Nghiên cứu điều chế và tính chất điện hóa của lớp phủ platin và compozit trên nền chất dẫn điện

Nghiên cứu điều chế và tinh chất điện hóa của lớp phủ platin và compozit trên nền chất dẫn điện, mang lại ứng dụng tiềm năng trong công nghệ.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học

2012

72
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: Giới thiệu về Platin

1.1. Tính chất vật lý

1.2. Tính chất hóa học

1.2.1. Tính chất hóa học của Platin

1.2.2. Hợp chất của Platin

1.3. Ứng dụng của Platin

1.4. Giới thiệu về Thiếc

1.4.1. Tính chất vật lý

1.4.2. Tính chất hóa học

1.4.2.1. Thiếc
1.4.2.2. Thiếc điclorua

1.5. Giới thiệu Niken

1.5.1. Tính chất vật lý

1.5.2. Tính chất hóa học của Niken

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu. Dụng cụ, thiết bị. Nội dung thực nghiệm

2.2. Chế tạo điện cực graphit xốp

2.3. Chế tạo các dung dịch chất mang (Polymeric Precursor)

2.4. Chế tạo điện cực

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.5.1. Phương pháp đo tỷ trọng và độ xốp

2.5.2. Phương pháp hiển vi điện tử quét - Kỹ thuật phân tích

2.5.3. Phương pháp nhiễu xạ tia X (X-ray)

2.5.4. Phương pháp phân tích nhiệt vi sai

2.5.5. Phương pháp đường cong phân cực đơn

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Khảo sát một số tính chất của vật liệu ban đầu

3.1.1. Tính chất của vật liệu graphit

3.1.2. Kết quả đo tỷ trọng và độ xốp

3.1.3. Kết quả khảo sát thành phần pha của mẫu vật liệu graphit

3.2. Kết quả phân tích SEM

3.3. Khảo sát nhiệt độ phân hủy của NiCl2, SnCl2, H2PtCl6

3.4. Chế tạo điện cực

3.4.1. Chế tạo điện cực graphit xốp

3.4.2. Chế tạo điện cực chứa Pt, Sn, Ni/graphit xốp

3.4.3. Điện cực Pt/graphit xốp

3.4.4. Điện cực Ni/graphit xốp

3.4.5. Điện cực Sn/graphit xốp

3.4.6. Điện cực Pt-Ni/graphit

3.4.7. Điện cực Pt-Sn/graphit

3.4.8. Điện cực Pt-Ni-Sn/graphit

3.5. Khảo sát tính chất điện hoá của các điện cực đã chế tạo

3.5.1. Tính chất điện hóa của các điện cực nghiên cứu trong dung dịch H2SO4 1M

3.5.2. Tính chất điện hóa của các điện cực đã chế tạo trong dung dịch KOH 2M

3.5.3. Tính chất điện hóa của các điện cực đã chế tạo trong dung dịch ferro-ferri xyanuakali 0,01M trong dung dịch KOH 0,1M

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu điện hóa lớp phủ platin và compozit

Nghiên cứu về lớp phủ platin và compozit trên nền chất dẫn điện đang trở thành một lĩnh vực quan trọng trong khoa học vật liệu. Platin, với tính chất điện hóa vượt trội, được sử dụng rộng rãi trong các ứng dụng xúc tác. Tuy nhiên, giá thành cao của platin đã thúc đẩy việc tìm kiếm các giải pháp thay thế hiệu quả hơn. Nghiên cứu này sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về các phương pháp chế tạo lớp phủ và tính chất điện hóa của chúng.

1.1. Định nghĩa và ứng dụng của lớp phủ platin

Lớp phủ platin được định nghĩa là một lớp mỏng platin được áp dụng lên bề mặt chất dẫn điện nhằm cải thiện tính chất điện hóa. Ứng dụng của lớp phủ này rất đa dạng, từ việc chế tạo điện cực cho các nguồn điện đến xử lý môi trường.

1.2. Tại sao nghiên cứu compozit là cần thiết

Nghiên cứu compozit là cần thiết vì chúng có thể giảm thiểu chi phí và cải thiện tính chất điện hóa. Việc kết hợp platin với các vật liệu khác như thiếc và niken tạo ra các hợp chất có tính chất ưu việt hơn.

II. Thách thức trong nghiên cứu lớp phủ platin và compozit

Mặc dù lớp phủ platin có nhiều ưu điểm, nhưng việc chế tạo và ứng dụng chúng cũng gặp phải nhiều thách thức. Giá thành cao, tính bền và khả năng tương tác với môi trường là những vấn đề cần được giải quyết.

2.1. Giá thành và nguồn cung platin

Giá thành cao của platin là một trong những rào cản lớn nhất trong việc ứng dụng rộng rãi. Nguồn cung hạn chế và chi phí khai thác cao đã dẫn đến việc tìm kiếm các vật liệu thay thế.

2.2. Tính bền của lớp phủ trong môi trường khắc nghiệt

Lớp phủ platin có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường như nhiệt độ và độ ẩm. Việc nghiên cứu tính bền của lớp phủ trong các điều kiện khác nhau là rất quan trọng để đảm bảo hiệu suất lâu dài.

III. Phương pháp chế tạo lớp phủ platin và compozit hiệu quả

Có nhiều phương pháp chế tạo lớp phủ platin và compozit, trong đó phương pháp sol-gel và điện hóa là hai phương pháp phổ biến nhất. Mỗi phương pháp có những ưu điểm và nhược điểm riêng.

3.1. Phương pháp sol gel trong chế tạo lớp phủ

Phương pháp sol-gel cho phép tạo ra lớp phủ mỏng với độ đồng đều cao. Quá trình này bao gồm việc hòa tan các tiền chất và sau đó tạo ra gel, từ đó hình thành lớp phủ khi được nung nóng.

3.2. Phương pháp điện hóa và ứng dụng của nó

Phương pháp điện hóa sử dụng dòng điện để tạo ra lớp phủ trên bề mặt chất dẫn điện. Phương pháp này có thể kiểm soát độ dày và tính chất của lớp phủ một cách chính xác.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy lớp phủ platin và compozit có tính chất điện hóa vượt trội, phù hợp cho nhiều ứng dụng trong công nghiệp. Các điện cực chế tạo từ lớp phủ này đã cho thấy hiệu suất cao trong các phản ứng hóa học.

4.1. Tính chất điện hóa của lớp phủ platin

Lớp phủ platin cho thấy khả năng xúc tác tốt trong các phản ứng oxi hóa khử. Các thí nghiệm cho thấy điện cực phủ platin có dòng điện cao hơn so với điện cực không có lớp phủ.

4.2. Ứng dụng trong công nghệ năng lượng

Lớp phủ platin và compozit có thể được ứng dụng trong các nguồn năng lượng như pin nhiên liệu, nơi mà hiệu suất và độ bền của điện cực là rất quan trọng.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu về lớp phủ platin và compozit trên nền chất dẫn điện đang mở ra nhiều cơ hội mới trong lĩnh vực công nghệ vật liệu. Tương lai của nghiên cứu này hứa hẹn sẽ mang lại những giải pháp hiệu quả hơn cho các vấn đề hiện tại.

5.1. Tương lai của lớp phủ platin trong công nghiệp

Với sự phát triển của công nghệ, lớp phủ platin có thể được cải tiến để giảm chi phí và tăng hiệu suất. Nghiên cứu về các vật liệu thay thế cũng sẽ tiếp tục được đẩy mạnh.

5.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực compozit

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc phát triển các hợp chất mới và cải thiện tính chất điện hóa của chúng. Việc kết hợp nhiều loại vật liệu khác nhau sẽ mở ra nhiều khả năng mới.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu điều chế và tinh chất điện hóa của lớp phủ platin và compozit của nó trên nền chất dẫn điện

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Việc nghiên cứu chế tạo điện cực có hoạt tình xúc tác điện hóa đang thu hút được sự quan tâm của nhiều tác giả khoa học trên thế giới bởi những ứng dụng rất hiệu quả của chúng trong một số lĩnh vực công nghệ: xúc tác, chuyển hóa các hợp chất hữu cơ, chế tạo điện cực cho các nguồn điện, xử lì môi trường [8-13]. Platin vẫn được biết đến là kim loại có khả năng xúc tác tốt cho nhiều phản ứng hóa học, đặc biệt là phản ứng oxi hóa khử trong xử lì môi trường. Trong những năm trở lại đây thí có hướng nghiên cứu là phủ Platin lên bề mặt điện cực graphit đang được quan tâm. Tuy nhiên do Platin có giá thành cao cho nên người ta tím cách thay thế Platin bằng các kim loại khác hoặc bằng hỗn hợp Platin và compozit của nó đã và đang được nghiên cứu rộng rãi [10].

Trong thời gian gần đây, việc nghiên cứu chế tạo màng mỏng Platin, Thiếc, Niken và compozit của nó trên nền dẫn điện Titan được sử dụng làm điện cực xúc tác cho quá trính oxi hóa metanol, etanol đã được nhiều tác giả quan tâm [16-25]. Đây là vật liệu có nhiều tình chất ưu việt hơn hẳn các vật liệu khác nhờ kìch thước tinh thể nhỏ-cỡ nanomet, diện tìch bề mặt ví thế lớn nên dẫn đến một số tình chất khác của vật liệu thay đổi, rất phù hợp với vật liệu xúc tác. Nhằm đóng góp vào lĩnh vực này, chúng tôi tập trung nghiên cứu chế tạo màng phủ Platin; Thiếc; Niken; Platin-Thiếc, Platin-Niken; Platin-Thiếc-Niken bằng phương pháp sol-gel trên nền Graphit xốp với đề tài: Nghiên cứu điều chế và tính chất điện hóa của lớp phủ platin và compozit của nó trên nền chất dẫn điện. Luận văn bao gồm các nội dung chình sau: 1.

Khảo sát một số tình chất của vật liệu nền graphit 2. Chế tạo điện cực Graphit xốp và tình chất điện hóa của nó. Chế tạo các điện cực Graphit xốp phủ Platin; Thiếc; Niken; Platin-Thiếc, Platin-Niken; Platin-Thiếc-Niken 4. Khảo sát tình chất điện hóa của điện cực chế tạo được.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I. Giới thiệu về Platin [2,3] 1. Tính chất vật lý Platin là nguyên tố thuộc chu kỳ VI, nhóm VIII B, có cấu hính electron là [Xe]4f145d96s1. Khối lượng mol là 195 g/mol.

Platin là kim loại màu trắng bạc, có ánh kim, có mạng lưới tinh thể lập phương tâm diện. Platin có nhiệt độ nóng chảy và nhiệt độ sôi rất cao. Platin là một kim loại dẻo dai nhất, dễ kéo sợi và dễ dát mỏng: 1g Pt có thể kéo thành sợi với chiều dài 5km và có thể dát mỏng Platin tới độ dày cỡ micromet [2]. Platin rất dễ hấp phụ Hydro và Oxy, ứng dụng là vật liệu xúc tác trong các phản ứng hóa học.

Dưới đây là một số hằng số vật lý của Platin: Nhiệt nóng chảy: 1769oC Nhiệt độ sôi: 3800oC Nhiệt thăng hoa: 556 kJ/mol Tỷ khối: 21,5 g/cm3 Độ dẫn điện (Hg=1): 10 1. Tính chất hóa học [2,3] 1. Tính chất hóa học của Platin Về mặt hóa học, các kim loại họ Platin rất bền và rất kém hoạt động so với kim loại họ sắt, chúng là các kim loại quý cùng với vàng và bạc. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở điều kiện thường, Platin không bị gỉ trong không khì.

Platin tác dụng chậm với Brom lỏng ở nhiệt độ thường. Khi đun nóng, Platin tác dụng với khì Clo theo các phản ứng sau: Pt + 2Cl2 → PtCl4 (275-300oC, trong luồng Cl2) (1) Pt + 3Cl2 → (PtIIPtVI)Cl6 (400oC) (2) Pt + Cl2 → PtCl2 (500oC trong luồng Cl2) (3) Platin rất bền đối với oxi, ngay cả khi ở nhiệt độ cao. Ví vậy, những chén nung, bát nung, thuyền nung trong phòng thì nghiệm thường được làm bằng Platin. Platin rất thụ động hóa học, không phản ứng với nước, kiềm, cacbon monooxit.

Đối với các axit, Platin chỉ tan trong nước cường thủy: 2Pt + 4HNO3 + 16HCl → 2H2[PtCl6] + 4NO + 8H2O (4) Platin tan được trong axit HCl bão hòa Cl2 Pt + 2HCl (đặc, nóng) + 2Cl2 → H2[PtCl6] (5) Platin tác dụng với kiềm nóng chảy khi có mặt oxi hay chất oxi hóa khác. Bởi vậy không được nấu chảy kiềm hay nung hỗn hợp chứa kiềm trong chén hay bát làm bằng Platin mà dùng chén hay bát bằng sắt niken hoặc bạc. Một điểm đáng chú ý nữa là không được nung nóng các chén bát Platin ở vùng giữa ngọn lửa ví ở đó Cacbon tác dụng với Platin tạo thành Cacbua. Platin dễ nấu chảy với các kim loại họ Platin (trừ Ruteni và Osmi), với cả Fe, Co, Ni, Cu, Au, v.v…, khó nấu chảy với Sb, Bi, Sn, Pb, Ag.

Do đó, không được dùng chén Pt để nấu chảy kim loại và tất cả các chất có thể giải phóng kim loại ở nhiệt độ cao (ví tạo nên các hợp chất dễ nóng chảy với Pt), nấu chảy kiềm, peoxit kim loại, xyanua, sunfua, sunfit, thiosunfat. Cũng không dùng chén Pt để nấu chảy các hỗn hợp gồm có: B, Si, P, As, Sb tự do và các hợp chất của chúng với kim loại (borua, silixua…). Để làm sạch các chén Pt, ta có thể đun sôi với HCl đặc hoặc HNO3 đặc hay nấu chảy một hỗn hợp H3BO3 và KBF4. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tương tác của Pt với Hyđro phân tử cũng là một điểm nổi bật.

Platin bột và muội Platin hấp thụ một lượng đáng kể H2. Ở áp suất thường và ở 80oC, một thể tìch kim loại Platin có thể hấp thụ 100 thể tìch H2. Hợp chất của Platin (IV) Trạng thái oxi hóa +4 là đặc trưng đối với Platin a) Platin đioxit PtO2 có màu đen, được tạo nên khi nguyên tố Platin tác dụng với Oxi dưới áp suất của Oxi là 150 atm. PtO2 không tan trong nước và không tan trong nhiều axit.

b) Platin tetrahydroxit Platin tetrahydroxit Pt(OH)4 hay đúng hơn là PtO2.2H2O, là kết tủa màu nâu, kém bền với nhiệt, bị phân hủy khi đun nóng ở 400oC: 2Pt(OH)4 → 2PtO + O2 + 4H2O (6) Nó không tan trong nước, tan trong các dung dịch axit và dung dịch kiềm: Pt(OH)4 + 6HCl → H2[PtCl6] + 4H2O (7) Pt(OH)4 + 2 NaOH → Na2[[Pt(OH)6] (8) c) Các tetrahalogenua PtX4 Người ta đã biết tất cả các tetrahalogenua của Platin PtF4 PtCl4 PtBr4 PtI4 Màu nâu vàng Màu nâu-đỏ Màu nâu-đen Màu đen Tất cả các tetrahalogenua đều khá bền với nhiệt, PtF4 phân hủy thành nguyên tố ở 700 – 800oC, PtI4 phân hủy ở 370oC… Chúng tan trong nước và bị phân hủy mạnh, tetra clorua (PtCl4)dễ tan trong nước, tạo thành aquaxit H2[PtCl4(OH)2] ở trạng thái tự do. Khi có mặt HCl còn tạo nên H2[PtCl6] bền vững hơn. Axit này cũng như các hợp chất tương tự của Brom và Iot đều tách ra khỏi dung dịch dưới dạng hydrat tinh thể và có màu đặc trưng: H- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. d) Các phức chất của Pt(IV) Dạng phức chất của Pt(IV) có số lượng tương đương với số phức chất Pt(II) chúng có độ bền nhiệt động học tương đương nhau.

Có rất nhiều phức chất thuộc các dạng [PtCl6]2-, [PtX4L2] và [PtL6]4+, trong đó X = F-, Cl-, Br-, OH-, và L = NH3, amin. Ngoài những phức chất dạng [PtX4L2] người ta còn biết đến dãy phức chất hỗn hợp phối tử có thành phần biến đổi liên tục Ví dụ:  Dãy: [Pt(NH3)6]Cl4, [Pt(NH3)5Cl]Cl3, [Pt(NH3)4Cl2]Cl2, [Pt(NH3)3Cl3]Cl, [Pt(NH3)2Cl4] [Pt(NH3)Cl5], và K2[PtCl6]  Dãy: K2[Pt(OH)6], K2[Pt(OH)5Cl], K2[Pt(OH)4Cl2], K2[Pt(OH)3Cl3], K2[Pt(OH)2Cl4], K2[Pt(OH)Cl5], và K2[PtCl6] Hợp chất thông dụng nhất của Pt(IV), chất đầu tiên để điều chế hợp chất khác của Pt là hexahydrat của axit cloroplatinic H2[PtCl6]. Axit Cloroplatinic là chất dạng tinh thể màu đỏ nâu, chảy rữa trong không khì ẩm, tan trong nước cho dung dịch màu vàng, tan trong rượu và ete. Axit cloroplatinic là axit mạnh.

Muối của cloroplatinat của natri và nhiều kim loại khác đều tan trong khi muối của K+, Rb+, Cs+,NH4+ lại khó tan. Bởi vậy người ta thường dùng axit cloroplatinic để kết tủa những cation đó: H2[PtCl6] + 2KCl → K2[PtCl6] + 2HCl (9) Dung dịch H2[PtCl6] tác dụng với ion Ag+ không cho kết tủa AgCl mà cho kết tủa bạc cloroplatinat Ag2[PtCl6] màu đỏ tươi. Điều đó cho thấy rõ ràng nồng độ của ion Cl- trong dung dịch axit là rất bé, nghĩa là ion phức [PtCl6]2- rất bền LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khi tác dụng với dung dịch kiềm, ion Cl- trong H2[PtCl6] được liên tiếp thay thế bằng ion OH- khi kiềm dư, phản ứng thay thế xảy ra hoàn toàn tạo thành muối M2[Pt(OH)6] màu vàng nhạt trong đó M là kim loại kiềm: H2[PtCl6] +8NaOH → Na2[Pt(OH)6] + 6NaCl + 2HCl (10) 1. Ứng dụng của Platin Platin có ứng dụng thực tế lớn.

Các chén trong phòng thì nghiệm và một số bộ phận máy trong hóa học được làm bằng Platin. Trong điện kỹ thuật, người ta dùng platin để làm các cuộn dây đốt trong các lò điện, làm các dụng cụ đo nhiệt độ cao (nhiệt kế điện trở và pin nhiệt điện). Hoạt động của cặp nhiệt điện dựa vào việc tăng nhiệt độ đều đặn của sợi dây Platin rất mảnh khi đun nóng. Cho nên khi đo điện trở, ta có thể xác định được nhiệt độ của không gian xung quanh sợi dây.

Tạp chất Iridi có trong Platin làm tăng mạnh độ cứng và độ bền hóa học của Platin. Thước mẫu quốc tế đặt ở Pari làm bằng hợp kim chứa 90% Pt và 10% Ir [2]. Hợp kim của platin với rodi (90% Pt và 10% Rh) dùng làm pin nhiệt điện và các lưới làm nhiệm vụ xúc tác khi điều chế HNO3 từ amoniac. Một ứng dụng quan trọng của Platin là làm chất xúc tác cho quá trính sản xuất trong công nghiệp hóa học.

Tuy nhiên, gần đây, gần một nửa lượng platin khai thác trên thế giới được dùng để chế tạo đồ trang sức [2]. Giới thiệu về Thiếc [1] 1. Tính chất vật lý Thiếc là nguyên tố thuộc phân nhóm chình nhóm IV, Thiếc chiếm 6.10 -4 % của vỏ trái đất. Khoáng vật chình của Thiếc là caxiterit (SnO2).

Trong công nghiệp, Thiếc được sản xuất bằng cách dùng than khử caxiterit ở trong lò đứng hoặc lò lửa ở nhiệt độ khoảng 1300oC SnO2 + 2C →Sn + 2CO (11) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thiếc có ba dạng thù hính có thể biến đổi lẫn nhau sinh ra những cân bằng ở các nhiệt độ nhất định. Sn   Sn  Sn  0 0 13,2 C 161 C Thiếc α có cấu trúc tinh thể kiểu kim cương, nó là chất bột màu xám, không có ánh kim và có tỷ khối là 5,75. Nó bền ở nhiệt độ dưới 13,2oC. Ở trên nhiệt độ đó thiếc chuyển sang dạng β.

Thiếc β có màu trắng bạc nên gọi là thiếc trắng, tỷ khối là 7,31, bền trong khoảng nhiệt độ từ 13,2oC đến 161oC. Ở nhiệt độ 161oC, Thiếc β chuyển thành thiếc γ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Nghiên cứu điện hóa lớp phủ platin và compozit trên nền chất dẫn điện cung cấp cái nhìn sâu sắc về các phương pháp và ứng dụng của lớp phủ platin và vật liệu compozit trong lĩnh vực điện hóa. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ cấu trúc và tính chất của các lớp phủ mà còn nhấn mạnh vai trò quan trọng của chúng trong việc cải thiện hiệu suất của các thiết bị điện hóa, như pin nhiên liệu và cảm biến. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách mà các lớp phủ này có thể tối ưu hóa quá trình điện hóa, từ đó mở ra hướng đi mới cho nghiên cứu và ứng dụng trong công nghệ hiện đại.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo tài liệu Nghiên cứu cấu trúc hình học và điện tử của cụm nguyên tử chứa kim loại chuyển tiếp bằng phương pháp tính toán lượng tử định hướng ứng dụng cho vật liệu xúc tác. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cấu trúc và tính chất điện tử của các nguyên tử kim loại, từ đó liên hệ với ứng dụng trong vật liệu xúc tác, một lĩnh vực có liên quan mật thiết đến nghiên cứu lớp phủ điện hóa.