Chương I TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN GIAO THÔNG VẬN TẢI CÔNG CỘNG 1. Tổng quan về đô thị và giao thông đô thị 1. Đô thị và quá trình đô thị hoá Khái niệm về đô thị Đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm chuyên ngành hay tổng hợp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong tỉnh trong huyện. Phân loại đô thị Mỗi nước có một qui định riêng về điểm dân cư đô thị.
Việc xác định qui mô tối thiểu phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế - xã hội của quốc gia đó và tỷ lệ phần trăm dân phi nông nghiệp của một đô thị. Một số quốc gia trên thế giới, theo qui mô dân số người ta chia đô thị thành 6 loại: - Siêu đô thị: là đô thị có dân số trên 10 triệu người. - Đô thị loại 1: là đô thị có dân số trên 1 triệu người. - Đô thị loại 2: là đô thị có dân số từ 500.
- Đô thị loại 3: là đô thị có dân số từ 250. - Đô thị loại 4: là đô thị có dân số từ 100. - Đô thị loại 5: là đô thị có dân số từ 50. Hiện nay, ở Việt nam đô thị được phân thành 6 loại như sau: loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III, loại IV và loại V, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định công nhận.
- Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc. - Đô thị loại I, loại II là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc; đô thị loại I, loại II là thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành. - Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành, nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thị. - Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị.
- Đô thị loại IV, đô thị loại V là thị trấn thuộc huyện có các khu phố xây dựng tập trung và có thể có các điểm dân cư nông thôn. Quá trình đô thị hóa Đô thị hoá là sự hình thành và phát triển các điểm dân cư được tập hợp lại và phổ biến lối sống thành thị cho người dân sở tại, đồng thời đẩy mạnh các hình thức họat động khác để phát triển trong cộng đồng đó. Đô thị hoá cũng có thể hiểu là quá trình mở rộng biên giới lãnh thổ của các đô thị. Nó được thực hiện bằng sự sát nhập các khu dân cư lân cận hoặc xây dựng các điểm dân cư mới để cho dân chúng sống và làm việc theo phong cách và lối sống thành thị do nhu cầu của công nghiệp hoá, thương mại, dịch vụ và giao lưu quốc tế.
5 Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển giao thông công cộng thành phố Cần Thơ Như vậy sự tăng trưởng về không gian đô thị là sự kết hợp của hai yếu tố: phát triển sản xuất và phát triển dân số. Cơ sở của đô thị hoá chính là công nghiệp hoá. Đô thị hoá không chỉ phát triển về qui mô, số lượng dân số mà còn gắn liền với những biến đổi về kinh tế xã hội ở đô thị trên cơ sở phát triển công nghiệp, GTVT. Mức độ đô thị hoá được tính bằng tỷ lệ phần trăm dân số của đô thị so với tổng số dân toàn quốc.
Quá trình đô thị hoá trên thế giới được chia thành 3 thời kỳ như sau: - Thời kỳ đô thị hoá tiền công nghiệp tương ứng với thời kỳ cách mạng kỹ thuật I còn gọi là cách mạng thủ công nghiệp. - Thời kỳ đô thị hoá công nghiệp tương ứng với thời kỳ cách mạng kỹ thuật II còn gọi là cách mạng công nghiệp. - Thời kỳ đô thị hoá hậu công nghiệp tương ứng với thời kỳ cách mạng kỹ thuật III còn gọi là cách mạng khoa học kỹ thuật. Đô thị hoá luôn luôn gắn liền với sự gia tăng dân số, mật độ dân số, đầu tư về cơ sở hạ tầng.
Quá trình đô thị hoá có thể dẫn tới hai xu hướng: Hoặc tạo nên những siêu đô thị (Tokyo, Mexico City, Newyork.) hoặc tạo thành những chùm đô thị (bao gồm đô thị trung tâm và đô thị vệ tinh). Hệ quả của đô thị hóa - Sự gia tăng dân số đô thị, số lượng và qui mô đô thị: Đô thị hoá sẽ dẫn đến việc gia tăng dân số có tính chất bùng nổ, tập trung vào các đô thị. Trên toàn cầu, năm 1920 dân số đô thị là 226 triệu dân, chiếm 14,3 % dân số thế giới, sau 40 năm nó đã tăng lên thành 760 triệu dân chiếm 25,4% dân số. Năm 2008 dân số sống trong các đô thị khoảng 3,8 tỷ người chiếm khoảng 53% dân số thế giới.
- Đô thị hoá làm thay đổi cơ cấu lao động, ngành nghề của dân cư: Đô thị hoá dẫn đến sự chuyển đổi từ khối kinh tế này sang khối kinh tế khác. Dưới tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật, số lượng lao động được đào tạo và học nghề tăng lên không ngừng, vai trò của con người trong lao động được thay đổi, lao động được cơ giới hoá, tự động hoá. - Đô thị hoá làm thay đổi chức năng của dân cư và vùng lãnh thổ: Các điểm dân cư thuần tuý sản xuất nông nghiệp sẽ giảm, các chức năng sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch, dịch vụ, thương mại phát triển nhanh. - Đô thị hoá kích thích sự dịch cư và gia tăng trao đổi lao động: Đô thị hoá dẫn đến các khu dân cư, các khu công nghiệp, các khu mua sắm, khu vui chơi giải trí.
lao động làm việc ở những khu xa nơi dân cư, nhu cầu đi lại tăng lên. Như vậy đô thị hoá luôn gắn với sự gia tăng nhu cầu đi lại của cư dân và sức ép về giao thông nói chung trong đô thị là rất lớn. Các thành phần cấu thành của đô thị Cơ sở hạ tầng đô thị là tên gọi các tài sản vật chất và các hoạt động có liên quan dùng để phục vụ các nhu cầu kinh tế- xã hội của cộng đồng dân cư đô thị. Kết cấu hạ tầng đô thị bao gồm kết cấu hạ tầng kỹ thuật và kết cấu hạ tầng xã hội (hình 1.
6 Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển giao thông công cộng thành phố Cần Thơ Các thành phần chủ yếu của kết cấu hạ tầng đô thị Kết cấu hạ tầng kỹ thuật Kết cấu hạ tầng xã hội - Mạng lưới giao thông - Trường học - Phương tiện vận tải - Bệnh viện - Cấp thoát nước - Trung tâm giải trí - Thông tin, tín hiệu ÔXT - Trung tâm thương mai… - Cấp điện, cấp nhiệt. Sơ đồ các yếu tố kết cấu hạ tầng của đô thị Kết cấu hạ tầng kỹ thuật Là một hệ thống các phương tiện kỹ thuật làm nền tảng cho sự phát triển, là một bộ phận của cơ sở hạ tầng làm dịch vụ công cộng trong các đô thị. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật được hình thành thông qua việc xây dựng hệ thống đường sá, hệ thống cung cấp nước sạch, thoát nước, cung cấp điện năng. Nó phục vụ một cách trực tiếp cho sự phát triển xã hội.
Kết cấu hạ tầng xã hội Là một hệ thống các yếu tố tham gia vào qúa trình tồn tại và phát triển của xã hội. Kết cấu hạ tầng xã hội do các yếu tố tự nhiên và con người tạo ra để phục vụ cuộc sống của con người, bao gồm giáo dục, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, các phương tiện, thiết bị vui chơi, giải trí, văn hoá. Kết cấu hạ tầng kỹ thuật phục vụ những nhu cầu chung không có cá tính của con người như điện, nước, giao thông,. trong khi đó kết cấu hạ tầng xã hội lại phục vụ những nhu cầu mang tính con người trong cộng đồng như khu vui chơi giải trí, trường học, bệnh viện.
Quan hệ giữa đô thị hoá và cơ giới hoá Đô thị hóa góp phần hiện đại các công trình giao thông. Tại các thành phố lớn, nhiều dự án đầu tư xây dựng hệ thống các đường sá, trục chính, đường vành đai được cải tạo, mở rộng, xây dựng mới, bộ mặt giao thông đô thị được cải thiện đáng kể. Ngoài ra, đô thị hóa góp phần thúc đẩy việc đầu tư để đổi mới, đa dạng và phát triển hiện đại các loại phương tiện, trang thiết bị đây cũng chính là động lực phát triển quá trình cơ giới hóa trong lĩnh vực giao thông vận tải ở các đô thị lớn. 7 Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển giao thông công cộng thành phố Cần Thơ Các mặt tác động tiêu cực của đô thị hóa là: tăng sức ép lên kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị, đặc biệt là kết cấu hạ tầng giao thông không theo kịp tốc độ đô thị hóa.
Vì vậy, càng đẩy thêm giao thông đô thị vào thế không lối thoát và chính nó làm chậm sự phát triển kinh tế của các đô thị hiện nay. Ngoài ra, tỷ lệ cơ giới hóa các loại phương tiện tham gia giao thông tăng nhanh thể hiện bởi số lượng đăng ký mới phương tiện chủ yếu là xe máy, ôtô con dẫn đến ùn tắc giao thông và mất an toàn giao thông đã và đang trở thành vấn đề hết sức bức xúc tại các đô thị, đặc biệt ở các thành phố lớn. Có thể nói trên địa bàn đô thị, bất cứ tuyến đường, nút giao thông nào cũng tiềm ẩn ùn tắc giao thông, trong khi hạ tầng vừa yếu, vừa thiếu nhưng phương tiện xe máy tăng rất nhanh. Điều này, không những làm cản trở tới các hoạt động KT-XH mà còn gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng.
Dự báo với thực trạng trên thì thời gian ùn tắc giao thông vào giờ cao điểm sẽ cao gấp đôi hoặc ba lần trong khoảng 10 năm tới. Mặt tác động tiêu cực nữa của đô thị hóa là vấn đề đất đai ngày càng có giá trị cao. Đây là một trong những nguyên nhân làm khó khăn thêm cho công tác giải phóng mặt bằng để xây dựng các công trình giao thông.