Tổng quan nghiên cứu
Vùng biển Đà Nẵng sở hữu vị trí chiến lược tại khu vực duyên hải miền Trung với bờ biển dài khoảng 80 km và thềm lục địa mở rộng đến 125 km ra độ sâu 200 m nước. Áp lực phát triển kinh tế biển gia tăng mạnh mẽ khi dân số thành phố đạt 992.000 người vào năm 2013, mật độ dân cư nội thành đạt mức cao nhất tại quận Thanh Khê lên tới 19.763 người/km2. Đi kèm với đó, lượng khách du lịch tăng trưởng vượt bậc từ 1,26 triệu lượt khách vào năm 2008 lên 2,65 triệu lượt khách vào năm 2012, kéo theo sự bùng nổ của 8.747 doanh nghiệp tại quận Liên Chiểu và hơn 3.015 cơ sở công nghiệp - dịch vụ tại quận Sơn Trà. Hoạt động nhân sinh và phát triển đô thị nhanh chóng đã làm gia tăng tải lượng chất thải lắng đọng xuống đáy biển, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường trầm tích nghiêm trọng.
Trước đây, các công trình khảo sát tại khu vực chỉ tập trung đơn lẻ ở dải ven bờ từ 0 đến 30 m nước hoặc ngoài khơi từ 30 đến 100 m nước, tạo nên khoảng trống dữ liệu khoa học mang tính liên tục và đồng bộ. Luận văn tập trung nghiên cứu đặc trưng địa hóa môi trường trầm tích tầng mặt từ 0 đến 100 m nước tại vùng biển Đà Nẵng, nhằm làm sáng tỏ quy luật phân bố không gian của các cấp hạt, anion chính, carbon hữu cơ tổng số và các nguyên tố vi lượng. Phạm vi nghiên cứu trải rộng từ đường mép bờ đến đường đẳng sâu 100 m nước, khống chế bởi ranh giới hành chính kéo dài từ Thừa Thiên Huế đến Quảng Nam, với dữ liệu thực địa thu thập từ năm 2012 đến năm 2013. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống 106 mẫu phân tích cấp hạt, 120 mẫu đo đạc thông số lý hóa và 150 mẫu carbon hữu cơ, đóng vai trò là cơ sở dữ liệu địa hóa chuẩn mực phục vụ quy hoạch không gian biển và bảo vệ hệ sinh thái đáy bền vững.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng lý thuyết địa hóa trầm tích biển hiện đại của Bordovsky và Strakhov về chu trình địa hóa, cơ chế lắng đọng và tương tác giữa vật chất hạt mịn với môi trường nước biển. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp lý thuyết tướng đá - cổ địa lý để xác định môi trường thành tạo trầm tích dựa trên tương quan cân bằng ion và phản ứng khử - oxy hóa. Khung đánh giá rủi ro sinh thái đáy biển được đối chiếu trực tiếp với Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia về chất lượng trầm tích QCVN 43:2012/BTNMT và tiêu chuẩn đánh giá trầm tích biển của Canada.
Nghiên cứu làm rõ 5 khái niệm cốt lõi:
- Môi trường oxy hóa - khử (Eh) và độ kiềm (pH): Đại lượng phản ánh trạng thái nhiệt động lực học và khả năng hòa tan hoặc kết tủa của các hợp chất hóa học tại tầng mặt đáy biển.
- Hệ số môi trường thành tạo (K1 đến K5): Bộ chỉ số xác định nguồn gốc vật liệu trầm tích, trong đó K1 phản ánh nguồn gốc lục địa, chuyển tiếp hay biển; K2, K3, K4 định lượng mức độ khử - oxy hóa; K5 phản ánh tỷ lệ carbonat sinh vật so với carbonat hóa học.
- Hệ số tập trung (Td): Tỷ lệ giữa hàm lượng trung bình của nguyên tố trong khu vực nghiên cứu so với hàm lượng phông trung bình của trầm tích biển thế giới, chia thành 4 cấp độ từ không tập trung đến tập trung rất mạnh.
- Khả năng tàng trữ độc tố: Năng lực hấp phụ và lưu giữ các chất ô nhiễm hóa học của trầm tích, phụ thuộc trực tiếp vào tỷ lệ cấp hạt mịn dưới 0,063 mm.
- Carbon hữu cơ tổng số (TOC): Chỉ số đo lường sinh khối và vật chất hữu cơ lắng đọng, giữ vai trò chất mang trong quá trình hấp phụ kim loại nặng.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu triển khai thu thập mẫu thực địa trong hai giai đoạn: đợt 1 từ tháng 4 đến tháng 7 năm 2012 đối với đới độ sâu 60 - 100 m nước, đợt 2 từ tháng 4 đến tháng 7 năm 2013 đối với đới 0 - 60 m nước. Mẫu trầm tích tầng mặt được thu thập bằng thiết bị cuốc đại dương chuyên dụng tại các trạm đo đại diện, lấy khoảng 0,5 kg trầm tích giàu bùn, đóng gói kín trong túi nilon chuyên dụng và bảo quản trong điều kiện râm mát trước khi chuyển về phòng thí nghiệm trong vòng 30 ngày.
Cỡ mẫu phân tích bao gồm: 106 mẫu phân tích thành phần độ hạt; 120 mẫu xác định chỉ số Eh và pH; 109 mẫu phân tích các anion sulfat, photphat, nitrat, halogen và kim loại nặng; 150 mẫu xác định hàm lượng TOC. Phương pháp chọn mẫu theo mạng lưới trắc tuyến vuông góc với đường bờ nhằm đảm bảo bao quát toàn diện sự thay đổi địa hình đáy từ vùng nước nông ven bờ ra ngoài khơi.
Các phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm bao gồm:
- Xác định độ hạt: Kết hợp phương pháp rây cho cấp hạt thô trên 0,063 mm qua các kích thước mắt rây 0,5 mm, 0,25 mm, 0,125 mm, 0,063 mm và phương pháp ống hút pipet cho cấp hạt mịn dưới 0,063 mm theo các mốc thời gian 40 giây, 16 phút, 59 phút và 15 giờ. Phương pháp này đảm bảo phân loại chính xác các phân lớp trầm tích theo tiêu chuẩn Cục Địa chất Hoàng gia Anh.
- Đo đạc lý hóa: Xác định Eh và pH bằng phương pháp đo điện thế với độ chính xác 0,1 đơn vị nhằm nắm bắt trạng thái hoạt tính môi trường ngay sau khi xử lý mẫu.
- Phân tích TOC: Ứng dụng phản ứng oxy hóa carbon hữu cơ bằng dung dịch K2Cr2O7 chuyển hóa thành CO2, sau đó hấp phụ bằng Ba(OH)2 và chuẩn độ ngược với độ chính xác đạt 0,01%.
- Phân tích kim loại nặng và anion: Sử dụng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử kết hợp phương pháp Vol-Ampe hòa tan để phát hiện vi lượng các nguyên tố Cu, Pb, Zn, Sb, As, Hg với độ chính xác 0,1 ppm; các anion SO42-, PO43-, NO3- được định lượng bằng phương pháp chuẩn độ và so màu với độ chính xác 1 ppm.
- Xử lý số liệu: Ứng dụng phần mềm SPSS và Microsoft Excel để tính toán thống kê mô tả, ma trận tương quan Pearson, phân tích phương sai ANOVA và phân tích cụm Hierarchical Cluster; trực quan hóa không gian địa hóa bằng phần mềm Vertical Mapper trên nền tảng MapInfo.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Phân tích cấp hạt từ 106 trạm mẫu đã phân chia trầm tích tầng mặt vùng biển Đà Nẵng thành 8 tướng trầm tích riêng biệt. Tướng bùn chiếm tỷ lệ cao nhất với 37,74% (40 mẫu), phân bố chủ yếu ở độ sâu 35 - 65 m nước và bên trong vịnh Đà Nẵng, có thành phần sét chiếm 31,88 ± 14,83% và bột chiếm 64,02 ± 15,05%. Tướng bùn cát đứng thứ hai với 26,42% (28 mẫu), tập trung xung quanh bán đảo Sơn Trà và đới sâu 75 - 95 m. Tướng cát bùn chiếm 15,09% (16 mẫu) tại độ sâu 65 - 100 m, cát bùn lẫn sạn chiếm 9,43% (10 mẫu), trong khi tướng cát đơn thuần chỉ chiếm 8,49% (9 mẫu) ở vùng ven bờ nông 0 - 23 m nước. Đáng chú ý, trầm tích có khả năng tàng trữ độc tố cao (hàm lượng bùn lớn hơn 60%) chiếm diện tích áp đảo toàn vùng, trải rộng từ dải ven bờ đến độ sâu 80 m và kéo dài ra tận 95 m nước.
Đặc trưng lý hóa từ 120 mẫu xác định giá trị pH dao động từ 6,77 đến 8,11 với mức trung bình 8,02 và hệ số biến phân rất thấp V = 4,83%, phản ánh môi trường kiềm yếu ổn định. Giá trị thế oxy hóa khử Eh biến thiên rộng từ -118 mV đến +213 mV, trung bình đạt 118 mV với hệ số biến phân V = 47,22%. Phân vùng môi trường cho thấy kiểu kiềm yếu - oxy hóa yếu chiếm ưu thế lớn nhất với 44,17% (53 vị trí) trên toàn đới 0 - 93 m nước; kiểu kiềm yếu - oxy hóa mạnh chiếm 34,17% (41 vị trí); kiểu kiềm yếu - khử chiếm 11,67% (14 vị trí) tập trung cục bộ ở độ sâu trên 60 m đến 100 m; kiểu trung tính - oxy hóa yếu chiếm 10,00% (12 vị trí) tại các vụng kín ven bờ.
Hàm lượng carbon hữu cơ tổng số TOC trong 150 mẫu dao động từ 0,05% đến 1,25%, đạt trung bình 0,74% với độ phân tán đồng đều (V = 37,56%). Dữ liệu ghi nhận 35 dị thường bậc 1 với hàm lượng 0,97 - 1,20% và 4 dị thường bậc 2 đạt mức 1,23%, tập trung chủ yếu tại đới độ sâu 60 - 95 m nước và phía Đông bán đảo Sơn Trà. Đối với các anion chính trong 109 mẫu, sulfat SO42- đạt trung bình 0,023% (0,016 - 0,031%, V = 12,38%), photphat PO43- đạt trung bình 0,023% (0,020 - 0,030%, V = 11,22%), nitrat NO3- đạt trung bình 0,008% (0,006 - 0,011%, V = 16,05%). Riêng carbonat CO32- có hàm lượng vượt trội đạt trung bình 2,22% (dao động từ 0,01% đến 10,88%) nhưng biến thiên rất mạnh với hệ số phân tán V = 267,99%.
Xét theo hệ số thành tạo môi trường, đới 0 - 60 m nước có hệ số K1 dao động từ 0,17 đến 0,76 với 54/109 mẫu có K1 dưới 0,50, phản ánh rõ nét nguồn gốc lục địa và môi trường chuyển tiếp lục địa - biển. Ngược lại, đới 60 - 100 m nước có K1 dao động từ 1,09 đến 4,69 (33 mẫu), chứng minh môi trường biển điển hình với sự áp đảo của carbonat sinh vật có nguồn gốc từ vỏ sinh vật (hệ số K5 trung bình đạt 1,15 và cực đại đạt 5,63).
Thảo luận kết quả
Cơ chế phân bố không gian của trầm tích tầng mặt chịu tác động chi phối bởi động lực dòng chảy sông Hàn (lưu vực 5.180 km2), sông Cu Đê và chế độ hải văn gió mùa. Vận tốc dòng chảy mặt mùa đông đạt từ 50 đến 70 cm/s với hướng thịnh hành Tây Nam đã cuốn theo các hạt sét mịn và vật chất hữu cơ ra xa bờ, lắng đọng tại đới trũng sâu 60 - 95 m thay vì tích tụ tại dải cát thô ven biển. Điều này giải thích tại sao các dị thường TOC cao nhất lại xuất hiện ở vùng biển sâu ngoài khơi.
Khi so sánh với các nghiên cứu trước đây, điển hình là khảo sát năm 2012 của một nghiên cứu chuyên sâu trong vịnh Đà Nẵng, hàm lượng trung bình của SO42- (0,023%) và NO3- (0,008%) trên toàn vùng 0 - 100 m nước thấp hơn khoảng 55 - 68% so với khu vực nội vịnh (nơi SO42- đạt 0,059% và NO3- đạt 0,025%). Nguyên nhân là do không gian biển khơi có sự xáo trộn thủy triều mạnh mẽ với biên độ sóng cực đại đạt 3 - 4 m trong mùa đông, thúc đẩy quá trình pha loãng và phân tán vật chất. Ngược lại, carbonat tổng số và carbonat sinh vật ở đới ngoài khơi tăng mạnh lên đến 11,26% tại một số vị trí sâu do sự phong phú của sinh vật đáy biển vôi hóa.
Các phát hiện này có thể được trình bày một cách trực quan thông qua bảng ma trận hệ số tương quan Pearson giữa độ sâu đáy biển, tỷ lệ hạt mịn và các ion địa hóa, kết hợp với sơ đồ phân cụm Cluster dạng cây Dendrogram. Biểu đồ phân cụm chỉ rõ sự gắn kết chặt chẽ giữa nhóm cấp hạt mịn (bùn sét), TOC và các anion SO42-, NO3-, chứng minh các trường bùn chiếm 64,16% tổng số mẫu đóng vai trò là "bẫy địa hóa" giữ lại các hợp chất hóa học và kim loại nặng.
Đề xuất và khuyến nghị
-
Tăng cường kiểm soát và xử lý nguồn thải công nghiệp ven bờ:
- Hành động: Thiết lập hệ thống kiểm toán xả thải tự động và thanh tra nghiêm ngặt quy trình xử lý nước thải tại các cụm công nghiệp tập trung, đặc biệt là 8.747 doanh nghiệp tại quận Liên Chiểu và 3.015 cơ sở tại quận Sơn Trà.
- Mục tiêu: Cắt giảm từ 25% đến 30% tải lượng chất hữu cơ và kim loại nặng xả trực tiếp ra lưu vực sông Hàn và vịnh Đà Nẵng.
- Lộ trình thực hiện: Hoàn thành trong giai đoạn 2026 - 2028.
- Chủ thể chịu trách nhiệm: Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đà Nẵng phối hợp cùng Ban Quản lý các Khu công nghệ cao và Khu công nghiệp.
-
Bảo vệ và phục hồi các hệ sinh thái đất ngập nước và thảm thực vật ven biển:
- Hành động: Quy hoạch bảo tồn nghiêm ngặt 546 ha diện tích mặt nước có tiềm năng nuôi trồng thủy sản, đồng thời đẩy mạnh trồng mới rừng phi lao và cây ngập mặn phòng hộ tại các cửa sông Cu Đê và Nam Ô.
- Mục tiêu: Nâng cao độ che phủ rừng ven biển thêm 15%, giảm thiểu 20% lượng trầm tích xói lở và hóa chất nông nghiệp bị rửa trôi xuống biển sau các trận mưa lớn.
- Lộ trình thực hiện: Giai đoạn 2026 - 2030.
- Chủ thể chịu trách nhiệm: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Đà Nẵng phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Hòa Vang và quận Liên Chiểu.
-
Xây dựng mạng lưới ứng phó sự cố môi trường và giao thông hàng hải an toàn:
- Hành động: Ban hành quy chuẩn vận hành an toàn cho các tàu vận tải cập cảng Tiên Sa và Liên Chiểu, lắp đặt phao chắn dầu tự động và thành lập đội phản ứng nhanh với sự cố tràn dầu tại các luồng hàng hải trọng điểm.
- Mục tiêu: 100% tàu thuyền vận tải chấp hành quy định không xả nước dằn tàu bẩn ra vịnh; rút ngắn thời gian xử lý sự cố tràn dầu xuống dưới 2 giờ kể từ khi phát hiện.
- Lộ trình thực hiện: Hoàn thành phương án chi tiết vào năm 2027.
- Chủ thể chịu trách nhiệm: Cảng vụ Hàng hải Đà Nẵng chủ trì, phối hợp cùng Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng thành phố.
-
Thiết lập trạm quan trắc địa hóa trầm tích đáy định kỳ:
- Hành động: Xây dựng mạng lưới 120 điểm giám sát cố định từ 0 đến 100 m nước, tiến hành lấy mẫu và phân tích định kỳ 2 lần/năm (vào mùa mưa và mùa khô) các chỉ tiêu Eh, pH, TOC, anion và kim loại nặng.
- Mục tiêu: Duy trì hệ thống cơ sở dữ liệu số GIS đạt độ tin cậy trên 95%, phát hiện và cảnh báo sớm các dị thường ô nhiễm vượt ngưỡng QCVN 43:2012/BTNMT.
- Lộ trình thực hiện: Duy trì thường niên từ năm 2026 đến năm 2035.
- Chủ thể chịu trách nhiệm: Trung tâm Điều tra Tài nguyên - Môi trường biển phối hợp cùng các viện nghiên cứu chuyên ngành.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
-
Các nhà khoa học, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Địa chất, Địa hóa học và Hải dương học:
- Lợi ích: Tiếp cận quy trình phương pháp luận chuẩn mực về lấy mẫu trầm tích tầng mặt bằng cuốc đại dương, phương pháp rây - pipet phân tích độ hạt theo chuẩn British Geological Survey và kỹ thuật xử lý thống kê đa biến SPSS.
- Tình huống sử dụng: Sử dụng làm tài liệu tham khảo để đối sánh đặc điểm địa hóa trầm tích thềm lục địa miền Trung hoặc xây dựng các mô hình số hóa lan truyền vật chất đáy biển.
-
Cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, biển và hải đảo:
- Lợi ích: Sở hữu bộ dữ liệu cơ sở xác thực về hiện trạng lý hóa đáy biển, ranh giới các tướng trầm tích và khả năng tàng trữ độc tố của từng đới độ sâu.
- Tình huống sử dụng: Ứng dụng trong việc phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), quy hoạch vị trí nhận chìm chất nạo vét luồng tàu và phân vùng bảo vệ môi trường biển Đà Nẵng.
-
Doanh nghiệp khai thác khoáng sản, nuôi trồng thủy sản và du lịch biển:
- Lợi ích: Hiểu rõ đặc tính nền đáy, phân bố các dải sa khoáng (ilmenit, zircon, cát thủy tinh Nam Ô) và nhận diện các vùng trầm tích sạch, an toàn sinh học.
- Tình huống sử dụng: Doanh nghiệp nuôi trồng thủy sản tại Thọ Quang, Sơn Trà lựa chọn vùng đặt lồng bè có nền đáy ít tích lũy khí độc và độc tố; các đơn vị lữ hành thiết lập tour lặn biển tại các vùng nền đáy cát ổn định.
-
Các tổ chức phi chính phủ và dự án bảo tồn thiên nhiên, ứng phó biến đổi khí hậu:
- Lợi ích: Tiếp cận các chỉ số khoa học chính xác về hàm lượng carbon hữu cơ (TOC) và carbonat sinh vật phục vụ đánh giá tiềm năng lưu trữ "carbon xanh" (Blue Carbon).
- Tình huống sử dụng: Xây dựng các dự án phục hồi rạn san hô Nam Hải Vân - Sơn Trà và mô hình hóa tác động của biến đổi khí hậu đến quá trình bồi tụ, xói lở đáy biển.
Câu hỏi thường gặp
Tại sao nghiên cứu cần khảo sát toàn diện từ 0 đến 100 m nước thay vì chỉ tập trung ở dải ven bờ? Khảo sát liên tục từ 0 đến 100 m nước giúp nhận diện hoàn chỉnh chu trình dịch chuyển của vật chất đáy. Động lực dòng chảy mạnh từ 50 đến 70 cm/s đã đẩy phần lớn bùn sét mịn và vật chất hữu cơ ra xa, tích tụ tại đới sâu 60 - 95 m, nơi trường bùn chiếm 37,74% tạo thành bể chứa độc tố tiềm năng ngoài khơi mà khảo sát ven bờ không thể bao quát.
Hệ số môi trường K1 đến K5 mang lại ý nghĩa gì trong việc đánh giá trầm tích đáy biển Đà Nẵng? Hệ số K1 đến K5 giúp xác định môi trường thành tạo địa hóa nguyên sinh. Kết quả cho thấy đới 0 - 60 m có K1 trung bình từ 0,17 đến 0,76 phản ánh rõ môi trường oxy hóa lục địa và chuyển tiếp ven bờ; trong khi đới 60 - 100 m có K1 đạt 1,09 - 4,69 và K5 đạt 1,15 chứng minh môi trường biển điển hình với sự tích tụ ưu thế của carbonat sinh vật.
Hàm lượng carbon hữu cơ (TOC) trong trầm tích biển Đà Nẵng phân bố theo quy luật nào? Hàm lượng TOC dao động từ 0,05% đến 1,25%, đạt trung bình 0,74% và phân bố khá đồng đều (V = 37,56%). TOC không tập trung nhiều ở sát bờ cát thô mà hình thành 35 dị thường bậc 1 và 4 dị thường bậc 2 tại đới sâu 60 - 95 m, do động lực dòng chảy sông Hàn và sông Cu Đê đưa vật chất hữu cơ lắng đọng tại các vùng nước tĩnh ngoài khơi.
Tướng trầm tích nào tại vùng biển Đà Nẵng có nguy cơ lưu giữ các chất độc hại cao nhất? Trầm tích bùn và bùn cát có nguy cơ tàng trữ độc tố cao nhất do chứa tỷ lệ cấp hạt mịn vượt trội, với hàm lượng sét chiếm 30,10 ± 13,81% và bột chiếm 59,59 ± 14,09%. Trường trầm tích này chiếm diện tích lớn nhất khu vực nghiên cứu, trải rộng liên tục đến độ sâu 80 m, đóng vai trò hấp phụ và cố định các ion kim loại nặng và hóa chất nhân sinh.
Hiện trạng trầm tích vùng biển Đà Nẵng đã ghi nhận dấu hiệu ô nhiễm hóa học hay chưa? Nhìn chung, hàm lượng các anion và kim loại nặng trong 109 mẫu phân tích trên diện tích 0 - 100 m nước vẫn nằm trong giới hạn an toàn theo QCVN 43:2012/BTNMT. Tuy nhiên, sự xuất hiện của các dị thường cục bộ về sulfat và nitrat xung quanh bán đảo Sơn Trà và vịnh Đà Nẵng cảnh báo nguy cơ ô nhiễm cục bộ do áp lực từ 8.747 doanh nghiệp công nghiệp và đô thị hóa.
Kết luận
- Công trình đã xây dựng thành công bức tranh toàn diện và đồng bộ đầu tiên về đặc trưng địa hóa môi trường trầm tích tầng mặt vùng biển Đà Nẵng từ 0 đến 100 m nước dựa trên tập dữ liệu chuẩn mực gồm 106 mẫu cấp hạt và 120 mẫu đo đạc lý hóa.
- Phân loại chi tiết 8 tướng trầm tích đáy, trong đó chỉ rõ trường trầm tích bùn và bùn cát chiếm ưu thế tuyệt đối với 64,16% tổng số mẫu, tạo nên đới có khả năng tàng trữ độc tố cao trải rộng từ ven bờ đến độ sâu 80 m nước.
- Xác lập cơ sở khoa học phân định 2 đới môi trường trầm tích rõ rệt: đới 0 - 60 m mang đặc trưng oxy hóa lục địa và chuyển tiếp ven bờ; đới 60 - 100 m mang đặc trưng biển điển hình giàu carbonat sinh vật với K1 đạt cực đại 4,69.
- Chứng minh môi trường trầm tích có tính kiềm yếu rất ổn định (pH trung bình 8,02) và môi trường oxy hóa chiếm ưu thế (Eh trung bình 118 mV), đồng thời ghi nhận sự tích lũy TOC đạt trung bình 0,74% tập trung tại các vùng trũng sâu 60 - 95 m nước.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp liên ngành đồng bộ từ kiểm soát tải lượng xả thải công nghiệp, phục hồi đất ngập nước đến thiết lập mạng lưới trạm quan trắc định kỳ nhằm bảo tồn bền vững tài nguyên biển.
Lộ trình tiếp theo đòi hỏi các cơ quan chức năng khẩn trương triển khai mạng lưới quan trắc giám sát định kỳ trong giai đoạn 2026 - 2028 và tích hợp hoàn chỉnh hệ thống cơ sở dữ liệu số GIS biển đến năm 2030. Các đơn vị quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp hãy khai thác ngay nguồn tài liệu khoa học giá trị này để định hướng chính xác quy hoạch không gian biển và bảo vệ bền vững tài nguyên môi trường cho tương lai.