ĐẶT VẤN ĐỀ Trải qua hơn bốn thập kỷ hình thành và phát triển, đến nay hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam gồm 164 khu rừng đặc dụng trong đó có 69 khu dự trữ thiên nhiên, 45 khu bảo vệ cảnh quan, 20 khu nghiên cứu thực nghiệm khoa học và 30 khu bảo tồn chứa đựng các hệ sinh thái, cảnh quan đặc trƣng với giá trị đa dạng sinh học tiêu biểu cho hệ sinh thái trên cạn, đất ngập nƣớc và trên biển đã và đang đƣợc xây dựng trên khắp các vùng, miền trong cả nƣớc. Đây là những tài sản thiên nhiên quý báu không chỉ có giá trị trƣớc mắt cho thế hệ hôm nay mà còn là di sản của nhân loại mai sau. Tuy nhiên diện tích rừng và đa dạng sinh học ở nƣớc ta trong những năm qua vẫn đang bị suy giảm cả về số lƣợng và chất lƣợng, dẫn tới tình trạng hạn hán, lũ lụt xảy ra thƣờng xuyên, gây thiệt hại cho hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp cũng nhƣ đời sống của ngƣời dân. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do công tác quản lý rừng còn nhiều hạn chế chƣa hiệu quả.
Tài nguyên rừng ở nƣớc ta trƣớc đây do Nhà nƣớc quản lý và quyết định mọi phƣơng án quản lý và sử dụng. Một phần diện tích rừng đƣợc giao cho các chủ rừng quản lý nhƣng lại chƣa có những cơ chế hƣởng lợi hợp lý giữa các bên tham gia và nhiều khi chính các chủ rừng lại tham gia phá rừng, năng lực quản lý của các cán bộ vẫn còn rất hạn chế. Để khắc phục tình trạng trên, các ngành, các cấp và ban quản lý vƣờn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đã và đang thay đổi cách tiếp cận trong quản lý tài nguyên rừng, trao đổi kinh nghiệm, với những thông lệ, tiêu chí quản lý bảo tồn thiên nhiên quốc tế. Vấn đề quản lý rừng bền vững đang đƣợc rất nhiều ngƣời quan tâm và quản lý rừng có sự tham gia của cộng đồng đang là một hƣớng đi có hiệu quả.
Do địa hình phức tạp nên Khu bảo tồn Thƣợng Tiến có những khu vực còn tƣơng đối nguyên vẹn, với nhiều quần thể sinh vật phong phú và đa dạng. Đây còn là nơi sinh sống của một số đồng bào dân tộc thiểu số trình độ dân trí chƣa cao, thu nhập chủ yếu dựa vào trồng trọt sống phụ thuộc vào rừng. Tình 1 trạng này gây ra những khó khăn và thách thức đối với công tác quản lý rừng của Khu bảo tồn Thƣợng Tiến nói riêng và tỉnh Hòa Bình nói chung. Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài: “Nghiên cứu, đề xuất giải pháp đồng quản lý tại KBTTN Thƣợng Tiến – Kim Bôi – Hòa Bình.” đƣợc tiến hành là rất cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn.
2 PHẦN I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Nhận thức chung về đồng quản lý Trong xu thế chung toàn cầu khi nền kinh tế phát triển song hành với nó là sự cạn kiệt của nguồn tài nguyên thiên nhiên nói chung và tài nguyên rừng nói riêng. Vấn đề đặt ra cho mỗi quốc gia là nghiên cứu tìm ra giải pháp quản lý sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững. Tác giả Rao và Geisler (1990) đã đƣa ra hàng loạt các giải pháp trong đó có sự hợp tác giữa các bên tham gia. Đây là vấn đề rất quan trọng đối với sự thành công của việc quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó vấn đề quan tâm nhất là việc giải quyết ổn thỏa quyền lợi của ngƣời dân nơi có rừng và mục tiêu chung của quốc gia.
Đây là một vấn đề còn khá mới mẻ đối với nƣớc ta. Ở đây thuật ngữ đồng quản lý đƣợc sử dụng để mô tả sự bố trí sắp xếp chính thức hoặc không chính thức giữa Chính phủ, thành phần tƣ nhân hoặc tầng lớp dân liên quan đến việc quản lý nguồn TNTN. Sự thịnh hành của hình thức quản lý này đang tăng lên đáng kể trong 20 năm qua, có thể tìm thấy rất nhiều ví dụ ở các nƣớc đang phát triển nơi mà tình trạng đói nghèo và sự suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên đang dẫn dắt xã hội và quốc gia đó vào việc thực hiện hình thức đồng quản lý. Đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên là bƣớc ngoặt mới về quản lý tài nguyên, đó là một quy trình mang tính chính trị và đã có rất nhiều nghiên cứu đƣa ra khái niệm về đồng quản lý.
Theo Rao và Geisler (1990) đồng quản lý là sự chia sẻ việc ra quyết định giữa những ngƣời sử dụng tài nguyên địa phƣơng với các nhà quản lý tài nguyên về chính sách sử dụng các vùng bảo vệ. Các đối tác cần hƣớng tới mối quan tâm chung là bảo tồn thiên nhiên để trở thành “đồng minh tự nguyện”. Đồng quản lý là một quá trình hợp tác giữa các cộng đồng địa phƣơng với các tổ chức nhà nƣớc trong việc sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên hoặc các tài sản khác. Các bên liên quan, nhà nƣớc hay tƣ nhân, c ng nhau thông qua 3 một hiệp thƣơng xác định sự đóng góp của mỗi đối tác và kết quả là cùng nhau ký một hiệp ƣớc phù hợp mà các đối tác đều chấp nhận đƣợc (Wild và Mutebi, 1996).
Đồng quản lý cũng đã đƣợc hai nhà khoa học Andrew. Ingles, Arne Musch and Helle Qwist-Hoffman (1999) quan tâm nghiên cứu. Tác giả cho rằng đồng quản lý đƣợc coi nhƣ sự sắp xếp quản lý đƣợc thƣơng lƣợng bởi nhiều bên liên quan, dựa trên cơ sở thiết lập quyền và quyền lợi, hoặc quyền hƣởng lợi đƣợc nhà nƣớc công nhận và hầu hết những ngƣời sử dụng tài nguyên chấp nhận đƣợc. Quá trình đó đƣợc thể hiện trong việc chia sẻ quyền ra quyết định và kiểm soát việc sử dụng tài nguyên.
Đồng quản lý các vƣờn quốc gia là tìm kiếm sự hợp tác, trong đó các bên liên quan cùng nhau thoả thuận chia sẻ chức năng quản lý, quyền và nghĩa vụ trên một vùng lãnh thổ hoặc một khu vực tài nguyên dƣới tình trạng bảo vệ. Khái niệm này do Borrini - Feyerabend đƣa ra năm 1996. Đến năm 2000 Borrini - Feyerabend lại đƣa ra khái niệm chung “đồng quản lý nhƣ là một dạng hợp tác, trong đó hai hoặc nhiều đối tác xã hội hiệp thƣơng với nhau xác định và thống nhất việc chia sẻ chức năng quản lý, quyền và trách nhiệm về một vùng, một lãnh thổ hoặc nguồn tài nguyên thiên nhiên đƣợc xác định” Borrini - Feyerabend giải thích thêm đối với mục tiêu về văn hoá, chính trị nhằm tìm kiếm sự “công bằng” trong quản lý tài nguyên thiên nhiên. Borrini - Feyerabend đƣa ra thuật ngữ tiếp cận “số đông” trong quản lý tài nguyên, kết hợp giữa nhiều đối tác có vai trò khác nhau nhằm mục tiêu chung là bảo tồn thiên nhiên, phát triển bền vững và chia sẻ công bằng quyền lợi liên quan đến tài nguyên.
Trên cơ sở các khái niệm và định nghĩa đã nêu trên, căn cứ vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam cho một khu bảo tồn thiên nhiên có thể đi đến khái niệm chung mang tính chất tƣơng đối về đồng quản lý tài nguyên rừng trong luận văn này nhƣ sau: “Đồng quản lý là việc sắp xếp lại quyền và trách nhiệm giữa các bên tham gia trong quản lý tài nguyên rừng. Hoạt động sắp xếp này liên quan đến việc chuyển từ hình thức đƣa ra quyết định từ trên xuống dƣới và thiếu sự 4 phối kết hợp giữa ngƣời bản địa với việc quản lý nguồn tài nguyên của Nhà nƣớc sang hình thức đƣa ra quyết định có sự chia sẻ, hợp tác và thoả thuận của các bên liên quan trong bảo tồn tài nguyên thiên nhiên”.Nghiên cứu đồng quản lý tài nguyên rừng trên thế giới Ấn Độ là quốc gia đầu tiên trên thế giới đặt nền móng cho phƣơng pháp tham gia quản lý tài nguyên rừng. Thông qua việc chia sẻ nguồn lợi giữa các nhóm ngƣời dân địa phƣơng với nhà nƣớc, các chƣơng trình dự án cũng đã giúp hoà giải sự tranh chấp nguồn tài nguyên giữa ngƣời dân và nhà nƣớc. Các chƣơng trình đồng quản lý hoặc hợp tác rừng đã đem lại những kết quả to lớn.000 nhóm - tổ tham gia tham gia vào các chƣơng trình trồng mới 14 triệu ha rừng {dẫn theo Lê Thu Thủy (2010)}.
Ở vƣờn quốc gia Richtersveld Nam Phi trong báo cáo khoa học về vấn đề “Hợp tác quản lý với ngƣời dân ở Nam Phi trong phạm vi vận động” của hai nhà khoa học Moenieba Isaacs và Majma Mohamed năm (2000) đã nghiên cứu các hoạt động hợp tác quản lý tại vƣờn quốc gia này. Tài nguyên thiên nhiên ở khu vực này khá phong phú và đa dạng đặc biệt có mỏ kim cƣơng. Bởi vậy, ngƣời dân ở các v ng khác di cƣ đến khai thác trái phép làm cho tài nguyên rừng, đa dạng sinh học ở khu vực này bị suy giảm nghiêm trọng. Năm 1991 ban quản lý vƣờn quốc gia đã nghiên cứu tìm ra phƣơng thức hợp tác quản lý với cộng đồng dân cƣ.
Phƣơng thức này chủ yếu dựa trên quy ƣớc, hƣơng ƣớc quản lý bảo vệ rừng, trong đó ngƣời dân cam kết bảo vệ đa dạng sinh học trên địa phận của mình còn chính quyền và ban quản lý hỗ trợ ngƣời dân xây dựng cơ sở hạ tầng và cải thiện các điều kiện kinh tế xã hội khác. Ở Nam Phi tại vƣờn quốc gia Kruger trƣớc đây ngƣời dân đã chuyển đến Makuleke, khi chính phủ mới thành lập đã cho phép ngƣời dân trở lại v ng đất 5 truyền thống để sinh sống. Để đạt đƣợc quyền sử dụng đất đai cũ, ngƣời dân phải xây dựng quy ƣớc bảo vệ môi trƣờng trong khu vực vƣờn quốc gia đồng thời họ cũng đƣợc chia sẻ lợi ích thu đƣợc từ du lịch. Từ những kết quả đạt đƣợc về đồng quản lý tài nguyên ở Nam Phi đã trở thành bài học kinh nghiệm cho các nƣớc đang phát triển khác dẫn theo Reid H (2000).
Ở Thái Lan là nƣớc đƣợc đánh giá đạt nhiều thành tựu trong công tác xây dựng các chƣơng trình đồng quản lý bảo vệ rừng. Các cộng đồng dân cƣ có đời sống phụ thuộc vào tài nguyên rừng thƣờng có nhiều kinh nghiệm khi đóng vai trò là ngƣời bảo vệ hoặc ngƣời tham gia quản lý khu bảo tồn. Trong báo cáo “Liên minh cộng đồng” đồng quản lý rừng ở Thái Lan đã có nghiên cứu điểm tại vƣờn quốc gia Dong Yai nằm ở Đông Bắc và khu rừng phòng hộ Nam Sa ở phía Bắc Thái Lan.