung (2006) tuy khảo sát sâu về phản bác nhưng các phương tiện biểu đạt chủ yếu dừng lại ở mức liệt kê, cách phân loại phương thức còn chồng chéo (chẳng hạn coi phản bác trong phương ngữ là nhóm riêng trong khi bản chất là phản bác gián tiếp), đồng thời chưa phân tích đúng bản chất của các phát ngôn mang tính siêu ngôn ngữ hay chơi chữ. Bài viết của Nguyễn Quang Ngoạn (2007) chỉ dừng lại ở việc lập danh mục 26 chiến lược phản bác kèm ví dụ ngắn gọn, chưa giải thích cơ chế bác bỏ qua tiền giả định, hàm ý và ngữ cảnh tương tác. Từ đó, luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: thiết lập một hệ thống phân tích đối chiếu toàn diện về hành động bác bỏ giữa tiếng Thái và tiếng Việt, làm rõ cơ chế vận hành của chiến lược trực tiếp và gián tiếp dựa trên lý thuyết hành động ngôn từ, phân tích hội thoại, tiền giả định, hàm ý và nguyên lý lịch sự.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết, luận án tiếp thu các lý thuyết ngôn ngữ học và ngữ dụng học:
- Lý thuyết Hành động ngôn từ: Xuất phát từ J.L. Austin (1962) với quan điểm phân biệt câu tường thuật và câu ngôn hành, cấu trúc ba hành động đồng thời gồm hành động tạo lời (locutionary act), hành động tại lời (illocutionary act) và hành động mượn lời (perlocutionary act). Tác giả so sánh chi tiết lý thuyết của Austin với sự phát triển của J.R. Searle (1969, 1975) qua quan niệm nói năng là hành động tuân theo quy tắc, phân chia ba hành vi (phát ngôn, mệnh đề, tại lời) và năm nhóm hành động tại lời: biểu kiến (representatives), cầu khiến (directives), kết ước (commissives), biểu cảm (expressives), tuyên bố (declarations), đặc biệt nhấn mạnh hành động ngôn từ gián tiếp.
| Tiêu chí so sánh |
Quan điểm của John L. Austin |
Quan điểm của John R. Searle |
| Công trình tiêu biểu |
How to Do Things with Words (1962) |
Speech Acts (1969) |
| Quan niệm cốt lõi |
Khi tôi nói tức là tôi hành động; chú trọng hiệu quả hành động |
Nói là hành động tuân theo điều kiện và quy tắc |
| Phạm vi khảo sát |
Lời nói trong nghi thức xã hội (đặt tên tàu, lễ cưới...) |
Lời nói trong giao tiếp thường nhật |
| Phân loại hành động |
Tạo lời, tại lời, mượn lời |
Phát ngôn, mệnh đề, tại lời (gồm 5 tiểu loại) |
| Hành động tại lời |
Sự bày tỏ của người nói, không nhất thiết dựa trên tri thức chung |
Chú trọng hành động gián tiếp dựa trên tri thức nền và ngữ cảnh |
- Các công trình phát triển tiếp sau: Manfred Bierwisch (1980) về phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời (IFIDs); Wolfgang Motsch (1980) về quan hệ giữa ngữ cảnh và lực ngôn trung; Francois Recanati (1980) về câu ngôn hành tường minh và chân trị; Daniel Vanderveken (1980) về lô gích hành động tại lời; van Eemeren và Rob Grootendorst (1982) về hành động ngôn từ trong lập luận và sự gắn kết giữa hiệu lực tại lời với hiệu lực mượn lời; Michael L. Geis (1995) về cấu trúc tương tác hội thoại; Andrew Cohen, Michael L. Geis, Linda L., và John L. Graham trong công trình của Gass và Neu (1996) về hành động ngôn từ xuyên văn hóa.
- Lý thuyết Lịch sự của Penelope Brown và Stephen C. Levinson (1987) với các khái niệm thể diện tích cực (positive face), thể diện tiêu cực (negative face) và hành vi đe dọa thể diện (FTA).
- Khái niệm và ranh giới hành động bác bỏ: Tác giả dẫn định nghĩa từ điển của Hoàng Phê ("bác đi, gạt đi không chấp nhận"), Bùi Quang Tịnh ("không nạp, không nhận"), Nguyễn Thị Thìn ("phủ định một lời khẳng định, đoán định, phê phán buộc tội trước đó"), Anna Wierzbicka (1987) ("deny là không đồng ý với ý kiến của người đối thoại vì cho rằng ý kiến đó không đúng"). Luận án phân định rạch ròi hành động bác bỏ và hành động từ chối dựa trên quan điểm của M.A.K. Halliday (1994) về tiểu cú như sự trao đổi: từ chối gắn liền với việc khước từ trao đổi hàng hóa và dịch vụ (goods-&-services) bắt nguồn từ hành vi cầu khiến/đề nghị đi trước; trong khi bác bỏ là sự phủ nhận thông tin trong trao đổi thông tin (information) bắt nguồn từ một nhận định/xác tín đi trước.
- Cặp thoại xác tín - bác bỏ: Theo Nguyễn Đức Dân, cặp thoại xác tín - bác bỏ là đơn vị lưỡng thoại có quy cách chặt chẽ. Đây là cặp thoại không được ưa thích (dispreferred pair) vì người nói chờ đợi sự đồng thuận nhưng lại nhận về sự phản bác, dẫn đến việc người nói thường xuyên phải lựa chọn chiến lược gián tiếp hoặc sử dụng biểu thức điều biến để che chắn thể diện.
- Tiền giả định và hàm ý: Vận dụng lý thuyết của H.P. Grice (1975) về nguyên tắc hợp tác, phương châm hội thoại, hàm ngôn quy ước và hàm ngôn hội thoại; phân loại hàm ý của Đỗ Hữu Châu và Cao Xuân Hạo (1998) (hàm ý từ, hàm ý phát ngôn); phân biệt hàm ý và ngụ ý của Hoàng Phê (2003); hàm ngôn ngữ nghĩa và hàm ngôn ngữ dụng của Đỗ Hữu Châu (2003); tiền giả định của Hoàng Phê (1975); và thang độ phân định thông tin hàm ẩn của Nguyễn Văn Hiệp (2006).
| Loại thông tin hàm ẩn |
Mang tính hàm chân trị |
Không thể bị khử bỏ |
Không phụ thuộc vào ngữ cảnh |
Vị trí trên thang độ |
| Dẫn ý |
Có (+) |
Có (+) |
Có (+) |
Cực Nghĩa học |
| Tiền giả định |
Không (-) |
Có (+) |
Có (+) |
Thiên về Nghĩa học |
| Hàm ngôn qui ước |
Không (-) |
Không (-) |
Có (+) |
Thiên về Dụng học |
| Hàm ngôn hội thoại |
Không (-) |
Không (-) |
Không (-) |
Cực Dụng học |
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp hai phương pháp chung là phương pháp quy nạp (chủ đạo) và phương pháp diễn dịch (diễn giải nguyên lý lịch sự phổ quát). Các thủ pháp chuyên môn gồm: thủ pháp miêu tả định tính, thủ pháp so sánh đối chiếu, thủ pháp phân tích ngữ cảnh và phương pháp khảo sát mang tính xã hội học. Cách tiếp cận kết hợp giữa ngoại quan (quan sát, ghi chép khách quan) và nội quan (đánh giá, trải nghiệm thực tế đời sống sinh ngữ của người viết).
Nguồn ngữ liệu nghiên cứu được khai thác từ:
- 100 phiếu điều tra hành động bác bỏ phát cho sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh Khoa Ngôn ngữ học thuộc Trường Đại học Chulalongkorn (Băng Cốc, Thái Lan).
- 100 phiếu điều tra phát cho sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh Khoa Ngôn ngữ học thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (Việt Nam).
- Phỏng vấn bổ sung qua thư điện tử, trò chuyện trực tuyến và phỏng vấn trực tiếp các đối tượng cung cấp ngữ liệu.
- Ngữ liệu quan sát thực tế trong đời sống giao tiếp tại Thái Lan và Việt Nam cùng các ngữ liệu trích dẫn từ ấn phẩm ngôn ngữ học chính thức.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 1 xây dựng khung tri thức nền tảng phục vụ toàn bộ luận án. Tác giả phân tích nguồn gốc, bản chất và các luận điểm then chốt của lý thuyết hành động ngôn từ do Austin khởi xướng và Searle hệ thống hóa; làm rõ quan hệ giữa cấu trúc ngữ nghĩa và lực ngôn trung, các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời (IFIDs) theo Bierwisch và ngôn cảnh tình huống theo Motsch. Luận án phân tích sâu quan hệ tương tác trong lập luận theo van Eemeren và Grootendorst, khẳng định bác bỏ thuộc phạm trù không đồng tình.
Chương này cũng xác lập ranh giới bản chất giữa bác bỏ và từ chối, xây dựng cơ sở phân tích cặp thoại xác tín - bác bỏ trong cấu trúc hội thoại. Tác giả hệ thống hóa các khái niệm tiền giả định và các kiểu hàm ngôn, khẳng định bác bỏ không chỉ nhắm vào phần nghĩa hiển ngôn của nhận định mà thường xuyên nhắm vào tiền giả định hoặc hàm ý của phát ngôn đi trước. Đồng thời, chương 1 giới thiệu nguyên lý lịch sự của Brown và Levinson cùng các chiến lược giữ gìn thể diện làm tiền đề giải thích các biểu thức ngôn ngữ trong hai chương tiếp theo.
Chương 2: Miêu tả về hành động bác bỏ trong tiếng Thái
Chương 2 tập trung miêu tả diện mạo, phương tiện và cơ chế của hành động bác bỏ trong tiếng Thái dựa trên ngữ liệu thực tế và kết quả điều tra tại Đại học Chulalongkorn. Tác giả phân tích mô hình cú pháp phủ định cơ bản của tiếng Thái là (S) + NEG + V và các biến thể cấu trúc khác. Hành động bác bỏ trong tiếng Thái được phân chia theo hai chiến lược: chiến lược trực tiếp và chiến lược gián tiếp.
Trong chiến lược trực tiếp, người nói sử dụng các từ ngữ phủ định chuyên dụng hoặc khuôn cú pháp phủ định tường minh để gạt bỏ thông tin trong nhận định trước đó. Trong chiến lược gián tiếp, người Thái sử dụng câu hỏi nghi vấn mang giá trị phủ định, sử dụng câu khẳng định mang nghĩa mỉa mai, so sánh ví von đảo ngược (như trường hợp ví người phụ nữ với nhân vật "nàng Phi Sua Samut" để phủ định lời khen xinh đẹp), hoặc sử dụng ngữ điệu và thái độ để phủ định. Chương này cũng phân tích hệ thống trợ từ tình thái cuối câu và các phương tiện tu từ đặc trưng trong tiếng Thái có tác dụng làm giảm nhẹ tính chất đe dọa thể diện, phản ánh quy tắc ứng xử tế nhị của cộng đồng bản ngữ.
Chương 3: Miêu tả về hành động bác bỏ trong tiếng Việt
Chương 3 miêu tả chi tiết hệ thống phương tiện biểu hiện hành động bác bỏ trong tiếng Việt dựa trên 100 phiếu điều tra tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội và ngữ liệu đời sống. Tác giả phân loại hành động bác bỏ tiếng Việt thành hai chiến lược chính:
- Bác bỏ trực tiếp:
- Sử dụng câu phủ định - bác bỏ chứa từ phủ định thông thường: không, chẳng, chưa.
- Sử dụng các đại từ không xác định hoặc từ phiếm định đóng vai trò tác tử bác bỏ: đâu, nào, gì, sao, bao giờ (ví dụ: Ai cầm!, Tao cầm đâu!, Tao cầm bao giờ!).
- Sử dụng các tổ hợp tình thái từ và cấu trúc chuyên dụng: không phải, đâu có, nào (có) phải, làm gì có, P thì có!, P đấy chứ!, P chứ bộ!, Còn P chán!.
- Bác bỏ trực tiếp mức độ: Cấu trúc "B chán!" để bác bỏ mức độ của một nhận định đi trước (ví dụ đáp lại lời chê con hư bằng "Còn sớm chán", "Ngoan chán").
- Bác bỏ gián tiếp:
- Bác bỏ thông qua tiền giả định: Người nói chất vấn hoặc phủ định tiền giả định làm điều kiện tồn tại cho mệnh đề trước đó (như câu ca dao "Yếm em em mặc, yếm chi anh anh đòi" chất vấn tiền giả định về việc mượn yếm; hoặc câu "Có cơm đâu mà ăn!" chất vấn tiền giả định còn cơm).
- Bác bỏ theo quy tắc suy diễn lập luận: Dùng cấu trúc modus tollens "A mà lại B?" để chất vấn hệ quả nhằm bác bỏ tiền đề; hoặc dùng cấu trúc "Có B gì đâu mà A?" để chất vấn điều kiện cần.
- Bác bỏ qua hàm ý hội thoại và phủ định các cặp tính từ đối lập.
- Sử dụng các biểu thức điều biến và rào đón: Nhằm giảm thiểu nguy cơ đe dọa thể diện khi buộc phải bác bỏ, người Việt sử dụng các quán ngữ tình thái như "Nói khi vô phép", "Nói bác đừng giận".
Chương 4: Đối chiếu những nét tương đồng và khác biệt trong hành động bác bỏ giữa tiếng Thái và tiếng Việt
Chương 4 tiến hành đối chiếu song song giữa hai ngôn ngữ nhằm tìm ra quy luật ngôn ngữ và văn hóa:
- Những nét tương đồng: Cả hai ngôn ngữ đều có mô hình phủ định chung dạng (S) + NEG + V; đều sử dụng câu hỏi nghi vấn để biểu đạt ý phủ định hoặc không nhất trí; đều áp dụng hai chiến lược căn bản là bác bỏ trực tiếp và bác bỏ gián tiếp. Trong giao tiếp đời thường mặt đối mặt, người Thái và người Việt đều có xu hướng thiên về chiến lược bác bỏ gián tiếp để bảo đảm nguyên lý lịch sự, bảo vệ thể diện cho người đối thoại và tránh gây xung đột trực diện. Cả hai ngôn ngữ đều có cơ chế bác bỏ thông qua việc chất vấn tiền giả định và tạo lập hàm ý hội thoại.
- Những nét khác biệt: Sự khác biệt thể hiện rõ ở hệ thống phương tiện từ vựng - ngữ pháp chuyên dụng. Tiếng Việt có hệ thống hư từ, tình thái từ cuối câu và các quán ngữ cố định phong phú (thì có, đấy chứ, chán, đâu có); trong khi tiếng Thái sử dụng các tiểu từ tình thái và hệ thống trợ từ biểu thị thái độ mang đặc trưng riêng của tiếng Thái. Sự khác biệt về cách thức tư duy và ứng xử văn hóa cũng quy định mức độ lựa chọn các cấu trúc rào đón, cách thức biểu đạt tình cảm và mức độ chấp nhận sự phản bác trong các mối quan hệ xã hội tôn ti trật tự giữa hai cộng đồng.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Luận án góp phần làm rõ một cách có hệ thống những nét tương đồng và khác biệt của hành động bác bỏ trong tiếng Thái và tiếng Việt trên cả hai phương diện: cấu trúc hình thức tổ chức phát ngôn và bản chất ngữ nghĩa - ngữ dụng.
- Đặt hành động bác bỏ vào thế song hành trong cặp thoại xác tín - bác bỏ và phân biệt ranh giới giữa bác bỏ thông tin với từ chối hành động.
- Bước đầu giải thích căn nguyên của các tương đồng và khác biệt trong việc thực hiện hành động bác bỏ từ góc độ phương thức tư duy và văn hóa ứng xử của hai dân tộc Thái Lan và Việt Nam.
Về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất:
- Cung cấp nguồn ngữ liệu đối chiếu phục vụ trực tiếp cho công tác biên soạn sách giáo khoa, giáo trình và tài liệu giảng dạy tiếng Thái cho người Việt Nam cũng như giảng dạy tiếng Việt cho người Thái Lan theo định hướng giao tiếp.
- Đóng góp giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động biên dịch và phiên dịch Thái - Việt đối với các phát ngôn chứa hàm ý, các hành vi ngôn ngữ gián tiếp và hành động bác bỏ.
- Đề xuất việc bổ sung các kiến thức về ngữ dụng học, quy tắc lịch sự và văn hóa giao tiếp vào chương trình đào tạo ngôn ngữ nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, phục vụ quá trình thương lượng, đàm phán kinh tế và hợp tác văn hóa giữa hai quốc gia.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế, luận án ghi nhận phạm vi khảo sát điều tra thực tế giới hạn trong quy mô 100 phiếu điều tra cho mỗi ngôn ngữ. Đối tượng tham gia khảo sát chủ yếu là sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành ngôn ngữ học tại hai trường đại học ở thủ đô (Đại học Chulalongkorn và Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội), do đó chưa bao quát hết các tầng lớp xã hội khác trong đời sống sinh ngữ cũng như các biến thể phương ngữ vùng miền sâu rộng. Cứ liệu bác bỏ chủ yếu tập trung vào giao tiếp khẩu ngữ thường nhật và tác phẩm văn học, chưa khảo sát sâu trên các thể loại văn bản hành chính, văn bản pháp luật hay đàm phán ngoại giao chuyên biệt.
Về hướng nghiên cứu tiếp, luận án gợi mở việc mở rộng quy mô khảo sát trên nhiều nhóm đối tượng xã hội học đa dạng hơn; tìm hiểu hành động bác bỏ trong các bối cảnh giao tiếp chuyên ngành có tính quy thức cao như đàm phán thương mại quốc tế, tranh luận tại tòa án; và mở rộng đối chiếu hành động bác bỏ với các ngôn ngữ khác trong khu vực Đông Nam Á.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học, Lý luận ngôn ngữ, Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu, Đông Nam Á học, Việt Nam học và Thái học.
- Chuyên gia xây dựng chương trình đào tạo và biên soạn tài liệu giảng dạy tiếng Thái và tiếng Việt như một ngoại ngữ.
- Biên dịch viên, phiên dịch viên làm việc trong môi trường song ngữ Thái - Việt.
- Cán bộ ngoại giao, chuyên viên đàm phán thương mại và người làm việc trong môi trường đa văn hóa có liên quan đến đối tác Thái Lan và Việt Nam.
Nội dung tham khảo gồm có: Khung lý thuyết phân biệt hành động bác bỏ và hành động từ chối; hệ thống tiêu chí nhận diện và phân loại câu phủ định - bác bỏ; các mô hình cú pháp bác bỏ trực tiếp và gián tiếp; cơ chế chất vấn tiền giả định trong hội thoại; và bảng tổng hợp tiêu chí phân định các loại thông tin hàm ẩn trên thang độ nghĩa học - dụng học.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt hành động bác bỏ và hành động từ chối dựa trên những tiêu chí nào?
Theo luận án, hành động bác bỏ (deny) khác với hành động từ chối (refuse) ở bản chất thông tin và hành vi đi trước. Bác bỏ là phản ứng đối với một nhận định (statement/assertion) hoặc thông tin đi trước, người nói phủ định tính đúng đắn của thông tin đó. Ngược lại, từ chối là phản ứng đối với một hành động cầu khiến, đề nghị, mời mọc hoặc yêu cầu (thuộc nhóm hành động điều khiển), người nói khước từ thực hiện hành động được yêu cầu. Dẫn theo quan điểm của Halliday, từ chối thuộc về việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ, trong khi bác bỏ thuộc về việc trao đổi thông tin.
2. Điểm khác biệt cơ bản giữa lý thuyết hành động ngôn từ của J.L. Austin và J.R. Searle được luận án nêu ra là gì?
Austin quan niệm "nói tức là hành động", chú trọng đến hiệu quả hành vi và khảo sát nhiều về các phát ngôn trong nghi thức xã hội có tính ước lệ; phân chia ba hành vi: tạo lời, tại lời, mượn lời. Searle quan niệm "nói là hành động tuân theo quy tắc/điều kiện", tập trung vào lời nói giao tiếp hàng ngày, chú trọng cách bày tỏ của người nói và sự cắt nghĩa của người nghe; phân chia thành hành vi phát ngôn, hành vi mệnh đề, hành vi tại lời (gồm 5 tiểu loại); đồng thời Searle tập trung nghiên cứu sâu về hành động ngôn từ gián tiếp dựa trên tri thức nền chung.
3. Tại sao cặp thoại xác tín - bác bỏ lại được xếp vào loại cặp thoại không được ưa thích?
Trong phân tích hội thoại, khi một người đưa ra một nhận định (xác tín), người đó luôn có định hướng tâm lý chờ đợi sự đồng tình từ người đối thoại. Cặp thoại xác tín - đồng tình là cặp thoại được ưa thích. Khi nhận định bị phản hồi bằng một phát ngôn bác bỏ, sự mong đợi của người nói bị phủ nhận, gây nguy cơ tổn hại hoặc đe dọa thể diện người đối thoại. Do tính chất dễ làm mất lòng này, cặp thoại xác tín - bác bỏ là cặp thoại không được ưa thích, buộc các bên giao tiếp phải sử dụng chiến lược gián tiếp hoặc các biểu thức điều biến để duy trì hòa khí.
4. Dữ liệu thực tế của luận án được thu thập từ những nguồn nào và quy mô ra sao?
Ngữ liệu của luận án được thu thập từ 200 phiếu điều tra xã hội học (100 phiếu phát cho sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh Khoa Ngôn ngữ học tại Đại học Chulalongkorn, Băng Cốc và 100 phiếu phát cho đối tượng tương đương tại Khoa Ngôn ngữ học thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội). Ngoài ra, dữ liệu còn được bổ sung bằng các cuộc phỏng vấn sâu qua email, chat trực tuyến, phỏng vấn trực tiếp, cùng các ngữ liệu quan sát thực tế trong đời sống sinh ngữ tại hai nước và các ấn phẩm nghiên cứu ngôn ngữ học chính thức.
5. Tiền giả định đóng vai trò như thế nào trong việc thực hiện hành động bác bỏ gián tiếp?
Tiền giả định là điều kiện sử dụng của một câu nói, là điều được coi là sự thật đã biết trước. Khi tiền giả định của một nhận định hay mệnh lệnh bị sai, câu nói đó mất giá trị chân lý hoặc không đủ điều kiện thực thi. Thay vì phủ định trực tiếp nội dung hiển ngôn của mệnh đề, người nói chọn chiến lược bác bỏ gián tiếp bằng cách chất vấn hoặc phủ định thẳng tiền giả định đó. Khi tiền giả định bị triệt tiêu, toàn bộ nhận định hoặc yêu cầu đi trước tự động bị bác bỏ.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Siriwong Hongsawan đã giải quyết khoảng trống học thuật trong việc nghiên cứu đối chiếu hành động bác bỏ giữa tiếng Thái và tiếng Việt trên cả hai bình diện cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa - ngữ dụng. Thông qua việc kết hợp lý thuyết hành động ngôn từ, phân tích hội thoại, nguyên lý lịch sự và ngữ liệu điều tra thực tế tại hai trường đại học, tác giả đã làm rõ các mô hình bác bỏ trực tiếp, gián tiếp và cơ chế vận hành của tiền giả định cùng hàm ý hội thoại. Các kết quả đối chiếu không chỉ cung cấp cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tư duy của hai dân tộc, mà còn mang lại giá trị ứng dụng cụ thể cho công tác giảng dạy ngoại ngữ, biên phiên dịch và giao tiếp liên văn hóa Thái - Việt.