Tổng quan nghiên cứu

Chăn nuôi lợn đóng vai trò trụ cột trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp tại tỉnh Thanh Hóa, địa phương có quy mô đàn lợn đứng thứ hai khu vực Bắc Trung Bộ với tổng đàn đạt 945.034 con vào tháng 10 năm 2016. Trong đó, 11 huyện miền núi chiếm 30,9% tổng đàn toàn tỉnh với 292.999 con, chủ yếu phát triển theo hình thức chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ chiếm 64,3% tương đương 608.080 con. Tuy nhiên, tình hình dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, đặc biệt là bệnh Dịch tả lợn cổ điển do virus gây ra, liên tục tái diễn và gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng. Điển hình vào năm 2014, ổ dịch bùng phát tại xã Phú Nhuận thuộc huyện Quan Hóa đã làm chết 226 con lợn; tiếp đó năm 2016 dịch lây lan trên diện rộng tại các huyện Quan Hóa, Quan Sơn làm tiêu hủy và chết gần 500 con lợn.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là xác định quy luật dịch tễ học và đánh giá hiệu lực đáp ứng miễn dịch của vắc xin phòng bệnh Dịch tả lợn tại khu vực vùng cao có địa hình chia cắt phức tạp. Đề tài hướng tới hai mục tiêu cụ thể: Thứ nhất, điều tra toàn diện các đặc điểm dịch tễ của bệnh Dịch tả lợn tại 3 huyện miền núi Quan Sơn, Quan Hóa và Mường Lát trong giai đoạn 2014 - 2016. Thứ hai, khảo sát mức độ đáp ứng kháng thể bảo hộ của đàn lợn sau khi tiêm phòng vắc xin dịch tả lợn nhược độc bằng phản ứng miễn dịch liên kết enzym.

Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp cơ sở khoa học để các cơ quan quản lý thú y điều chỉnh lịch tiêm phòng, kiểm soát tỷ lệ tử vong vốn lên đến 90,80% ở các ca mắc bệnh, đồng thời nâng cao tỷ lệ bảo hộ thực tế của đàn lợn tại vùng sâu vùng xa lên trên ngưỡng an toàn 80%, bảo vệ sinh kế bền vững cho người chăn nuôi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết virus học hiện đại và dịch tễ học thú y truyền nhiễm. Virus dịch tả lợn cổ điển (Classical Swine Fever Virus - CSFV) là thành viên thuộc giống Pestivirus, họ Flaviviridae. Hạt virus có cấu trúc hình cầu đường kính 40 - 50 nanomet, mang bộ gen RNA sợi đơn dương dài khoảng 12 kilobase bao bọc bởi màng lipoprotein ngoài. Hai glycoprotein bề mặt quan trọng là E1 (trọng lượng phân tử 55 kilodalton) và E2 (46 kilodalton) đóng vai trò then chốt trong việc gắn kết thụ thể tế bào vật chủ và kích thích cơ thể sản sinh kháng thể trung hòa đặc hiệu.

Quá trình sinh bệnh học của virus dịch tả lợn diễn ra qua ba giai đoạn liên hoàn: nhân lên tại hạch lympho vùng hầu họng, xâm nhập vào máu gây hội chứng virus huyết kèm sốt cao 41 - 42 độ C, sau đó định vị tại các cơ quan nội tạng và phá hủy hệ lưới nội bì mạch quản. Tình trạng xuất huyết hoại tử lan rộng và phá hủy tế bào lympho T, lympho B dẫn đến hiện tượng suy giảm miễn dịch trầm trọng, tạo điều kiện cho các vi khuẩn kế phát gây bệnh.

Các khái niệm chuyên ngành cốt lõi trong nghiên cứu bao gồm:

  1. Thể bệnh dịch tả lợn cấp tính, mạn tính và thể tiềm ẩn: Phân loại dựa trên độc lực của chủng virus, thời gian ủ bệnh và phản ứng đáp ứng miễn dịch của cơ thể vật chủ.
  2. Hệ số tháng dịch: Chỉ số định lượng xác định mùa dịch trong năm khi tỷ lệ chết trung bình ngày trong một tháng cao hơn tỷ lệ chết trung bình ngày của cả năm.
  3. Tỷ lệ bảo hộ kháng thể: Tỷ lệ mẫu huyết thanh có hiệu giá kháng thể trung hòa đạt mức bảo vệ động vật sống sót khi tiếp xúc với virus cường độc ngoài tự nhiên.
  4. Miễn dịch thụ động qua sữa đầu: Nguồn kháng thể mẹ truyền bảo hộ lợn con trong những tuần đầu đời nhưng có thể ức chế đáp ứng miễn dịch chủ động nếu tiêm vắc xin không đúng thời điểm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp dịch tễ học mô tả và dịch tễ học phân tích trên tập dữ liệu thứ cấp gồm 186.729 lượt con thuộc tổng đàn 3 huyện Quan Sơn, Quan Hóa và Mường Lát từ năm 2014 đến 2016 do Chi cục Thú y tỉnh Thanh Hóa và các trạm thú y lưu trữ. Phương pháp điều tra hồi cứu giúp xác định tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ chết, tỷ lệ tử vong theo từng năm, theo lứa tuổi, phương thức chăn nuôi và giống lợn.

Đối với nội dung đánh giá đáp ứng miễn dịch, nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích. Cỡ mẫu theo dõi dọc gồm 186 cá thể lợn khỏe mạnh được tiêm vắc xin dịch tả lợn nhược độc chủng C (mỗi huyện gồm 40 lợn thịt, 15 lợn nái và 7 lợn đực giống). Mẫu máu tĩnh mạch tai hoặc vịnh tĩnh mạch cổ được thu thập ở thể tích 5 ml tại các mốc thời gian 21 ngày, 90 ngày và 180 ngày sau tiêm vắc xin.

Phương pháp xét nghiệm huyết thanh học sử dụng kỹ thuật ELISA gián tiếp với bộ kít thương mại IDEXX theo Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 5273:2010. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhờ độ nhạy vượt trội, độ đặc hiệu cao, thời gian phân tích nhanh dưới 24 giờ và khả năng định lượng chính xác tỷ lệ ức chế của kháng thể so với mẫu đối chứng. Mẫu được xác định dương tính khi tỷ lệ ức chế đạt từ 40% trở lên và đạt mức bảo hộ khi độ pha loãng huyết thanh trên 1/4 vẫn cho kết quả dương tính.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tỷ lệ mắc bệnh Dịch tả lợn trung bình tại 3 huyện miền núi giai đoạn 2014 - 2016 duy trì ở mức 0,83%. Tỷ lệ mắc cao nhất ghi nhận vào năm 2014 với 1,05% tương ứng 540 con ốm trên tổng đàn 51.170 con, giảm mạnh xuống 0,27% vào năm 2015 và tăng nhẹ lên 0,64% vào năm 2016. Huyện Quan Hóa có tỷ lệ mắc bệnh trung bình cao nhất đạt 0,69%, tiếp theo là Quan Sơn đạt 0,63% và thấp nhất là Mường Lát đạt 0,56%. Đáng chú ý, tỷ lệ chết trung bình toàn vùng là 0,61% và tỷ lệ tử vong chiếm tới 90,80% tổng số lợn phát bệnh.

Thứ hai, mức độ mẫn cảm của đàn lợn có sự phân hóa sâu sắc theo lứa tuổi và phương thức chăn nuôi. Lợn từ 2 đến 4 tháng tuổi chiếm tỷ lệ mắc bệnh cao nhất lên đến 59,39% tổng số ca bệnh, tiếp đến là lợn con theo mẹ chiếm 22,10%, lợn trên 4 tháng tuổi chiếm 13,60%, lợn nái chiếm 3,82% và thấp nhất là lợn đực giống chỉ chiếm 1,10%. Xét theo phương thức nuôi, tỷ lệ mắc bệnh ở hình thức nông hộ nhỏ lẻ đạt 0,84%, cao gấp 84 lần so với hình thức gia trại tập trung chỉ ghi nhận 0,01%.

Thứ ba, dịch bệnh mang tính mùa vụ rõ nét và phụ thuộc vào yếu tố giống. Bệnh bùng phát tập trung vào vụ Đông Xuân khi nhiệt độ hạ thấp và độ ẩm hanh khô, kéo dài liên tục từ tháng 11 năm trước đến hết tháng 3 năm sau với hệ số tháng dịch đều lớn hơn 1,0. Các giống lợn bản địa và lợn rừng lai có sức đề kháng tự nhiên tốt hơn, tỷ lệ mắc bệnh và biểu hiện bệnh tích nhẹ hơn so với các giống lợn lai ngoại thương phẩm.

Thứ tư, khảo sát huyết thanh học ngẫu nhiên tại các điểm giết mổ cho thấy tỷ lệ mẫu dương tính với kháng thể dịch tả lợn chỉ đạt 30,08% và tỷ lệ mẫu đạt mức bảo hộ rất thấp là 19,10%. Khảo sát động thái miễn dịch sau tiêm vắc xin cho thấy ở thời điểm 21 ngày, tỷ lệ lợn có kháng thể đạt 85,00% và tỷ lệ bảo hộ đạt 72,50%. Đến mốc 90 ngày, tỷ lệ có kháng thể duy trì ở mức 78,95% và tỷ lệ bảo hộ là 71,05%. Tuy nhiên, đến mốc 180 ngày sau tiêm, tỷ lệ kháng thể sụt giảm mạnh xuống 42,80% và tỷ lệ bảo hộ chỉ còn 36,76%.

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ tử vong cực cao 90,80% ở lợn mắc bệnh khẳng định các chủng virus dịch tả lợn lưu hành tại vùng núi Thanh Hóa thuộc nhóm có độc lực cao, gây tổn thương hoại tử mạch quản nghiêm trọng và bại huyết cấp tính. Việc lợn 2 đến 4 tháng tuổi chiếm gần 60% tổng số ca bệnh phản ánh hiện tượng khoảng trống miễn dịch xuất hiện khi lượng kháng thể thụ động từ sữa mẹ đã suy giảm gần hết sau 30 - 45 ngày tuổi nhưng lợn con chưa được tiêm vắc xin nhắc lại hoặc đáp ứng miễn dịch chủ động chưa kịp thiết lập hoàn chỉnh.

So sánh với các nghiên cứu khác trên toàn quốc, tỷ lệ mắc bệnh trung bình 0,83% tại Thanh Hóa thấp hơn đáng kể so với kết quả công bố của các nhà khoa học tại vùng Tây Nguyên (ghi nhận tỷ lệ nhiễm lên tới 27,76%). Sự khác biệt này bắt nguồn từ việc Thanh Hóa đã triển khai các đợt tiêm phòng định kỳ hàng năm đạt tỷ lệ bao phủ trung bình từ 71,7% đến 77,1% tổng đàn. Tuy nhiên, mức bảo hộ thực tế chỉ 19,10% trên đàn lợn giết mổ chỉ ra hạn chế lớn trong quy trình bảo quản lạnh vắc xin và kỹ thuật tiêm phòng tại các thôn bản vùng cao.

Để phục vụ công tác quản lý và trình bày dữ liệu trực quan, các số liệu dịch tễ trong nghiên cứu có thể được mô hình hóa qua bảng tổng hợp ma trận phân bố ca bệnh theo lứa tuổi và không gian địa lý. Diễn biến tỷ lệ mắc và tỷ lệ chết qua các năm nên được thể hiện bằng biểu đồ cột ghép tương phản, trong khi xu hướng thoái biến của hiệu giá kháng thể từ ngày 21 đến ngày 180 sau tiêm phòng cần được trực quan hóa bằng biểu đồ đường suy giảm nhằm giúp người chăn nuôi dễ dàng nhận diện thời điểm cần tái chủng.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Tái cấu trúc lịch tiêm phòng và quy trình tiêm nhắc lại: Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Thanh Hóa chủ trì chỉ đạo các trạm thú y cơ sở triển khai tiêm vắc xin dịch tả lợn nhược độc chủng C định kỳ 2 đợt chính trong năm vào tháng 3 - 4 và tháng 8 - 9. Đối với lợn con sinh ra từ mẹ đã tiêm phòng, thực hiện nghiêm ngặt mũi tiêm đầu lúc 30 ngày tuổi và bắt buộc tiêm nhắc lại mũi thứ hai vào lúc 60 ngày tuổi nhằm nâng tỷ lệ bảo hộ toàn đàn lên trên 80%, giải quyết triệt để sự suy giảm kháng thể sau mốc 90 ngày.
  2. Hoàn thiện hệ thống dây chuyền lạnh và chuẩn hóa kỹ thuật: Ủy ban nhân dân các huyện Quan Sơn, Quan Hóa và Mường Lát cấp ngân sách đầu tư trang bị 100% tủ lạnh chuyên dụng và phích bảo quản vắc xin đạt chuẩn nhiệt độ 2 - 4 độ C cho đội ngũ thú y viên cấp xã trong quý 2 hàng năm. Đồng thời, tổ chức định kỳ 6 tháng một lần các đợt kiểm tra đánh giá chất lượng vắc xin lưu thông trên địa bàn.
  3. Tăng cường kiểm soát lưu thông và lập chốt kiểm dịch liên ngành: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp lực lượng công an, quản lý thị trường duy trì 24/7 các chốt kiểm dịch động vật trên các trục quốc lộ nối liền biên giới và liên huyện. Thực hiện khử trùng 100% phương tiện vận chuyển gia súc, xử lý tiêu hủy nghiêm ngặt lợn bệnh không rõ nguồn gốc trong suốt giai đoạn cao điểm dịch từ tháng 11 đến tháng 3.
  4. Chuyển đổi mô hình chăn nuôi và truyền thông an toàn sinh học: Trạm Khuyến nông các huyện xây dựng kế hoạch chuyển đổi tối thiểu 20% số hộ chăn nuôi phân tán sang mô hình gia trại khép kín có tường rào cách ly trong giai đoạn 3 năm. Tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng nhận biết triệu chứng bệnh tích đại thể và vận động người dân ký cam kết thực hiện đúng nguyên tắc không giấu dịch, không bán chạy lợn ốm, không vứt xác lợn bừa bãi.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ thú y cấp huyện, xã: Nắm bắt các chỉ số dịch tễ thực địa, nhận diện các điểm nóng nguy cơ cao và xác định khoảng thời gian bùng phát dịch theo mùa vụ để chủ động xây dựng kế hoạch cấp phát vắc xin và hóa chất tiêu độc khử trùng hàng năm.
  2. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Thú y: Sử dụng tài liệu như một công trình nghiên cứu chuẩn mực về phương pháp kết hợp giữa dịch tễ học mô tả và kỹ thuật xét nghiệm ELISA định lượng, phục vụ nghiên cứu chuyên sâu về các bệnh truyền nhiễm do virus ở động vật.
  3. Chủ trang trại, gia trại và hợp tác xã chăn nuôi lợn: Tham khảo để xây dựng quy trình phòng bệnh sinh học chuẩn hóa, nhận biết các nguy cơ lây nhiễm chéo, đồng thời điều chỉnh thời điểm tiêm vắc xin cho đàn lợn thịt và lợn giống nhằm đạt hiệu quả bảo hộ kinh tế cao nhất.
  4. Bác sĩ thú y lâm sàng và kỹ thuật viên dịch vụ thuốc thú y: Vận dụng các mô tả chi tiết về bệnh tích đại thể như xuất huyết hạch lympho, nhồi huyết rìa lách hình răng cưa và loét hình cúc áo ở van hồi manh tràng để chẩn đoán phân biệt nhanh chóng bệnh Dịch tả lợn với bệnh Tai xanh hoặc Dịch tả lợn châu Phi tại thực địa.

Câu hỏi thường gặp

Bệnh Dịch tả lợn cổ điển gây thiệt hại kinh tế như thế nào cho người chăn nuôi?

Bệnh Dịch tả lợn cổ điển do virus CSFV gây ra là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm với tỷ lệ tử vong thực tế tại vùng dịch lên tới 90,80% tổng số lợn mắc bệnh. Lợn mắc thể cấp tính thường chết nhanh chóng sau 24 đến 48 giờ sốt cao, trong khi lợn mang trùng thể mạn tính bị còi cọc, sụt cân nghiêm trọng và gây sảy thai hàng loạt ở lợn nái sinh sản.

Tại sao lợn ở lứa tuổi từ 2 đến 4 tháng lại mắc bệnh nhiều nhất?

Số liệu nghiên cứu chỉ ra lợn 2 đến 4 tháng tuổi chiếm 59,39% tổng số ca mắc do đây là giai đoạn lợn con bị cạn kiệt nguồn kháng thể thụ động nhận từ sữa mẹ. Nếu không được tiêm phòng vắc xin nhắc lại kịp thời ở mốc 60 ngày tuổi, lợn sẽ rơi vào khoảng trống miễn dịch và trở nên cực kỳ mẫn cảm với virus ngoài môi trường.

Phương pháp xét nghiệm ELISA có ưu điểm gì trong chẩn đoán dịch tả lợn?

Kỹ thuật ELISA theo tiêu chuẩn TCVN 5273:2010 cho phép xác định chính xác tỷ lệ ức chế kháng thể trong huyết thanh lợn chỉ trong vòng 24 giờ. Phương pháp này có độ nhạy và độ đặc hiệu cao, giúp phát hiện sớm cả những đàn lợn mang trùng thể ẩn không biểu hiện triệu chứng lâm sàng và định lượng hiệu lực bảo hộ sau tiêm phòng.

Khả năng đáp ứng miễn dịch của lợn sau khi tiêm vắc xin suy giảm ra sao?

Sau khi tiêm vắc xin dịch tả lợn nhược độc, tỷ lệ bảo hộ đạt đỉnh ở ngày thứ 21 với 72,50% và duy trì ở mức 71,05% vào ngày thứ 90. Tuy nhiên, sau 180 ngày, tỷ lệ bảo hộ sụt giảm mạnh xuống chỉ còn 36,76%, đòi hỏi người chăn nuôi bắt buộc phải tiêm nhắc lại để duy trì kháng thể phòng bệnh.

Bệnh Dịch tả lợn thường bùng phát vào thời gian nào trong năm tại vùng cao?

Dịch bệnh tại các huyện miền núi tập trung cao điểm vào mùa hanh khô và giá rét từ tháng 11 năm trước đến hết tháng 3 năm sau với hệ số tháng dịch luôn lớn hơn 1,0. Nguyên nhân do thời tiết chuyển lạnh làm giảm sức đề kháng của vật nuôi kết hợp với hoạt động vận chuyển, buôn bán gia súc tăng mạnh phục vụ dịp Tết Nguyên đán.

Kết luận

  • Tỷ lệ mắc bệnh Dịch tả lợn trung bình tại 3 huyện Quan Sơn, Quan Hóa và Mường Lát giai đoạn 2014 - 2016 là 0,83% với tỷ lệ tử vong rất cao chiếm 90,80% tổng số lợn mắc bệnh.
  • Lợn 2 đến 4 tháng tuổi chiếm tỷ lệ mắc cao nhất 59,39%, hình thức chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ có tỷ lệ mắc 0,84%, cao gấp nhiều lần so với hình thức gia trại 0,01%.
  • Mùa dịch diễn ra cố định từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, lợn bản địa và lợn rừng lai thể hiện tính đề kháng tốt hơn các giống lợn ngoại thương phẩm.
  • Khảo sát thực địa ghi nhận tỷ lệ mẫu huyết thanh bảo hộ toàn đàn chỉ đạt 19,10%, trong đó hiệu lực bảo hộ của vắc xin suy giảm nghiêm trọng từ 72,50% ở ngày thứ 21 xuống còn 36,76% ở ngày thứ 180 sau tiêm.
  • Đề tài đã cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học chuẩn xác giúp ngành thú y tỉnh Thanh Hóa tái cấu trúc phác đồ tiêm vắc xin 2 mũi cho lợn con và hoàn thiện chuỗi bảo quản lạnh trong 6 tháng tới.

Các đơn vị quản lý nông nghiệp và người chăn nuôi cần khẩn trương áp dụng đồng bộ phác đồ tiêm nhắc lại và siết chặt an toàn sinh học chuồng nuôi để bảo vệ an toàn đàn lợn và phát triển kinh tế bền vững.