CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYET 1. Lý thuyết “Hành động ngôn từ”(Theory of Speech Act)” của John L. Austin và John R. Lý thuyết “Hành động ngôn từ” của John L.
Bối cảnh ra đời của “How to Do Things with Words” Austin, nhà triết học thuộc trường phái Triết học “Theo nội hàm” (Intentionalist), là người đầu tiên đưa ra quan niệm về “Hanh động ngôn từ ” (Speech Act), trình bày tại Trường Đại học Harvard, được in thành sách với tên gọi “How to Do Things with Words” năm 1962 sau khi ông mat. Trong cuốn này Austin đã phat biểu một mệnh đề rất quan trọng đến nỗi bất kì ai đọc nó đều phải nhớ, đó là “khử tôi nói tức là tôi hành động” (WhenI say, (. Nghĩa là, nói năng là một HD giống như các HD khác của con người, có điều đây là loại HD được thực hiện bằng lời. HD của người nói gây ra biến đổi nào đó trong thực tế và những ảnh hưởng nào đó ở đối tượng tiếp nhận.
Những “Hành động ngôn từ” theo quan điểm của John L. Austin Trước hết, trong thực tiễn hành ngôn, Austin phân biệt 2 kiểu câu: 1) Câu tường thuật (Constative Sentence)’ là câu người ta ding dé thông báo về cái gì đó với ý nghĩa tương đối ôn định và người ta có thể nhận xét câu nói đó là đúng hay sai. Ví dụ: Chi Siriwong là nghiên cứu sinh, người Thái Lan. Câu này là đúng nếu có bằng chứng thực tế chứng minh như hộ chiếu, lí lịch khoa học v.
của chị Siriwong. ? Tên gọi “Lý thuyết hành động ngôn từ” dùng theo Cao Xuân Hạo (2005) cho hợp với thuật ngữ tiếng Thái vì tiếng Thái gọi “hành động ngôn từ” là “ãunzzi” [wa ! E&ca&na!?&kam], tu [wa!&ca&na!'?] là siya [kHamépHu#:t] nghĩa là “lời nói, tiếng Anh dùng từ “speech”, còn mzw [kam] là nwnszth [ka:n&kra&tHam] nghĩa là “hành động”, tiếng Anh dùng từ “act”. Vì vậy, tất cả có nghĩa là “hành động của lời nói”. Hiện nay còn có một số cách dịch khác: “Hành vi ngôn ngữ” (Nguyễn Đức Dân, 2000; Đỗ Hữu Châu, 2003), “Hành vi nói năng” (Nguyễn Văn Khang, 1999), “Hành động phát ngôn” (Nguyễn Thị Thìn, 2003), v.
3 Thuật ngữ dùng theo Cao Xuân Hạo (2005). Câu ngôn hành (Performative Sentence) là câu mà người nói không nhằm để nói về một cái gì đó mà là dé thực hiện HD. Câu ngôn hành khác với câu tường thuật ở chỗ không thê đánh giá được là đúng hay sai theo chân lí. Vi dụ: I bet you six pence it will rain tomorrow.
[64, 5] “Tôi đánh cược 6 xu với ban là mai trời sẽ mưa.” Câu này thể hiện HD đánh cược của người nói, theo đó nếu ngày mai trời không mưa thì người nói phải đưa cho người nghe 6 xu, và ngược lại. Sau đó, ông tiếp tục phát triển tư tưởng của mình, khi cho rằng tất cả câu nói đều là ngôn hành, tức nói (saying) cũng là HĐ, có điều cần phân biệt ngôn hành tường minh (explicit), tức có dấu hiệu ngôn ngữ chỉ ra loại HD đang được thực hiện, và ngôn hành nguyên cấp (primary), tức trường hợp không có dấu hiệu ngôn ngữ đặc thù, chỉ có thé nhận biết được nhờ vào ngữ cảnh. Hơn thế nữa, theo Austin, khi ta nói ra một câu cụ thé trong một ngữ cảnh nao đó, ta sẽ thực hiện không phải một HD mà là đồng thời 3 kiêu HĐNT sau đây: 1) Hành động tạo lời (Locutionary act) là HD mà người nói sử dụng các yếu tố ngôn ngữ và quy tắc ngữ pháp để tạo ra câu nói ít nhiều có nghĩa. Đây chỉ là nghĩa bề mặt, nghĩa hiển ngôn, chưa tính đến bat kì hàm ý gì trong câu nói.
Ví dụ: Sáng nay trời mưa rất nhiều, bố ạ. (con nói với bố) Câu này chỉ có nghĩa đơn giản là người con muốn thông báo cho bố biết tình hình thời tiết sáng nay. 2) Hành động tại lời (Ilocutionary act) là HD mà cả người nói và người nghe hiểu được “lực ngôn trung” (Illocutionary force) của phát ngôn. Lực ngôn trung là ý nghĩa thật sự của phát ngôn trong một hoàn cảnh giao tiếp hiện thực.
Ví du: HD chào, hỏi, khen, xin lỗi, từ chối, bác bỏ, v. Ví dụ: Áo dài của bạn đẹp lắm? (bạn nói với bạn) Câu này có “Lực ngôn trung” là người nói muốn khen áo dài của người nghe. Theo Austin, “Hành động tại lời” phân ra 2 kiểu sau đây: (2.1) Hành động trực tiếp (Direct speech act) là HD được thực hiện bang những phương tiện ngôn ngữ chuyên dùng cho nó. 8 Ví dụ: Cái áo này bao nhiêu tiền? (bạn nói với bạn) Câu này nghĩa là người nói có ý định hỏi để biết giá của cái áo.
Đó là câu nghi vẫn có mục đích hỏi và đòi hỏi có câu trả lời.2) Hanh động gián tiếp (Indirect speech act) là HD được thực hiện một cách gián tiếp, thông qua việc thực hiện, theo câu chữ, một HD tại lời trực tiếp khác. Ví dụ: Sao mà bạn nấu cơm ngon thế! (bạn nói với bạn) Trong trường hợp này, tuy về hình thức, có thê xếp câu nói vào câu nghi vấn (chăng hạn, dựa trên dấu hiệu có từ nghi vấn “sao”) nhưng thực ra người nói không hề có ý định hởi (hỏi về lí do tại sao mà bạn nau com ngon thế) mà là muốn khen người nghe nấu cơm ngon. Câu nghi vấn trong trường hợp này không có mục đích hỏi, không cần câu trả lời. 3) Hành động mượn lời (Perlocutionary act) là HD mà khi người nói nói ra một câu thì có thể gây ra một hiệu quả tâm lí nào đó ở người nghe như khiến người nghe vui mừng, phan chan, lo sợ hay tin tưởng v.
Hiệu quả này có thê phù hợp hoặc không phù hợp với ý muốn của người nói. Ví dụ: Liệu hồn, bố sắp về rồi đây! (mẹ nói với con) Câu nói của người mẹ trong trường hợp này có thé có tác động làm cho người con có ý thức về việc bố mình sắp về, cho nên phải thay đổi cách ứng xử hay thái độ đối với mọi việc, không còn được tự do thoải mái như trước nữa. Lý thuyết “Hành động ngôn từ” của John R. Tinh than của “Speech Acts” Searle, nhà triết học ngôn ngữ người Mỹ, là học trò của Austin va P.
Ông đã tiếp tục tư tưởng của hai người thầy và phát triển lý thuyết “Hành động ngôn tir”. Cuốn sách nổi tiếng nhất của ông là cuốn “Speech Acts” được rat nhiều nhà ngôn ngữ học tham khảo khi bàn về ngữ dụng học, đặc biệt là khi nói về sự kế tục công trình “How to Do Things with Words” của Austin. Đối với Searle, “Speech Acts” có thé diễn giả là “Wới là hành động tuân theo điều kiện” (Talking is performing acts according to rules) [77, 22]. Mỗi HDNT (speech act) sẽ được thực hiện theo những điều kiện khác nhau.
Những “Hành động ngôn từ” theo quan điển của John R. Searle - Hành động lời nói của con người Searle tin rằng mỗi khi ai đó thực hiện một HDNT thì người đó có thể thực hiện 3 HD* sau đây: 1) Hành động phát ngôn (Utterance act) là HD mà người nói sử dung dong âm thanh, từ ngữ và cấu trúc ngữ pháp dé tạo ra phát ngôn giao tiếp. Tư tưởng này giống tư tưởng của Austin. 2) Hành động mệnh đề (Propositional act) là nội dung ý nghĩa của phát ngôn và nội dung đó có thé nhận xét được là đúng hay sai.
Ví dụ: Trong gia đình, em là con cả. (sinh viên nói với cô giáo) Câu này có nghĩa: sinh viên (nguời nói) là con cả trong gia đình. Điều đó có thé kiểm tra được, chăng hạn, băng lý lịch của sinh viên. 3) Hanh động tại lời (Illocutionary act) là sự bày tỏ của người nói cho người nghe biết chủ ý / ý định tại lời (illocutionary intention) của mình khi dùng một phát ngôn.
Ví dụ: Sắp thi rồi đấy con ơi. (bố nói với con khi con đang xem tivi) Câu này của bố HY cảnh báo con là gần đến ngày thi. - Các kiểu hành động ngôn từ của “Hành động tại lời” Theo Searle, có 5 kiểu HĐNT” sau đây: 1) Hành động biểu kiến (Representatives) là HD mà người nói dùng dé thông báo, nêu nhận định nao đó có thé đúng hay sai. Ví dụ: Ngày mai ban chủ nhiệm khoa họp từ 9 giờ sáng.
(chủ nhiệm khoa nói với cô thư ký) Câu này chủ nhiệm khoa nói với cô thư ký về thời gian của cuộc họp và chịu trách nhiệm về thông tin này. 2) Hành động cầu khiến (Directives) là HD mà người nói dùng ngôn từ dé khiến người nghe thực hiện một HD nào đó theo ý của minh. * Thuật ngữ dùng theo Cao Xuân Hạo (2005). > Thuật ngữ dùng theo Cao Xuân Hạo (2005).
10 Ví dụ: Đừng nói chuyện khi thầy đang dạy. (thầy giáo nói với sinh viên) Với phát ngôn này, thầy giáo yêu cầu sinh viên đừng nói chuyện trong lớp, vì điều đó có thể làm cho thầy giáo không dạy được. 3) Hành động kết ước (Commissives) là HĐ mà người nói cho người nghe biết là người nói sẽ làm việc gì đó. Ví dụ: Thưa cô, em hứa với cô là từ hôm nay em sẽ chăm chỉ học hơn.
(sinh viên nói với cô giáo) Câu này có nghĩa: sinh viên hứa với cô giáo là từ hôm nay mình sẽ chăm chỉ hoc hon. Câu này có TGD là trước đây sinh viên lười học và có thé đã bị cô giáo trách mắng. 4) Hành động biểu cảm (Expressives) là HD mà qua lời nói người nói bộc lộ trạng thái tâm lý, tình cảm, thái độ của mình đối với sự tình được đề cập đến trong nội dung của phát ngôn hoặc đối với người nghe. Ví dụ: Tôi xin chân thành cảm ơn anh đã giúp đỡ tôi hết sức! (một phụ nữ nói với anh công an đã bắt được kẻ ăn cắp xe của mình) Người phụ nữ nói câu này để cảm ơn anh công an.
5) Hành động tuyên bố (Declarations) là HDNT mà người nói dùng dé thay đổi thực lại. Ví dụ: Từ hôm nay, tôi đuổi anh và không cho anh làm việc ở công ty của tôi nữa! (giám đốc nói với một nhân viên) Bằng phát ngôn này, giám đốc đã đuôi anh nhân viên ra khỏi công ty của mình vì lí do nào đó. Trong “HD tại lời”, Searle quan tâm đến hành động giá ntiếp (HDGT) (Indirect speech) hơn hành động trực tiếp (HDTT) (Direct speech). Theo Searle, mac dù HĐGT được thực hiện bằng phát ngôn mà theo đó nghĩa đích thực của câu nói không liên hệ trực tiếp với nghĩa theo câu chữ của câu nhưng người nghe vẫn nhận biết và hiểu được ý nghĩa đó, vì người nói và người nghe cùng có nền hiểu biết chung, nền “tri thức bách khoa” giống nhau và có sự nhạy cảm nào đó đối với ngữ cảnh giao tiếp.