Luận án về điều trị rò mật bằng stent qua nội soi mật tụy: Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

Tài liệu nghiên cứu Luận án nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả điều trị rò mật bằng đặt stent qua nội, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Học viện Quân y

Chuyên ngành

Nội tiêu hóa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2018

172
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Giải phẫu đường mật

1.1.1. Giải phẫu đường mật trong gan

1.1.2. Giải phẫu đường mật ngoài gan

1.1.3. Biến đổi giải phẫu đường mật trong gan và cửa gan

1.1.4. Các bất thường của giải phẫu đường mật ngoài gan

1.2. Đại cương về bệnh lý rò mật

1.2.1. Nguyên nhân rò mật

1.2.2. Biểu hiện lâm sàng của rò mật

1.2.3. Phân loại rò mật

1.2.4. Nguyên tắc chung trong điều trị rò mật

1.2.5. Các phương pháp điều trị rò mật

1.2.5.1. Dẫn lưu đường mật xuyên gan qua da
1.2.5.2. Phẫu thuật điều trị rò mật
1.2.5.3. Điều trị rò mật bằng keo sinh học
1.2.5.4. Nội soi điều trị rò mật
1.2.5.5. Một số phương pháp dẫn lưu khác
1.2.5.6. Nội soi mật tụy ngược dòng đặt stent đường mật điều trị rò mật

1.2.6. Cơ chế tác dụng của Stent

1.2.7. Chỉ định và chống chỉ định

1.2.8. Kỹ thuật đặt stent qua chụp mật tụy ngược dòng

1.2.9. Các biến chứng khi nội soi đặt stent

1.2.10. Ưu điểm, nhược điểm của nội soi đặt stent trong điều trị rò mật

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.5. Cỡ mẫu nghiên cứu

2.6. Phương tiện nghiên cứu

2.7. Các bước tiến hành nghiên cứu

2.8. Các chỉ tiêu nghiên cứu

2.9. Các thông số lâm sàng và cận lâm sàng trước thủ thuật

2.10. Các thông số về kỹ thuật can thiệp

2.11. Các thông số về kết quả điều trị

2.12. Phân tích và xử lý số liệu

2.13. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu

3.1.1. Đặc điểm về giới

3.1.2. Đặc điểm về tuổi

3.1.3. Phân bố theo nghề nghiệp

3.2. Các nguyên nhân gây rò mật

3.3. Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng

3.3.1. Triệu chứng lâm sàng

3.3.2. Đặc điểm cận lâm sàng

3.4. Các vấn đề liên quan đến thủ thuật

3.4.1. Thời gian rò mật trước khi can thiệp

3.4.2. Mức độ khó khi thông nhú Vater

3.4.3. Đánh giá mức độ rò mật

3.4.4. Kích thước đường mật trên nội soi mật tụy ngược dòng

3.4.5. Các yếu tố gây tắc nghẽn bên dưới vị trí rò

3.4.6. Biện pháp can thiệp điều trị

3.4.6.1. Loại, kích thước và đường kính stent

3.4.7. Vị trí rò mật xác định trên nội soi mật tụy ngược dòng

3.4.8. Tai biến-biến chứng sớm sau thủ thuật

3.4.9. Biến chứng di lệch stent

3.4.10. Số ngày nằm viện sau thủ thuật

3.4.11. Rút ống dẫn lưu (ODL) ổ bụng trước khi xuất viện

3.4.12. Tổng số ngày nằm viện

3.4.13. Thời gian lưu stent trong đường mật

3.4.14. Số lần đặt stent

3.4.15. Kết quả của nội soi mật tụy ngược dòng trong chẩn đoán và điều trị

3.4.16. Các mối liên quan giữa các biến số

3.4.17. Các phương pháp điều trị kết hợp

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

4.1.1. Tuổi và giới tính

4.1.2. Nguyên nhân và nghề nghiệp

4.1.3. Đặc điểm ở bệnh nhân rò mật trong nghiên cứu

4.2. Biểu hiện lâm sàng của rò mật

4.3. Thời điểm chẩn đoán rò mật

4.4. Những thay đổi về xét nghiệm cận lâm sàng

4.4.1. Bilirubin dịch ổ bụng

4.4.2. Enzym gan, bạch cầu máu

4.5. Một số đặc điểm liên quan kỹ thuật can thiệp

4.5.1. Vị trí rò mật dựa trên nội soi mật tụy ngược dòng

4.5.2. Tai biến và biến chứng

4.5.3. Đặc điểm của stent: loại- kích thước- đường kính

4.5.4. Các biện pháp can thiệp nội soi điều trị

4.5.5. Thủ thuật thành công và khả năng chẩn đoán rò mật của nội soi mật tụy ngược dòng

4.5.6. Thời điểm rút stent và chụp hình đường mật khi rút stent

4.5.7. Số lần bệnh nhân được điều trị bằng nội soi mật tụy ngược dòng

4.5.8. Các yếu tố làm tăng nguy cơ rò mật

4.5.9. Ưu điểm và khả năng áp dụng của nội soi điều trị

KẾT LUẬN

KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Đặt vấn đề

Rò mật là một biến chứng phức tạp, thường xảy ra do tổn thương đường mật, dẫn đến thoát dịch mật ra khỏi cấu trúc bình thường. Chẩn đoán rò mật không khó, nhưng xác định vị trí tổn thương lại phức tạp, đặc biệt là sau phẫu thuật. Rò mật kéo dài có thể gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng như nhiễm khuẩn ổ bụng và rối loạn hấp thu. Nguyên nhân chủ yếu của rò mật thường là do chấn thương gan hoặc các phẫu thuật can thiệp về gan. Việc chẩn đoán có thể thực hiện qua nhiều phương pháp như siêu âm, CLVT, nhưng khó xác định chính xác vị trí rò mật. Nội soi mật-tụy ngược dòng là phương pháp hiệu quả, vừa chẩn đoán vừa điều trị, được ưa chuộng trong nhiều trung tâm y tế. Phẫu thuật vẫn là phương pháp truyền thống nhưng thường để lại nhiều biến chứng. Kỹ thuật nội soi mật-tụy ngược dòng với việc đặt stent đã được áp dụng rộng rãi, mang lại hiệu quả cao và ít biến chứng. Do đó, nghiên cứu này nhằm khảo sát đặc điểm lâm sàng và đánh giá khả năng chẩn đoán, điều trị rò mật bằng stent qua nội soi mật-tụy.

II. Tổng quan tài liệu

Giải phẫu đường mật rất phức tạp, bao gồm đường mật trong gan và ngoài gan. Đường mật trong gan bao gồm các tiểu quản mật và ống gan, trong khi đường mật ngoài gan bao gồm ống mật chủ và ống túi mật. Các bất thường trong giải phẫu đường mật có thể dẫn đến rò mật. Rò mật có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân, trong đó chấn thương và phẫu thuật là phổ biến nhất. Biểu hiện lâm sàng của rò mật thường không rõ ràng, cần phải kết hợp nhiều phương pháp chẩn đoán để xác định chính xác. Các phương pháp điều trị rò mật bao gồm dẫn lưu, phẫu thuật và nội soi. Nội soi mật-tụy ngược dòng là một phương pháp hiện đại, cho phép chẩn đoán và điều trị rò mật hiệu quả. Nghiên cứu cho thấy phương pháp này có tỷ lệ thành công cao và ít biến chứng hơn so với phẫu thuật truyền thống.

III. Kỹ thuật đặt stent qua nội soi mật tụy

Kỹ thuật đặt stent qua nội soi mật-tụy ngược dòng là một phương pháp can thiệp hiệu quả trong điều trị rò mật. Stent được sử dụng để mở rộng đường mật, giúp mật chảy qua đường mật bình thường và giảm áp lực tại vị trí rò. Kỹ thuật này có thể thực hiện với hoặc không cắt cơ vòng Oddi, tùy thuộc vào tình trạng cụ thể của bệnh nhân. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc đặt stent có thể làm giảm tỷ lệ rò mật và cải thiện tình trạng bệnh nhân. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý đến các biến chứng có thể xảy ra như di lệch stent hoặc viêm tụy cấp. Việc theo dõi và đánh giá kết quả sau thủ thuật là rất quan trọng để đảm bảo hiệu quả điều trị.

IV. Kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu đã khảo sát đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân rò mật, đồng thời đánh giá khả năng chẩn đoán và điều trị bằng nội soi mật-tụy ngược dòng. Kết quả cho thấy tỷ lệ thành công cao trong việc chẩn đoán và điều trị rò mật bằng stent. Thời gian nằm viện trung bình sau thủ thuật là ngắn, cho thấy tính hiệu quả của phương pháp này. Các biến chứng xảy ra chủ yếu là nhẹ và có thể điều trị được. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc áp dụng kỹ thuật này tại các bệnh viện lớn có thể giúp nâng cao chất lượng điều trị cho bệnh nhân rò mật.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu đường mật 1. Giải phẫu đường mật trong gan Tiểu thùy gan hình trụ, ở giữa là tĩnh mạch trung tâm, đổ vào tĩnh mạch gan, rồi đổ vào tĩnh mạch chủ. Xung quanh tĩnh mạch trung tâm là các bè tế bào gan, xếp thành hình nan hoa.

Mỗi bè tế bào thường có 2 lớp tế bào gan và giữa các lớp tế bào là các tiểu quản mật. Mật tiết ra từ tế bào gan được đổ vào các vi quản mật, nhiều vi quản mật hợp thành ống trung gian Hering, 3-4 ống Hering hợp thành ống quanh tiểu thùy và nhiều ống quanh tiểu thùy hợp thành ống gian tiểu thùy nằm trong khoang gian tiểu thùy Kiernan. Các ống gian tiểu thùy đổ vào các ống mật lớn ở mức hạ phân thùy (HPT) rồi hợp thành hai ống gan phải (OGP) và ống gan trái (OGT) để cuối cùng đổ vào ống gan chung. Sự hợp lưu của các ống HPT và phân thùy (PT) đổ vào ống gan có nhiều dạng thay đổi khác nhau ở từng cá thể.

Vi quản mật và các tiểu quản mật Nguồn: theo Netter F.] OGP được tạo bởi sự hợp lưu của ống phân thùy giữa-phải (hay trước) và ống phân thùy bên-phải (hay sau). Ngoài ra nó còn nhận thêm một ống nhỏ từ phần phải-dưới của thùy đuôi, trước khi hợp với OGT thành ống gan chung. 4 OGT tập hợp các ống phân thùy bên trái và giữa trái và nhận thêm 1-2 ống nhỏ của phần đỉnh và nửa trái phân thùy lưng hay thùy đuôi. Sự phân chia đường mật trong gan thường đi cùng với sự phân chia của động mạch và tĩnh mạch.

Nói một cách khác, sự phân chia này thường có mặt 3 thành phần trên và gọi là bộ ba cửa, ngoại trừ các trường hợp biến đổi giải phẫu đường mật. Phân bố đường mật trong gan theo Trịnh Văn Minh 1. Ống phân thùy giữa-phải 3. Các ống phân thùy bên-trái 2.

Ống phân thùy bên-phải 4. Các ống phân thùy giữa-trái Nguồn: theo Trịnh Văn Minh (2010) [7. Giải phẫu đường mật ngoài gan Đường mật ngoài gan có 2 loại là đường mật chính và đường mật phụ. Đường mật chính là những ống dẫn dịch mật từ gan tới đường tiêu hóa.

Đường mật phụ gồm túi mật và ống túi mật. Gọi là phụ vì khi cần thiết, có thể cắt bỏ mà không ảnh hưởng nhiều tới sức khỏe và sinh hoạt của người bệnh. Đường mật chính Đường mật chính gồm OGP, OGT, ống gan chung (OGC), và ống mật chủ (OMC). - OGP dài khoảng 7 mm nhận dịch mật từ gan phải - OGT dài khoảng 17 mm nhận dịch mật từ gan trái Hai ống này từ gan ra, khi đến rốn gan, hợp với nhau tạo thành OGC.

5 - OGC dài khoảng 3-5cm, đường kính khoảng 5-6 mm, nằm ở bờ phải cuống gan, bên trái là động mạch gan riêng, phía sau là tĩnh mạch cửa. OGC đi từ rốn gan xuống phía dưới, tới bờ trên đoạn 1 tá tràng thì gặp ống túi mật, tạo nên OMC. - Chiều dài OMC thay đổi tùy theo chỗ ống túi mật kết nối với OGC, đường kính khoảng 6-8mm, tối đa 10mm. Đường kính to nhỏ khác nhau theo tuổi, ở người nhiều tuổi to hơn người ít tuổi.

Từ trên xuống OMC đi theo một đường cong hướng về bên phải. OMC có 4 đoạn: trên tá tràng, sau tá tràng, sau tụy và trong thành tá tràng. OMC nhận dịch mật từ OGC và từ ống túi mật để đổ vào bóng Vater. Ngoài dịch mật, bóng Vater còn nhận dịch tụy từ ống tụy chính (ống Wirsung).

Từ bóng Vater, dịch mật và dịch tụy qua nhú tá tràng lớn đổ vào tá tràng. Nhú tá tràng lớn nằm ở bờ trong đoạn 2 tá tràng, chỗ nối 2/3 trên và 1/3 dưới, cách môn vị khoảng 8-10cm. Trên nhú tá tràng lớn có 1 nếp niêm mạc dài gọi là nếp dọc tá tràng. Ở nhú tá tràng lớn có cơ thắt, được gọi là cơ thắt Oddi.

Khoảng 20-30% trường hợp không có bóng Vater, OMC và ống tụy chính đổ dịch mật và dịch tụy vào tá tràng bởi 2 lỗ riêng biệt. Đường mật phụ Đường mật phụ gồm túi mật và ống túi mật. Chức năng của túi mật là cô đặc và tích tụ dịch mật. Chức năng của ống túi mật là dẫn dịch mật đã được cô đặc từ túi mật xuống OMC.

Túi mật Túi mật nằm ở mặt tạng của gan, trong hố túi mật, gần bờ trước gan. Túi mật dài 7-10cm, chỗ rộng nhất 2,5-3cm. Túi mật có 3 phần: đáy, thân và cổ. Cổ túi mật cách xa gan 5-10mm, nối với gan bằng mạc treo, trong mạc treo có động mạch túi mật.

6 Ống túi mật Ống túi mật khá nhỏ, dẫn dịch mật từ túi mật xuống ống mật chủ. Trong lòng ống có những nếp niêm mạc hình xoắn tạo thành van Heister. Van này cản trở thuốc cản quang khi bơm để chụp X quang đường mật. Tùy theo kiểu kết nối với ống mật chính mà chiều dài ống túi mật thay đổi, từ 0,5 đến 3cm Hình 1.

Giải phẫu đường mật trong và ngoài gan Nguồn: theo Nguyễn Đình Hối (2012) [8. Biến đổi giải phẫu đường mật trong gan và cửa gan Những biến đổi giải phẫu của đường mật rất phong phú. Do hiện tượng trượt của một hay những ống phân thùy hay hạ phân thùy, nghĩa là di chuyển vị trí tận cùng bình thường của chúng sang một vị trí bất thường khác. Ống mật phân thùy có thể trượt toàn bộ hay chỉ một phần của nó, nghĩa là trượt một ống hạ phân thùy, có thể trượt đơn thuần, chỉ liên quan đến một phân thùy hay trượt phức hợp, kéo theo một phần nhỏ hơn của phân thùy bên cạnh.

Những biến đổi giải phẫu trên còn ít được biết đến, song nó rất cần thiết cho các nhà chẩn đoán hình ảnh để đọc phim chính xác, cũng như cho các nhà phẫu thuật để xử lý thích hợp khi phẫu thuật đường mật, cắt túi mật, cắt gan… 1. Các bất thường của giải phẫu đường mật ngoài gan Các ống mật phụ bất thường đổ vào cổ hoặc ống túi mật, xuất phát từ OGP, bờ phải OGC, OMC hoặc chính túi mật. Ống mật phụ hiện diện khoảng 7 10% [9.], kích thước ống mật phụ bình thường hoặc nhỏ hơn ống túi mật, ống mật từ gan đổ trực tiếp vào túi mật rất hiếm Bất thường sự hội tụ ống gan phải và trái, ống túi mật với OGC, ống túi mật đổ vào OGP. Ống mật phụ từ OGP đổ vào OGC.

Ở Việt nam có một số nghiên cứu về các biến đổi đường mật như của Trịnh Hồng Sơn [10.]và Nguyễn Hữu Thịnh [11.], dạng I: chỉ có 1 ống duy nhất cho gan trái và 1 ống duy nhất cho gan phải; dạng II: có 2 ống mật cho gan trái hoặc cho gan phải; dạng IIa: dạng chia 3 ở ngã ba ống gan gồm IIa1 là ống gan trái, ống phân thùy 4 và ống gan phải đổ chung; IIa2 là ống gan trái, ống phân thùy trước và ống phân thùy sau đổ chung; dạng IIb: ống phân thùy sau trượt thấp đổ vào OGC; dạng IIc: ống phân thùy sau đổ vào OGT; dạng III: có 3 ống mật cho gan phải hoặc cho gan trái; dạng IV: có 2 ống mật cho gan trái và 2 ống mật cho gan phải. Phân loại giải phẫu đường mật trong gan theo Trịnh Hồng Sơn Nguồn: theo Trịnh Hồng Sơn (1998) [10. Các ống gan phụ Nguồn: theo Netter F.] Có nhiều dạng ống túi mật đổ bất thường vào ống mật chính. Ống túi mật đổ vào bên phải hoặc sau OGC, ống túi mật đổ vào bên trái OMC, hoặc chạy dọc theo và đổ thấp ở OMC, ống túi mật đổ vào OGP, ống túi mật ngắn hoặc không tồn tại [9.

Các dạng biến đổi giải phẫu ống túi mật theo Trịnh Văn Minh Nguồn: theo Trịnh Văn Minh (2010) [7. Đại cương về bệnh lý rò mật Rò mật là tình trạng rò rỉ dịch mật từ bất kỳ vị trí nào trên hệ thống đường mật: ống dẫn mật trong gan, OGC, OMC, ống túi mật hoặc túi mật. Rò rỉ mật có thể chảy tự do vào ổ bụng hoặc thoát ra ngoài khoang màng bụng qua các ống dẫn lưu ra da hoặc vết mổ trên thành bụng [14. Định nghĩa phổ biến nhất của rò mật là sự hiện hiện của một hoặc nhiều yếu tố sau đây: (1) dịch mật chảy ra từ ổ bụng qua vết thương hoặc dẫn lưu với bilirubin toàn phần >5mg/ml hoặc lớn hơn 3 lần so với chỉ số trong huyết tương, (2) ổ tụ dịch mật trong ổ bụng được xác định bởi sự chọc hút xuyên qua da, (3) bằng chứng thuốc cản quang rò rỉ từ ống mật qua chụp đường mật cản quang [15.

Nhiều tác giả định nghĩa rò mật sau phẫu thuật dựa trên ngưỡng thể tích và nồng độ bilirubin trong dịch dẫn lưu với giá trị ngưỡng về thể tích là 20- 50ml và nồng độ bilirubin trong dịch dẫn lưu là 5-20mg/dl. Tuy nhiên, theo Koch và cộng sự (2010) [17.] không dựa vào thể tích bởi vì sẽ không chính xác trong trường hợp có báng bụng hoặc rò từ hệ bạch huyết. Tình huống lâm sàng có thể gây nên rò mật rất đa dạng như sau phẫu thuật cắt túi mật, phẫu thuật cắt đường mật, phẫu thuật tạo hình đường mật, cắt gan, ghép gan, các thủ thuật can thiệp nong hẹp đường mật, đốt u gan bằng sóng cao tầng, sinh thiết gan, thủng đường mật trong nội soi mật-tụy ngược dòng và chấn thương gan. Với một khối lượng rất lớn các thủ thuật can thiệp gan- mật như hiện nay thì vấn đề rò mật tiếp tục là một thách thức đáng kể trong thực hành lâm sàng.

Những tiến bộ trong công nghệ chẩn đoán hình 9 ảnh học cũng như các kỹ thuật can thiệp qua da và nội soi đã tạo thuận lợi rất nhiều trong chẩn đoán và điều trị rò mật. Can thiệp điều trị để điều trị rò mật bao gồm can thiệp qua da, qua nội soi và phẫu thuật được áp dụng có chọn lọc tùy thuộc vào nguyên nhân, vị trí giải phẫu, mức độ nghiêm trọng và thời gian chẩn đoán bệnh. Các nguyên lý cơ bản trong điều trị là kiểm soát bên ngoài của đường mật bị rò rỉ, kiểm soát nhiễm khuẩn, xác định vị trí giải phẫu đường mật và giải áp đường mật. Nhanh chóng chẩn đoán chính xác và điều trị thích hợp là cần thiết để có kết quả lâm sàng tốt nhất [14.

Nguyên nhân rò mật Ở Hoa kỳ, phần lớn rò mật là biến chứng của phẫu thuật cắt túi mật. Rò mật có thể chia làm 2 loại: tổn thương đường mật lớn và tổn thương đường mật nhỏ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án "Luận án về điều trị rò mật bằng stent qua nội soi mật tụy: Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng" của tác giả Phạm Hữu Tùng, dưới sự hướng dẫn của Bùi Hữu Hoàng tại Học viện Quân y, tập trung vào việc nghiên cứu phương pháp điều trị rò mật bằng stent qua nội soi mật tụy. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân mà còn mở ra hướng đi mới trong điều trị, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Độc giả sẽ tìm thấy nhiều thông tin hữu ích về quy trình điều trị và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của phương pháp này.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan như Nghiên cứu phương pháp định lượng andrographolide trong dược liệu xuyên tâm liên bằng HPTLC, nơi cung cấp thông tin về các phương pháp nghiên cứu trong lĩnh vực dược liệu, hay Luận án tiến sĩ y học: Nghiên cứu điều trị bảo tồn ung thư nguyên bào võng mạc bằng laser diode, một nghiên cứu liên quan đến các phương pháp điều trị hiện đại trong y học. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu lâm sàng và hiệu quả điều trị suy giảm nhận thức ở bệnh nhân loạn thần do rượu, giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các vấn đề liên quan đến điều trị trong lĩnh vực y học. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn đa chiều hơn về các phương pháp điều trị trong y học hiện đại.