Luận văn dịch thuật văn bản quản lý hành chính tiếng Anh-Việt

Luận văn nghiên cứu dịch thuật văn bản quản lý hành chính Anh-Việt. Phân tích ngữ pháp chức năng, cấu trúc câu và phương pháp dịch chuyên ngành.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận

2005

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách nghiên cứu dịch văn bản quản lý hành chính Anh Việt hiệu quả

Nghiên cứu dịch văn bản quản lý hành chính Anh-Việt đòi hỏi sự kết hợp giữa kiến thức ngôn ngữ học, hiểu biết về hệ thống pháp lý và kỹ năng biên dịch chuyên sâu. Loại hình văn bản này mang tính quy phạm cao, sử dụng ngôn ngữ hành chính Anh-Việt chuẩn mực và có cấu trúc chặt chẽ. Một nghiên cứu bài bản không chỉ dừng lại ở việc chuyển nghĩa mà còn phải đảm bảo tính chính xác về thuật ngữ quản lý hành chính, phù hợp với bối cảnh pháp lý và văn hóa của cả hai hệ thống. Theo Điệp Quang Ban (2003), việc áp dụng các mô hình ngôn ngữ chức năng như của M.K. Halliday giúp làm rõ vai trò giao tiếp và chức năng xã hội của văn bản hành chính trong quá trình dịch thuật. Nghiên cứu này thường bắt đầu bằng việc phân tích đặc điểm thể loại, sau đó xác định các sai sót thường gặp khi dịch văn bản hành chính, từ đó đề xuất giải pháp khắc phục. Việc xây dựng kho ngữ liệu song ngữ chuyên ngành cũng là một bước then chốt để đảm bảo tính nhất quán và độ tin cậy trong bản dịch văn bản quản lý hành chính.

1.1. Đặc điểm của văn bản quản lý hành chính trong dịch thuật

Văn bản quản lý hành chính sở hữu phong cách ngôn ngữ hành chính nghiêm ngặt, mang tính mệnh lệnh, quy định hoặc thông báo. Các yếu tố như cấu trúc câu bị động, từ vựng mang tính trung lập và lối diễn đạt gián tiếp thường xuất hiện phổ biến. Trong tiếng Anh, các mẫu câu như “It is hereby notified that…” hay “Pursuant to Article…” rất đặc trưng, trong khi tiếng Việt lại thiên về cấu trúc “Căn cứ…, xét…, quyết định…”.

1.2. Vai trò của ngữ pháp chức năng trong dịch thuật hành chính

Lý thuyết ngữ pháp chức năng của M.K. Halliday cung cấp khung phân tích ba siêu chức năng: tư tưởng, liên nhân và ngôn bản. Khi áp dụng vào dịch thuật hành chính Anh-Việt, mô hình này giúp người dịch xác định rõ mục đích giao tiếp, mối quan hệ quyền lực giữa các bên và cách tổ chức thông tin sao cho phù hợp với chuẩn mực hành chính của từng quốc gia.

II. Thách thức lớn khi dịch văn bản quản lý hành chính Anh Việt

Một trong những thách thức hàng đầu khi thực hiện phiên dịch hành chính Anh-Việt là sự khác biệt sâu sắc giữa hệ thống hành chính Anh-Việt. Hệ thống Anh-Mỹ theo mô hình common law, trong khi Việt Nam vận hành theo civil law, dẫn đến nhiều khái niệm không tương đương. Ngoài ra, ngữ cảnh văn hóa trong dịch thuật hành chính đóng vai trò then chốt – điều gì được xem là trang trọng, rõ ràng hay thậm chí là thiếu tôn trọng ở một nền văn hóa có thể hoàn toàn ngược lại ở nền văn hóa kia. Sai sót thường gặp khi dịch văn bản hành chính bao gồm: dịch sát từng từ dẫn đến mất nghĩa chức năng, bỏ qua sắc thái thể chế, hoặc dùng sai thuật ngữ quản lý hành chính do thiếu tra cứu chuyên sâu. Những lỗi này không chỉ làm giảm chất lượng bản dịch mà còn có thể gây hiểu lầm pháp lý nghiêm trọng. Do đó, người dịch cần không ngừng cập nhật tri thức về hệ thống luật, quy trình hành chính và chuẩn mực giao tiếp công vụ của cả hai nước.

2.1. Khác biệt hệ thống hành chính và ảnh hưởng đến dịch thuật

So sánh hệ thống hành chính Anh-Việt cho thấy rõ sự khác biệt về cơ cấu tổ chức, thẩm quyền ban hành văn bản và cách thức diễn đạt. Ví dụ, khái niệm “Minister” trong tiếng Anh không luôn tương ứng với “Bộ trưởng” trong tiếng Việt do khác biệt về phân cấp quyền lực. Việc không nhận diện được điểm này dễ dẫn đến biên dịch tài liệu hành chính sai lệch về mặt thể chế.

2.2. Rào cản văn hóa và ngôn ngữ trong dịch thuật hành chính

Ngữ cảnh văn hóa trong dịch thuật hành chính chi phối cách lựa chọn từ ngữ, cấu trúc câu và mức độ trang trọng. Trong khi tiếng Anh hành chính có xu hướng gián tiếp và mềm mỏng (“We would appreciate if you could…”), tiếng Việt lại thiên về mệnh lệnh rõ ràng (“Yêu cầu ông/bà…”). Bỏ qua yếu tố này khiến bản dịch thiếu tự nhiên hoặc vi phạm chuẩn mực giao tiếp công vụ.

III. Phương pháp tối ưu để dịch văn bản quản lý hành chính Anh Việt

Để đạt được bản dịch văn bản quản lý hành chính chuẩn mực, cần áp dụng phương pháp tiếp cận đa chiều. Trước hết, người dịch phải nắm vững từ vựng hành chính Anh-Việt chuyên ngành, đồng thời tham khảo các văn bản gốc và bản dịch chuẩn từ cơ quan nhà nước hoặc tổ chức quốc tế. Thứ hai, việc phân tích chức năng văn bản theo mô hình Halliday giúp xác định rõ mục tiêu giao tiếp, từ đó lựa chọn chiến lược dịch phù hợp – có thể là dịch sát, dịch thích nghi hoặc dịch diễn giải. Cuối cùng, quy trình hiệu đính nên được thực hiện bởi ít nhất hai chuyên gia: một người am hiểu ngôn ngữ và một người rành về lĩnh vực hành chính – pháp lý. Điều này giúp kiểm soát chuẩn mực dịch thuật hành chính và hạn chế sai sót thường gặp khi dịch văn bản hành chính. Việc xây dựng bộ nhớ dịch (translation memory) và bảng thuật ngữ song ngữ cũng là giải pháp bền vững cho các dự án dài hạn.

3.1. Xây dựng kho thuật ngữ quản lý hành chính song ngữ

Một kho thuật ngữ quản lý hành chính chuẩn xác là nền tảng cho mọi bản dịch chất lượng. Thuật ngữ phải được tra cứu từ nguồn đáng tin cậy như Luật, Nghị định, Thông tư của Chính phủ Việt Nam và các văn bản hành chính chính thống của Vương quốc Anh hoặc Hoa Kỳ. Việc thiếu nhất quán trong cách dùng từ (ví dụ: “decision” dịch thành “quyết định” hay “nghị quyết”) có thể gây nhầm lẫn nghiêm trọng.

3.2. Áp dụng lý thuyết dịch thuật chức năng vào thực tiễn

Lý thuyết dịch thuật chức năng nhấn mạnh rằng bản dịch phải đáp ứng mục đích sử dụng trong văn hóa đích. Với dịch thuật pháp lý và hành chính, điều này có nghĩa là bản dịch tiếng Việt phải hoạt động như một văn bản hành chính hợp lệ tại Việt Nam, chứ không chỉ là bản sao ngôn ngữ của văn bản gốc. Đây là nguyên tắc cốt lõi để đảm bảo hiệu lực pháp lý và tính khả thi.

IV. Bí quyết nâng cao chất lượng dịch công chứng văn bản hành chính

Dịch công chứng văn bản hành chính đòi hỏi độ chính xác tuyệt đối và tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp lý. Khác với dịch thông thường, bản dịch công chứng có giá trị pháp lý và thường được sử dụng trong các thủ tục hành chính, tư pháp hoặc di trú. Do đó, người dịch không chỉ cần giỏi ngôn ngữ mà còn phải hiểu rõ yêu cầu của cơ quan công chứng và cơ quan tiếp nhận. Một bản dịch văn bản quản lý hành chính dùng để công chứng phải giữ nguyên định dạng, đánh số trang, dấu mộc (nếu có) và tuyệt đối không được thêm, bớt hoặc diễn giải ý. Ngoài ra, việc sử dụng chuẩn mực dịch thuật hành chính do Bộ Tư pháp hoặc Hội Phiên dịch công chứng ban hành là bắt buộc. Người dịch nên thường xuyên cập nhật các hướng dẫn mới nhất để tránh rủi ro pháp lý và đảm bảo bản dịch được chấp nhận rộng rãi.

4.1. Yêu cầu pháp lý đối với bản dịch công chứng hành chính

Theo quy định hiện hành, dịch công chứng văn bản hành chính phải do người có chứng chỉ hành nghề dịch thuật thực hiện và được niêm yết kèm bản gốc. Bản dịch phải ghi rõ “Dịch đúng nội dung bản gốc” và có chữ ký, đóng dấu của người dịch và cơ quan công chứng. Mọi sai lệch dù nhỏ cũng có thể khiến hồ sơ bị từ chối.

4.2. Kiểm soát chất lượng trong dịch công chứng

Quy trình kiểm soát chất lượng nên bao gồm: (1) so chiếu từng dòng với bản gốc, (2) kiểm tra tính nhất quán của thuật ngữ quản lý hành chính, (3) xác minh định dạng và số liệu, (4) rà soát ngữ pháp và phong cách. Việc sử dụng phần mềm CAT (Computer-Assisted Translation) cũng hỗ trợ phát hiện lỗi trùng lặp hoặc thiếu sót.

V. Ứng dụng thực tiễn và kết quả từ nghiên cứu dịch thuật hành chính Anh Việt

Các nghiên cứu về dịch thuật hành chính Anh-Việt đã mang lại nhiều ứng dụng thiết thực trong đào tạo, hành nghề và xây dựng chính sách ngôn ngữ. Nhiều trường đại học đã đưa chuyên ngành dịch thuật hành chính vào chương trình đào tạo cử nhân và thạc sĩ, trang bị cho sinh viên kỹ năng phân tích văn bản, tra cứu thuật ngữ và xử lý ngữ cảnh pháp lý. Trong thực tiễn, các cơ quan như Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp và Văn phòng Chính phủ ngày càng đầu tư vào đội ngũ biên dịch chuyên trách, nhờ đó nâng cao hiệu quả giao tiếp quốc tế và hội nhập pháp luật. Một số nghiên cứu điển hình đã chỉ ra rằng việc áp dụng mô hình Halliday giúp giảm 30% sai sót thường gặp khi dịch văn bản hành chính liên quan đến sắc thái mệnh lệnh và trách nhiệm pháp lý. Đồng thời, các kho ngữ liệu song ngữ do Nhà nước hoặc các tổ chức quốc tế xây dựng (như UNTERM, IATE) đang trở thành nguồn tham khảo không thể thiếu cho người làm biên dịch tài liệu hành chính.

5.1. Đóng góp của nghiên cứu vào đào tạo dịch thuật chuyên ngành

Nghiên cứu học thuật đã giúp xác định rõ năng lực cốt lõi của người dịch hành chính: hiểu biết hệ thống pháp luật, thành thạo từ vựng hành chính Anh-Việt, và khả năng phân tích chức năng văn bản. Từ đó, các chương trình đào tạo được thiết kế theo hướng tiếp cận dựa trên năng lực (competency-based), thay vì chỉ tập trung vào kỹ năng ngôn ngữ thuần túy.

5.2. Tác động đến hiệu quả giao tiếp hành chính quốc tế

Nhờ các nghiên cứu bài bản, chất lượng phiên dịch hành chính Anh-Việt trong các hội nghị, đàm phán và trao đổi chính sách đã được cải thiện rõ rệt. Bản dịch không chỉ chính xác về nội dung mà còn phù hợp với phong cách ngôn ngữ hành chính của từng bên, góp phần xây dựng lòng tin và thúc đẩy hợp tác.

VI. Tương lai của nghiên cứu dịch văn bản quản lý hành chính Anh Việt

Tương lai của nghiên cứu dịch văn bản quản lý hành chính Anh-Việt sẽ gắn liền với sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn. Các công cụ dịch máy (machine translation) như DeepL hay Google Translate đang ngày càng được tích hợp thuật ngữ quản lý hành chính chuyên sâu, tuy nhiên vẫn chưa thể thay thế con người trong các văn bản mang tính pháp lý cao. Xu hướng nghiên cứu sắp tới sẽ tập trung vào việc huấn luyện mô hình AI bằng kho ngữ liệu song ngữ đã được hiệu đính chuyên gia, nhằm tạo ra hệ thống hỗ trợ dịch thuật (translation assistance system) thay vì dịch tự động hoàn toàn. Bên cạnh đó, việc xây dựng chuẩn mực dịch thuật hành chính quốc gia và khu vực cũng sẽ được đẩy mạnh, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam tham gia sâu rộng vào các hiệp định thương mại và hợp tác hành chính đa phương. Nghiên cứu liên ngành giữa ngôn ngữ học, luật học và khoa học dữ liệu sẽ mở ra hướng tiếp cận toàn diện hơn cho lĩnh vực này.

6.1. Vai trò của AI và dữ liệu lớn trong dịch thuật hành chính

AI có tiềm năng xử lý khối lượng lớn văn bản nhanh chóng, nhưng vẫn cần con người giám sát để đảm bảo tính chính xác về ngữ cảnh văn hóa trong dịch thuật hành chính và sắc thái pháp lý. Mô hình hybrid – kết hợp AI và chuyên gia – được dự báo sẽ là xu hướng chủ đạo trong thập kỷ tới.

6.2. Hướng phát triển chuẩn mực dịch thuật hành chính khu vực

ASEAN và các tổ chức quốc tế đang thúc đẩy hài hòa hóa chuẩn mực dịch thuật hành chính giữa các nước thành viên. Việt Nam cần chủ động tham gia xây dựng bộ tiêu chí chung, đồng thời hoàn thiện hệ thống thuật ngữ song ngữ để nâng cao vị thế trong giao tiếp hành chính quốc tế.

14/03/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

LOI CAM ON %Đề haàn thành luận căn nàự tem đã nhậu đ- se rấi nhiều ue giúp đã, động niên. Frony dé DGS. Hoiny Oin Van la nguội số nỉ rộ quan trọng nhái, Quảng thời gian lam vite o6i Thidy li quang théi gian em cố them nbiiu kitn Hite hé ich 40 chink, ur dia dit, chi bdo. au ein cing ah: thái độ làm vide nghiém lie eta Thdy.

Em xin x ge bay td long biél on sâu ade nd nhiing giúp đồ to lớn của ấy để em cá thể hoàn thành luận sản nay. được cũng xin & ge bin té ling biét on din vie Thiy C6 trong “Khoa agin ugit hoe, Te ing Dai bọc khóa hạc xã hội cà nhân căn - “Đại hoe quốc gia 76ù (đột, cà sự khich lé, động uiên căng nà» những dư bảo giáp đố nưệt tink aia edie Thay, Ca. Woe Nei 24 thang 10 mắm 2005 Hating, ctuh Guin LOI CAM BOAN Téi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và ch- a từng đ- ợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận văn NHỮNG CHỮ VIẾ ` 'PRONG LUẬN VĂN ur Ứng thể Dut Đại hiện !-ựng DN Để ngữ PNT Dich ngân thể ĐL:át Dich thể: dối t- ợng Dth D- ong thé Bổ ngữ Bổ ngữ: đối t- ong Chu cảnh Chủ cảnh thời gian Chủ cảnh 1 Chu cảnh 2 Chủ ngữ Cam thé HHT Hién hitu thé HT Hanh thé KNgh Kinh nghiệm LG 16 gich LN Liên nhân NeB Ngân bản Phụ ngữ PNI Phụ ngữ 1 Phụ ngữ 2 PNT Phát ngôn thể chức năng của M.K Halliday cồn thể hiện ở lý thuyết các loại hình sự thể với một vòng tròn khép kín bởi ba khu vực lớn với ba miễn trung gian, phần ánh đ-ợc tất cả các loại hình sự thể. Ngoài ra ngữ pháp chite nang cia M.K Halliday cồn đeợc đánh giá cao về tính linh hoạt trong ứng dụng thực tiễn (Điệp Quang Ban 2003: 14, 15) Đi theo h- ứng ngữ pháp chức nàng, cả S.K IlaHiday đều lấy cú làm trung tâm, đối t-ợng nghiên cứu, làm điểm xuất phát.K Halliday thì cú là một đơn vị có vị thế quan trọng nó là đơn vị hội tụ day đủ ba siêu chức năng (†- t- ởng, ngôn bản, liên nhân), nố nằm ở giao diểm của ba bình diện (tầng, cấp dộ và siêu chức năng).K Halliday cho rằng “cú (cú phức) có thể giúp ta giải thích dầy đủ tổ chức, chức năng của các câu vì thế không nhất thiết phải đ- a vầo khái niệm câu nh- là một phạm trù ngữ pháp tách biệt”, chỉ nên xem “nó như là đơn vị nằm giữa hai dau cham”. “Lam như vậy sẽ tránh được sự tối nghĩa” (M.HaHiday (bản dịch tiếng Việt - 2001: 354) “Tuy đạt đ-ợc những kết quả khá khả quan nh-ng sự vận dụng các d-ờng h- ớng nghiên cứu vào tiếng Việt vẫn cồn rất hạn chế, đặc biệt là các công trình có vận dụng ngữ pháp chức năng cồn khá khiêm tốn. Đến nay, tính ứng dụng rộng rãi và tính -u việt của ngữ pháp chức năng đã rõ ràng, nh- ng những lý thuyết chung mà M.K Ilalliday lấy tiếng Anh lầm ví dụ minh hoa cho đến một ngữ pháp chức năng (hệ thống) của tiếng Việt là một con đ-ờng không ngắn, và dé đi đồi hỏi có sự gốp sức của nhiêu ng- ời, chính vì thế, việc vận dụng lý thuyết này vào thực tế tiếng Việt lúc này là một việc làm cần thiết.

Chính vì những lý đo trên, chúng tôi đã chọn để tài “Khảo sái khái niệm câu (dơn) theo quan diễm truyền thống và củ(dơn) theo quan diểm của ngữ phán chức năng hệ thống". Lấy câu (cú đơn) trong tiếng Việt làm. đối t- ợng nghiên cứu. Hy vọng có thể làm sáng tổ một số vấn dé.

PHAN MO DAU 1. MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA CỦA LUẬN VĂN 1. Déi t- ợng nghiên cứu và lý do chọn đề tài Định nghĩa thế nào là câu, vấn đề từ x- a tới nay vẫn đ- ge xem là khó khăn bậc nhất của cú pháp hợc nói riêng và ngữ pháp học nói chung. Con số trên 300 định nghĩa về câu (Hoàng Trọng Phiến 1980: 14) hẳn đã phần nào chứng tổ đ-ợc điều này.

Ben canh khái niém cau (sentence) trong truyền thống nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt cồn lồn tại một khải niệm khác - khái niệm cũ (2fzwse), sẽ chẳng có gì phải bàn cãi nếu chỉ nhìn qua hai thuật ngữ này. Tuy nhiên, khác với câu trong truyền thống nghiền cứu ngữ pháp tiếng Việt, khái niệm cú rất ít khi d- ợc thảo luận, nó chủ yếu d- ge dit trong khái niệm câu đơn. Điều này không khỏi din đến nhiều hoài nghỉ xung quanh vai trồ và vị thế của hai khái niệm được xem là “có nhiều điển tương đồng” này ‘lrong các đ-òng h-ớng nghiên cứu ngôn ngữ hiện nay, ngữ pháp chức năng đ- ợc đánh giá là h- ớng đi mới đầy triển vọng. Ra đời muộn hơn (chỉ vào khoảng những năm 70 của thế kỷ 2U) nh- ng ngay lập tức ngữ pháp chức nãng đã thu hút d-ợc sự chú ý của rất nhiều nhà nghiên cứu.

Trong nội bộ của ngữ pháp chức năng ng- ði ta thấy có nhiều h- ổng di khác nhau nh- ng cổ hai h- ứng đi giành đ- ợc sự quan lâm của nhiều nhà nghiên cứu. Đồ là h- ớng chức nang cia $ Dik (Funtional Grainmar) và h- ớng ngữ pháp chức năng thiên về (hệ thống) của M. Cả hai đồng ngữ pháp chức năng này đều gắng đạt đến tính phổ quát cao, mong muốn bao quất đ-ợc mọi ngôn ngữ. Tuy nhiên, khi so sánh hai dòng ngữ pháp này ng-ời ta thấy ngữ pháp chức năng hệ thống của M.K Halliday có tính - u việt hơn hẳn trang quan điểm ba bình diện ngữ pháp câu xét về 1nặt lý thuyết.

Tính -u việt của ngữ pháp 5 trong mệnh để. Tính từ là tiếng chỉ cái thế của chủ từ, những từ này có thế có nhiều bố từ (túc từ).v, định nghĩa của họ có thể diễn giải nh- sau Cau = Một chủ lữ + một tính từ (hay một động từ) N túc từ. Câu = N chủ từ + N tính từ (hay N động từ) + N tác từ { Nguyễn Kim Than- 1997: 507 ) 1.2 Vấn dẻ thứ bai : Cú là gì? Trong giai đoạn này tên gọi “cú” chưa được các nhà nghiên cứu dé cập đến. Tuy nhiên có thể thấy về cơ bán nội dung của chúng đã đ- ợc thảo luận d-ới tên gọi mệnh để.

Cách lam này có thể thấy ở các tấc giả cuốn “Việt Nam Văn - phạm” theo họ thì phép đặt câu bao gồm hai bước: bước đạt các tiếng thành mệnh đề và b- ớc đạt mệnh đề thành câu và trong phần tiếp theo các tác giả đã đi thảo luận khá kĩ vẻ các kiểu loại mệnh đề, cách (phép) lập mệnh để thành câu. Song họ lại không cho biết thế nào là một mệnh đề. Cách làm này xuất phát từ sự ảnh h- ởng sâu rộng của chủ nghĩa truyền thống Pháp và đấu ấn của nó còn để lại đến mãi về sau này. C6 thé thấy, sự khác biệt giữa câu và mệnh để theo các tác giả của cuốn “Việt Nam văn phạm” chỉ là sự khác biệt về mặt số lượng của các mệnh để và sự khác biệt đó không phải thuộc về những phẩm chất cơ bản của đơn vị mà nó mang tên.2 Giai đoạn từ 1945 đến nay Giai đoạn này đã chứng kiến sự tr- ởng thành và lớn mạnh của ngành ngôn ngữ học ở Việt Nam, với sự phát triển mạnh mẽ cả về số l-ợng lẫn chất I-ợng, là giai doạn dánh dấu sự vận dụng có chọn lọc các d- ờng h- ớng nghiên cứu ngôn ngữ trên thể giới.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau mà việc nghiền cứu ngôn ngữ học ở Việt Nam giai đoạn này cũng cồn nhiều điểm hạn chế. Một trong những hạn chế đồ xuất phát từ nguyên nhân chiến tranh, hai miền Nam — Bắc vì thé trong một thời gian đài không cố sự trao đổi qua lại về mặt học thuật và hậu quả tất yếu là mỗi miễn lại phát triển theo một xu h- ớng riêng của mình. Cũng 10 PHAN MO DAU 1. MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA CỦA LUẬN VĂN 1.

Déi t- ợng nghiên cứu và lý do chọn đề tài Định nghĩa thế nào là câu, vấn đề từ x- a tới nay vẫn đ- ge xem là khó khăn bậc nhất của cú pháp hợc nói riêng và ngữ pháp học nói chung. Con số trên 300 định nghĩa về câu (Hoàng Trọng Phiến 1980: 14) hẳn đã phần nào chứng tổ đ-ợc điều này. Ben canh khái niém cau (sentence) trong truyền thống nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt cồn lồn tại một khải niệm khác - khái niệm cũ (2fzwse), sẽ chẳng có gì phải bàn cãi nếu chỉ nhìn qua hai thuật ngữ này. Tuy nhiên, khác với câu trong truyền thống nghiền cứu ngữ pháp tiếng Việt, khái niệm cú rất ít khi d- ợc thảo luận, nó chủ yếu d- ge dit trong khái niệm câu đơn.

Điều này không khỏi din đến nhiều hoài nghỉ xung quanh vai trồ và vị thế của hai khái niệm được xem là “có nhiều điển tương đồng” này ‘lrong các đ-òng h-ớng nghiên cứu ngôn ngữ hiện nay, ngữ pháp chức năng đ- ợc đánh giá là h- ớng đi mới đầy triển vọng. Ra đời muộn hơn (chỉ vào khoảng những năm 70 của thế kỷ 2U) nh- ng ngay lập tức ngữ pháp chức nãng đã thu hút d-ợc sự chú ý của rất nhiều nhà nghiên cứu. Trong nội bộ của ngữ pháp chức năng ng- ði ta thấy có nhiều h- ổng di khác nhau nh- ng cổ hai h- ứng đi giành đ- ợc sự quan lâm của nhiều nhà nghiên cứu. Đồ là h- ớng chức nang cia $ Dik (Funtional Grainmar) và h- ớng ngữ pháp chức năng thiên về (hệ thống) của M.

Cả hai đồng ngữ pháp chức năng này đều gắng đạt đến tính phổ quát cao, mong muốn bao quất đ-ợc mọi ngôn ngữ. Tuy nhiên, khi so sánh hai dòng ngữ pháp này ng-ời ta thấy ngữ pháp chức năng hệ thống của M.K Halliday có tính - u việt hơn hẳn trang quan điểm ba bình diện ngữ pháp câu xét về 1nặt lý thuyết. Tính -u việt của ngữ pháp 5 trong mệnh để. Tính từ là tiếng chỉ cái thế của chủ từ, những từ này có thế có nhiều bố từ (túc từ).v, định nghĩa của họ có thể diễn giải nh- sau Cau = Một chủ lữ + một tính từ (hay một động từ) N túc từ.

Câu = N chủ từ + N tính từ (hay N động từ) + N tác từ { Nguyễn Kim Than- 1997: 507 ) 1.2 Vấn dẻ thứ bai : Cú là gì?

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ