Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ: "Dạy học theo dự án các mô đun nghề Công nghệ ô tô"
- Tác giả: Đinh Hữu Sỹ
- Người hướng dẫn khoa học: GS. TSKH. Nguyễn Minh Đường, PGS. TS. Mạc Văn Tiến
- Cơ sở đào tạo: Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử giáo dục (Mã số: 62.02)
- Năm hoàn thành: 2014
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Nghị quyết số 29/NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã xác định nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục nghề nghiệp là hình thành hệ thống đào tạo kỹ năng nghề nghiệp theo hướng ứng dụng, thực hành, đáp ứng nhu cầu thị trường lao động. Luật Giáo dục sửa đổi năm 2010 cũng quy định phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm và vận dụng tri thức vào thực tiễn.
Nghề Công nghệ ô tô đã được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) xác định là nghề trọng điểm chất lượng cao đạt cấp độ quốc tế từ năm 2015 (theo Quyết định số 784/QĐ-BLĐTBXH). Chương trình khung đào tạo nghề Công nghệ ô tô trình độ cao đẳng nghề (CĐN) được thiết kế theo cấu trúc mô đun chuyên môn (theo Quyết định số 58/2008/QĐ-BLĐTBXH), trong đó mỗi mô đun gắn với việc bảo dưỡng và sửa chữa một cụm hoặc hệ thống cụ thể của ô tô.
Thực tế tại các trường cao đẳng nghề cho thấy phương pháp dạy học truyền thống vẫn chiếm ưu thế, thể hiện qua việc dạy lý thuyết riêng rẽ trên lớp và thực hành kỹ năng rời rạc tại xưởng, làm hạn chế tính tích cực, sáng tạo của người học. Phương pháp dạy học theo dự án (DHTDA) đã được ứng dụng trong giáo dục phổ thông, giáo dục đại học và các dự án quốc tế tại Việt Nam, song trong lĩnh vực dạy nghề nói chung và nghề Công nghệ ô tô nói riêng chưa có công trình nghiên cứu hệ thống nào về cơ sở lý luận cũng như quy trình vận dụng phương pháp này.
Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất các nguyên tắc vận dụng, phương pháp tổ chức và quy trình dạy học theo dự án các mô đun nghề Công nghệ ô tô trình độ cao đẳng nghề nhằm nâng cao tính tích cực, chủ động và sáng tạo của sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề.
Giả thuyết khoa học
Phương pháp dạy nghề Công nghệ ô tô truyền thống hiện nay chưa đáp ứng tốt yêu cầu của sản xuất thực tế. Nếu vận dụng đồng bộ các nguyên tắc, phương pháp tổ chức và quy trình DHTDA vào dạy học các mô đun nghề Công nghệ ô tô thì sẽ phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của sinh viên và hình thành năng lực thực hiện các công việc của nghề, từ đó nâng cao chất lượng dạy học.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc dạy học các mô đun nghề Công nghệ ô tô theo dự án học tập.
- Đề xuất các nguyên tắc, phương pháp tổ chức và quy trình thực hiện DHTDA các mô đun nghề Công nghệ ô tô.
- Xây dựng các tiêu chí lựa chọn nội dung và đề xuất danh mục các dự án học tập cho các mô đun bắt buộc của nghề Công nghệ ô tô trình độ cao đẳng nghề.
- Thiết kế 10 giáo án thuộc các mô đun bắt buộc của nghề Công nghệ ô tô để phục vụ dạy học theo dự án.
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm 2 bài học theo dự án nhằm kiểm chứng tính khả thi và tính đúng đắn của giả thuyết khoa học.
Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học nghề Công nghệ ô tô ở trường cao đẳng nghề.
- Đối tượng nghiên cứu: Dạy học theo dự án các mô đun nghề Công nghệ ô tô.
- Phạm vi nội dung: Luận án tập trung vào 10 mô đun thuộc phần chuyên môn bắt buộc (phần cứng) của chương trình khung nghề Công nghệ ô tô trình độ cao đẳng nghề. Mỗi mô đun chọn 1 bài học tiêu biểu để xây dựng dự án học tập (tổng số 10 dự án).
- Phạm vi không gian và thời gian: Khảo sát thực trạng tại 8 trường cao đẳng nghề, 40 trường nghề chất lượng cao và 30 doanh nghiệp sửa chữa ô tô trên toàn quốc; thực nghiệm sư phạm 2 dự án ("Sửa chữa ly hợp ma sát" và "Sửa chữa bơm cao áp PE") tại Khoa Cơ khí Động lực, Trường Cao đẳng nghề số 8/BQP trong năm học 2012–2013.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các nghiên cứu quốc tế về dạy học theo dự án
Tư tưởng dạy học theo dự án có nguồn gốc từ triết học giáo dục thực nghiệm của John Dewey (How we think, 1910; Experience and education, 1938), nhấn mạnh việc học tập thông qua hành động, tương tác xã hội và giải quyết các vấn đề thực tiễn. William H. Kilpatrick (The Project Method, 1918; School method from the project point of view; Die Projekt-methode) là người đầu tiên chính thức hóa khái niệm phương pháp dự án với quy trình 4 giai đoạn: xác định mục đích, lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá. Kilpatrick cho rằng dự án đạt hiệu quả tối ưu khi người học tự lực khởi xướng và hoàn thành các giai đoạn.
Các công trình tiếp theo tiếp tục phát triển lý thuyết này:
- James Leroy Stockton (Project work in education, 1920) phân tích các nguyên tắc giáo dục định hướng thực tiễn của phương pháp dự án.
- Stevenson (Project method of teaching, 1921) tổng kết lịch sử phát triển và quan điểm của các nhà sư phạm Âu - Mỹ về phương pháp dự án.
- John Thomas (A view of research on project-based learning, 2000) tổng hợp các nghiên cứu về định nghĩa, nền tảng lý luận, tác động tích cực và những thách thức khi triển khai DHTDA.
- Bender William N. (Project-Based Learning: Differentiating Instruction for the 21st Century, 2012) phân tích các mô hình dự án học tập gắn với tiêu chuẩn giáo dục thế kỷ 21.
- K. Frey (Die Projektmethode, 1982) đề xuất phân loại dự án học tập theo thời gian thực hiện (dự án nhỏ: 2–6 giờ; dự án trung bình: dưới 1 tuần/40 giờ; dự án lớn: trên 1 tuần).
- Knoll M. (1997) phân loại dự án theo nhiệm vụ (tìm hiểu, nghiên cứu, kiến tạo) và mức độ phức hợp (dự án thực hành, dự án tích hợp).
- Các tác giả khác như Alberty, Bleeke, John Larmer, John Mergendoller, và tổ chức InWent cũng có nhiều công trình đóng góp vào lý luận DHTDA.
Các nghiên cứu trong nước về dạy học theo dự án
Tại Việt Nam, DHTDA được nghiên cứu và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực:
- Nguyễn Thị Diệu Thảo (2009): Luận án nghiên cứu DHTDA trong đào tạo giáo viên môn Công nghệ (phần Kinh tế gia đình) tại các trường cao đẳng sư phạm.
- Trần Việt Cường (2012): Luận án nghiên cứu DHTDA trong học phần Phương pháp dạy học môn Toán nhằm rèn luyện năng lực sư phạm cho sinh viên.
- Trần Thị Hoàng Yến: Luận án về tổ chức DHTDA môn Xác suất và Thống kê ở bậc đại học khối ngành kinh tế - kỹ thuật.
- Phạm Hồng Bắc: Luận án vận dụng DHTDA trong dạy học phần Hóa học phi kim cấp THPT.
- Đỗ Hương Trà, Phạm Thị Phú, Nguyễn Anh Kiệt, Cao Thị Sông Hương, Phạm Văn Ngọc, Trần Văn Thành: Nghiên cứu ứng dụng DHTDA trong môn Vật lý ở trường phổ thông.
- Nguyễn Thị Thanh Huyền: Vận dụng DHTDA trong hoạt động giáo dục hướng nghiệp THPT.
- Đặng Thành Hưng, Trịnh Hồng Hà, Nguyễn Khải Hoàn, Trần Vũ Khánh: Công trình Lý thuyết phương pháp dạy học hệ thống hóa bản chất, phân loại và 9 nguyên tắc cơ bản của DHTDA.
- Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường: Xác định bản chất DHTDA là hình thức dạy học tích hợp lý thuyết - thực hành, tạo sản phẩm giới thiệu được.
- Các chương trình bồi dưỡng giáo viên như Intel Teach to the Future, Microsoft Partners in Learning, và dự án của UNESCO (2010–2012) tại trường THCS Nam Trung Yên đã thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin trong DHTDA.
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
Hầu hết các công trình nghiên cứu về DHTDA tại Việt Nam chỉ dừng lại ở phạm vi giáo dục phổ thông, giáo dục đại học hoặc đào tạo sư phạm các môn khoa học cơ bản (Toán, Lý, Hóa). Trong lĩnh vực đào tạo nghề, đặc biệt là nghề Công nghệ ô tô — một ngành kỹ thuật phức hợp đào tạo theo mô đun năng lực thực hiện — chưa có công trình nào nghiên cứu xây dựng nguyên tắc, tiêu chí lựa chọn nội dung, thiết kế quy trình và giáo án mẫu để triển khai DHTDA. Luận án giải quyết khoảng trống lý luận và thực tiễn này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và các khái niệm sử dụng
- Cơ sở triết học: Dựa trên triết học giáo dục định hướng kinh nghiệm của John Dewey và lý luận nhận thức duy vật biện chứng. Thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn kiểm tra chân lý; có sự thống nhất biện chứng giữa lý thuyết và thực hành, tư duy và hành động.
- Cơ sở tâm lý học: Dựa trên thuyết kiến tạo (Constructivism). Người học tự kiến tạo tri thức thông qua hoạt động tương tác với môi trường học tập phức hợp, gắn với nhiệm vụ thực tiễn và hoạt động hợp tác nhóm.
- Cơ sở lý luận dạy học: Vận dụng quan điểm dạy học định hướng hành động (kết hợp hoạt động trí óc và chân tay để tạo ra sản phẩm) và dạy học giải quyết vấn đề.
- Hệ thống khái niệm nền tảng:
- Dự án: Kế hoạch thực hiện trong điều kiện xác định về thời gian, nhân lực, vật lực nhằm đạt mục đích đề ra (theo tiêu chuẩn DIN 69901).
- Dự án học tập (DAHT): Nhiệm vụ học tập phức hợp do người học thiết kế và thực hiện dưới sự hỗ trợ của giáo viên nhằm tạo ra sản phẩm thực tế của nghề.
- Dạy học theo dự án (DHTDA): Phương thức dạy học tích hợp giữa lý thuyết và thực hành, người học tự lực từ khâu xác định mục tiêu, lập kế hoạch, thực hiện đến đánh giá sản phẩm.
- Năng lực thực hiện (NLTH): Khả năng vận dụng tích hợp kiến thức, kỹ năng và thái độ để hoàn thành công việc của nghề đạt chuẩn quy định trong điều kiện cho trước (theo Nguyễn Đức Trí, Nguyễn Minh Đường, Luật Dạy nghề 2006).
- Mô đun NLTH: Đơn vị học tập tích hợp trọn vẹn giữa lý thuyết và thực hành với 3 đặc trưng cốt lõi: tính trọn vẹn, tính tích hợp và tính cá nhân hóa.
Các lựa chọn mô hình dự án trong luận án
- Theo quỹ thời gian: Chọn loại dự án trung bình từ 3 ngày (18 tiết) đến 1 tuần (30 tiết) theo phân loại của K. Frey.
- Theo nhiệm vụ: Chọn dự án kiến tạo theo phân loại của Knoll M.
- Theo mức độ phức hợp: Chọn dự án tích hợp theo phân loại của Knoll M.
- Theo cách thức dạy học: Chọn cách tiếp cận thứ hai của Kilpatrick (tích hợp việc hướng dẫn lý thuyết và kỹ thuật trực tiếp trong tiến trình thực hiện dự án).
Hệ thống đặc điểm và nguyên tắc dạy học theo dự án
- 7 đặc điểm cơ bản: Định hướng thực tiễn; định hướng hành động; định hướng sản phẩm; định hướng hứng thú người học; tính tự lực cao; cộng tác làm việc theo nhóm; tính tích hợp cao.
- 9 nguyên tắc vận dụng: Sự phụ thuộc lẫn nhau trong quá trình và kết quả; trách nhiệm cá nhân; tương tác trực diện; dạy học dựa vào kỹ năng xã hội; xử lý nhóm hợp tác; tính vấn đề của nội dung học tập; tính tham gia của mọi thành viên; tìm tòi khám phá thông qua sản phẩm; tính tự lực và tích cực liên tục.
Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp tiếp cận: Tiếp cận hệ thống, tiếp cận năng lực đầu ra và tiếp cận hoạt động.
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và mô hình hóa tài liệu chuyên ngành.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Khảo sát bằng phiếu hỏi: 48 giáo viên và hơn 200 sinh viên tại 8 trường cao đẳng nghề; 30 doanh nghiệp sửa chữa ô tô; 40 trường nghề chất lượng cao; 2 giáo viên và 36 sinh viên tham gia thực nghiệm.
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến đánh giá của 24 chuyên gia có trình độ Thạc sĩ chuyên ngành tại 8 trường cao đẳng nghề về tính cần thiết và tính khả thi của DHTDA.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: Đánh giá kết quả học tập thông qua sản phẩm thực hành bảo dưỡng, sửa chữa ô tô của sinh viên.
- Phương pháp quan sát: Theo dõi tiến độ, tác phong làm việc, thái độ và sự tương tác nhóm của sinh viên trong quá trình học tập.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học thực nghiệm có đối chứng tại xưởng thực hành.
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lý định lượng dữ liệu điều tra thực trạng và kết quả thực nghiệm sư phạm.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của dạy học theo dự án các mô đun nghề Công nghệ ô tô
Chương 1 tập trung làm sáng tỏ cơ sở khoa học và mối quan hệ bản chất giữa DHTDA với đào tạo nghề theo mô đun năng lực thực hiện. Tác giả luận giải tính tương thích giữa hai phương thức này trên các khía cạnh: tính trọn vẹn của nhiệm vụ học tập, tính tích hợp giữa lý thuyết và thực hành, lấy người học làm trung tâm, và mục tiêu tạo ra sản phẩm thực tế đáp ứng tiêu chuẩn nghề nghiệp.
Tác giả đề xuất khung quy trình chung 4 giai đoạn của DHTDA:
- Xác định chủ đề và mục tiêu dự án.
- Lập kế hoạch thực hiện dự án.
- Thực hiện dự án.
- Đánh giá dự án.
Chương này cũng xác định rõ sự chuyển đổi vai trò của người dạy và người học. Giáo viên chuyển từ vai trò truyền thụ một chiều sang người thiết kế môi trường học tập, tư vấn, hướng dẫn và giám sát. Sinh viên chuyển từ thế thụ động sang chủ động lập kế hoạch, phân công công việc, thực hiện thao tác kỹ thuật và tự đánh giá. Luận án xây dựng bảng đối chiếu sự phù hợp giữa DHTDA và dạy học mô đun nghề Công nghệ ô tô theo năng lực thực hiện (Bảng 1.1), khung thiết kế hoạt động của người học (Bảng 1.2), cùng hệ thống tiêu chí đánh giá thiết kế giáo án DHTDA (Bảng 1.3).
| Tiêu chí so sánh | Dạy học mô đun theo NLTH | Dạy học theo dự án (DHTDA) | Mức độ phù hợp |
|---|---|---|---|
| Mục tiêu đào tạo | Hình thành năng lực thực hiện trọn vẹn một công việc nghề | Phát triển năng lực hành động, giải quyết nhiệm vụ phức hợp | Hoàn toàn tương thích |
| Cấu trúc nội dung | Tích hợp kiến thức chuyên môn, kỹ năng và thái độ | Tích hợp liên môn, gắn kết lý thuyết với thực hành | Tương đồng về bản chất |
| Phương thức tổ chức | Người học chủ động thực hành theo nhịp độ cá nhân | Làm việc nhóm, phát huy tính tự lực, hợp tác | Bổ trợ và nâng cao hiệu quả |
| Sản phẩm đầu ra | Hoàn thành công việc theo tiêu chuẩn kỹ thuật của nghề | Tạo ra sản phẩm cụ thể có thể giới thiệu, đánh giá được | Trùng khớp mục tiêu |
Chương 2: Thực trạng dạy học các mô đun nghề Công nghệ ô tô trình độ cao đẳng nghề
Chương 2 phân tích các quy định pháp luật về chương trình đào tạo nghề Công nghệ ô tô trình độ CĐN theo ban hành của Bộ LĐTBXH và công bố số liệu điều tra thực trạng tại các cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp.
Kết quả khảo sát thực trạng cho thấy:
- Nội dung chương trình đào tạo: Chương trình hiện hành vẫn phân chia tách biệt giữa lý thuyết và thực hành. Đa số giáo viên và cựu sinh viên cho rằng nội dung chưa bám sát các hư hỏng thực tế của ô tô hiện đại đang lưu hành tại Việt Nam.
- Phương pháp dạy học: Phương pháp truyền thống (giáo viên giảng lý thuyết trên lớp, làm mẫu tại xưởng và học sinh luyện tập thụ động) vẫn là phương thức chủ yếu. Phần lớn giáo viên nhận thức được sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học, nhưng mức độ hiểu biết và năng lực thiết kế giáo án DHTDA còn rất hạn chế.
- Đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất: Số lượng giáo viên đạt chuẩn kỹ năng nghề và nghiệp vụ sư phạm dạy nghề tích hợp còn thấp. Cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề tại nhiều trường chưa đồng bộ, thiếu các mô hình tổng thành ô tô hoàn chỉnh để tổ chức cho sinh viên học tập theo nhóm dự án.
- Đánh giá từ doanh nghiệp sử dụng lao động: Khảo sát 30 doanh nghiệp sửa chữa ô tô trên toàn quốc cho thấy công nhân kỹ thuật mới tốt nghiệp còn yếu về kỹ năng chẩn đoán sự cố, tác phong công nghiệp và khả năng làm việc độc lập. Doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng cao đối với thợ sửa chữa hệ thống gầm, động cơ diesel, hệ thống phun xăng điện tử và điện thân xe.
| Đối tượng khảo sát | Quy mô mẫu | Phát hiện chính về thực trạng |
|---|---|---|
| Giáo viên dạy nghề CNOT | 48 GV tại 8 trường CĐN | Thừa nhận PPDH truyền thống còn chiếm ưu thế; có nhu cầu đổi mới PPDH nhưng thiếu giáo án mẫu và quy trình DHTDA chuẩn. |
| Sinh viên học nghề CNOT | >200 SV tại 8 trường CĐN | Mong muốn tăng thời lượng thực hành tích hợp, được tự lập kế hoạch sửa chữa thay vì làm theo mẫu định sẵn. |
| Doanh nghiệp sửa chữa ô tô | 30 doanh nghiệp toàn quốc | Đánh giá kỹ năng thực tế của sinh viên mới tốt nghiệp chưa đạt chuẩn; yêu cầu tăng cường rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm và giải quyết sự cố. |
| Chuyên gia chuyên ngành | 24 ThS tại 8 trường CĐN | Đánh giá tính cần thiết và tính khả thi của việc áp dụng DHTDA vào nghề Công nghệ ô tô là rất cao. |
Chương 3: Dạy học theo dự án các mô đun nghề Công nghệ ô tô trình độ cao đẳng nghề
Chương 3 trình bày giải pháp cụ thể của luận án, bao gồm xây dựng tiêu chí lựa chọn nội dung, đề xuất danh mục dự án, thiết kế quy trình, biên soạn giáo án và thực nghiệm sư phạm.
Tác giả xác định các tiêu chí lựa chọn nội dung dạy học theo dự án:
- Nội dung mang tính tích hợp cao giữa lý thuyết và thực hành.
- Có tính thực tiễn, phản ánh các nhiệm vụ bảo dưỡng hoặc sửa chữa thực tế của nghề.
- Có mức độ phức hợp vừa sức với trình độ sinh viên cao đẳng nghề.
- Có khả năng tạo ra sản phẩm kỹ thuật cụ thể để đo lường, đánh giá.
- Phù hợp với quỹ thời gian dự án trung bình (18–30 tiết).
Dựa trên các tiêu chí này, luận án đề xuất danh mục các chủ đề thuộc 10 mô đun chuyên môn bắt buộc có thể tổ chức DHTDA (Bảng 3.1) và xây dựng 2 quy trình dạy học chuyên biệt:
- Quy trình DHTDA các bài học/dự án sửa chữa ô tô (Sơ đồ 3.1): Gồm các bước: Tiếp nhận nhiệm vụ -> Kiểm tra, chẩn đoán hư hỏng -> Lập phương án sửa chữa -> Tháo rời, vệ sinh, đo kiểm chi tiết -> Sửa chữa hoặc thay thế chi tiết -> Lắp ráp, điều chỉnh -> Kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm xuất xưởng -> Đánh giá tổng kết.
- Quy trình DHTDA các bài học/dự án bảo dưỡng ô tô (Sơ đồ 3.2): Gồm các bước: Tiếp nhận đối tượng -> Lập kế hoạch bảo dưỡng định kỳ -> Thực hiện các nội dung kiểm tra, xiết chặt, bôi trơn, điều chỉnh theo tiêu chuẩn kỹ thuật -> Kiểm tra chất lượng sau bảo dưỡng -> Đánh giá, bàn giao.
Tác giả biên soạn hoàn chỉnh 10 giáo án dự án mẫu, trong đó minh họa chi tiết 2 giáo án: Dự án 1: "Sửa chữa ly hợp ma sát" (thuộc mô đun Bảo dưỡng và sửa chữa hệ thống truyền lực) và Dự án 2: "Sửa chữa bơm cao áp PE" (thuộc mô đun Bảo dưỡng và sửa chữa hệ thống nhiên liệu động cơ diesel). Các kỹ thuật dạy học tích cực bổ trợ được vận dụng gồm: động não, sơ đồ tư duy, làm việc nhóm, phòng tranh và đóng vai kỹ thuật viên (Bảng 3.3).
Kết quả thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm được tiến hành tại Trường Cao đẳng nghề số 8/BQP trong năm học 2012–2013 với 36 sinh viên (18 SV nhóm thực nghiệm học theo DHTDA, 18 SV nhóm đối chứng học theo phương pháp truyền thống) do 2 giáo viên giảng dạy. Kết quả đánh giá bằng thống kê toán học cho thấy:
- Điểm kiểm tra kỹ năng thực hành và chất lượng sản phẩm của nhóm thực nghiệm cao hơn nhóm đối chứng ở cả 2 bài thực nghiệm (Bài 1: Sửa chữa ly hợp ma sát; Bài 2: Sửa chữa bơm cao áp PE).
- Tỷ lệ sinh viên đạt loại khá, giỏi ở nhóm thực nghiệm vượt trội so với nhóm đối chứng.
- Mức độ hứng thú, tính tự lực và khả năng cộng tác nhóm của nhóm thực nghiệm cao hơn rõ rệt so với nhóm học theo phương pháp truyền thống.
| Nội dung thực nghiệm | Nhóm thực nghiệm ($n=18$) | Nhóm đối chứng ($n=18$) | Đánh giá so sánh |
|---|---|---|---|
| Bài TN 1: Sửa chữa ly hợp ma sát | Điểm TB cao hơn, tỷ lệ khá - giỏi vượt trội | Điểm TB thấp hơn, phân bố tập trung ở mức trung bình | Nhóm TN nắm vững quy trình tháo lắp, đo kiểm và khắc phục sai hỏng tốt hơn. |
| Bài TN 2: Sửa chữa bơm cao áp PE | Điểm TB cao hơn, kỹ năng cân chỉnh chính xác | Điểm TB thấp hơn, thao tác định lượng còn lúng túng | Nhóm TN hoàn thành sản phẩm đạt chuẩn thông số áp suất và lưu lượng phun. |
| Thái độ và kỹ năng mềm | Mức độ hứng thú cao; tính tự lực và kỹ năng làm việc nhóm phát triển tốt | Mức độ hứng thú trung bình; tính tự lực thấp, ỷ lại vào giáo viên | Nhóm TN có chuyển biến tích cực về tác phong công nghiệp. |
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về DHTDA trong đào tạo nghề, đặc biệt là luận giải tính phù hợp giữa DHTDA và dạy học các mô đun nghề Công nghệ ô tô theo năng lực thực hiện.
- Xây dựng hệ thống 9 nguyên tắc, 7 đặc điểm nhận dạng và khung phân loại dự án học tập phù hợp với lĩnh vực đào tạo nghề kỹ thuật.
- Thiết kế hoàn chỉnh 2 quy trình dạy học theo dự án đặc thù cho các bài học sửa chữa ô tô và bài học bảo dưỡng ô tô trình độ cao đẳng nghề.
- Xác lập bộ tiêu chí lựa chọn nội dung trong chương trình đào tạo nghề Công nghệ ô tô để tổ chức DHTDA hiệu quả.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Phản ánh thực trạng dạy học nghề Công nghệ ô tô tại 8 trường cao đẳng nghề, 40 trường nghề chất lượng cao và nhu cầu sử dụng lao động của 30 doanh nghiệp ô tô trên toàn quốc.
- Đề xuất danh mục các dự án học tập cho 10 mô đun chuyên môn bắt buộc của chương trình đào tạo nghề Công nghệ ô tô trình độ cao đẳng nghề.
- Biên soạn 10 bộ giáo án mẫu phục vụ giảng dạy các mô đun bắt buộc theo phương pháp dạy học theo dự án.
- Triển khai thực nghiệm sư phạm 2 dự án tại Trường Cao đẳng nghề số 8/BQP, cung cấp dữ liệu thực chứng khẳng định tính khả thi của quy trình và tính đúng đắn của giả thuyết khoa học.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đối với Bộ LĐTBXH và Tổng cục Dạy nghề: Cần điều chỉnh chương trình khung đào tạo nghề Công nghệ ô tô theo hướng mở, linh hoạt; ban hành các hướng dẫn chuyên môn cho phép áp dụng DHTDA; đầu tư bổ sung trang thiết bị xưởng thực tập đồng bộ cho các trường nghề trọng điểm.
- Đối với các cơ sở dạy nghề: Tổ chức bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên về phương pháp và kỹ thuật thiết kế giáo án DHTDA; chuyển đổi phương thức kiểm tra đánh giá từ ghi nhớ lý thuyết sang đánh giá năng lực thực hiện và sản phẩm; tăng cường liên kết với các doanh nghiệp sửa chữa ô tô để đưa các tình huống kỹ thuật thực tế vào dự án học tập.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Nghiên cứu mới chỉ tập trung vào 10 mô đun thuộc phần chuyên môn bắt buộc của nghề Công nghệ ô tô trình độ cao đẳng nghề, chưa mở rộng sang các mô đun tự chọn và các bậc đào tạo khác (trung cấp nghề, sơ cấp nghề).
- Trong mỗi mô đun bắt buộc, luận án mới thiết kế thí điểm 1 bài học theo dự án (tổng số 10 dự án).
- Phạm vi thực nghiệm sư phạm mới chỉ tiến hành trên 2 dự án tại 1 cơ sở đào tạo (Trường Cao đẳng nghề số 8/BQP) với quy mô 36 sinh viên trong năm học 2012–2013.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Nghiên cứu mở rộng thiết kế dự án học tập cho toàn bộ các bài học trong các mô đun chuyên môn của nghề Công nghệ ô tô.
- Vận dụng quy trình và phương pháp DHTDA cho các cấp trình độ đào tạo khác trong giáo dục nghề nghiệp và các ngành kỹ thuật cơ khí - động lực liên quan.
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm diện rộng trên nhiều trường cao đẳng nghề ở các vùng kinh tế khác nhau để hoàn thiện bộ công cụ đánh giá năng lực thực hiện.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo đối với nhiều đối tượng trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu giáo dục: Tham khảo khung lý luận về DHTDA trong giáo dục nghề nghiệp, phương pháp luận kết hợp khảo sát thực tiễn diện rộng với thực nghiệm sư phạm có đối chứng, và cách thức xây dựng tiêu chí lựa chọn nội dung dạy học tích hợp.
- Giáo viên dạy nghề Công nghệ ô tô tại các trường Cao đẳng, Trung cấp nghề: Sử dụng trực tiếp quy trình 4 giai đoạn, các kỹ thuật dạy học tích cực bổ trợ và bộ 10 giáo án mẫu để triển khai giảng dạy các mô đun bảo dưỡng, sửa chữa ô tô tại xưởng thực hành.
- Cán bộ quản lý đào tạo và nhà hoạch định chính sách: Sử dụng các dữ liệu khảo sát thực trạng từ 40 trường nghề chất lượng cao và 30 doanh nghiệp ô tô làm căn cứ điều chỉnh chương trình đào tạo, xây dựng chuẩn đầu ra theo năng lực thực hiện và lập kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất xưởng thực tập.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao dạy học theo dự án lại có sự phù hợp cao với các mô đun nghề Công nghệ ô tô theo năng lực thực hiện?
Nghề Công nghệ ô tô là nghề kỹ thuật phức hợp, đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa hiểu biết lý thuyết cấu tạo, nguyên lý hoạt động với kỹ năng chẩn đoán, tháo lắp, sửa chữa và bảo dưỡng các cụm chi tiết. Cả DHTDA và dạy học theo mô đun năng lực thực hiện đều có sự tương đồng về bản chất: cấu trúc trọn vẹn, tính tích hợp lý thuyết với thực hành, lấy người học làm trung tâm, và mục tiêu cuối cùng là tạo ra sản phẩm kỹ thuật cụ thể đạt tiêu chuẩn nghề nghiệp.
2. Luận án lựa chọn loại hình dự án học tập nào để áp dụng cho nghề Công nghệ ô tô?
Căn cứ vào đặc thù thực hành nghề, luận án lựa chọn:
- Theo thời gian: Dự án trung bình từ 3 ngày (18 tiết) đến 1 tuần (30 tiết) theo phân loại của K. Frey.
- Theo nhiệm vụ: Dự án kiến tạo theo phân loại của Knoll M.
- Theo mức độ phức hợp: Dự án tích hợp theo phân loại của Knoll M.
- Theo cách thức dạy học: Cách tiếp cận thứ hai của Kilpatrick (tích hợp việc hướng dẫn lý thuyết và kỹ thuật trực tiếp trong quá trình sinh viên thực hiện dự án).
3. Quy trình dạy học theo dự án các bài học nghề Công nghệ ô tô gồm những giai đoạn nào?
Quy trình tổng quát gồm 4 giai đoạn: (1) Xác định chủ đề và mục tiêu dự án; (2) Lập kế hoạch thực hiện dự án; (3) Thực hiện dự án; (4) Đánh giá dự án. Quy trình này được cụ thể hóa thành 2 quy trình chuyên biệt: Quy trình cho các bài học/dự án sửa chữa ô tô (gắn với các bước chẩn đoán, tháo rời, đo kiểm, sửa chữa/thay thế, lắp ráp, điều chỉnh và xuất xưởng) và Quy trình cho các bài học/dự án bảo dưỡng ô tô (gắn với các bước kiểm tra, xiết chặt, bôi trơn và điều chỉnh định kỳ).
4. Quy mô khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm trong luận án được tiến hành như thế nào?
Về khảo sát, tác giả thu thập số liệu từ 48 giáo viên và hơn 200 sinh viên tại 8 trường cao đẳng nghề, 24 chuyên gia Thạc sĩ chuyên ngành, 30 doanh nghiệp sửa chữa ô tô và 40 trường nghề chất lượng cao trên toàn quốc. Về thực nghiệm, tác giả tiến hành trên 36 sinh viên (18 SV nhóm thực nghiệm, 18 SV nhóm đối chứng) và 2 giáo viên tại Khoa Cơ khí Động lực, Trường Cao đẳng nghề số 8/BQP trong năm học 2012–2013 với 2 dự án: "Sửa chữa ly hợp ma sát" và "Sửa chữa bơm cao áp PE".
5. Việc đánh giá kết quả học tập trong dạy học theo dự án nghề Công nghệ ô tô dựa trên những yếu tố nào?
Luận án xác định đánh giá kết quả học tập dựa trên 3 yếu tố cốt lõi: Đánh giá chất lượng sản phẩm (độ chính xác kỹ thuật, khả năng vận hành sau sửa chữa/bảo dưỡng), Đánh giá quy trình thực hiện (tác phong công nghiệp, an toàn lao động, việc tuân thủ các bước kỹ thuật) và Đánh giá thời gian hoàn thành theo kế hoạch; đồng thời kết hợp đánh giá tính tự lực và năng lực làm việc nhóm của sinh viên.
Kết luận
Luận án "Dạy học theo dự án các mô đun nghề Công nghệ ô tô" của tác giả Đinh Hữu Sỹ đã xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc vận dụng phương pháp dạy học theo dự án vào đào tạo nghề Công nghệ ô tô trình độ cao đẳng nghề tại Việt Nam. Công trình đã thiết lập hệ thống nguyên tắc, tiêu chí lựa chọn nội dung, 2 quy trình dạy học chuyên biệt cho các bài học sửa chữa và bảo dưỡng ô tô, cùng 10 giáo án mẫu phục vụ giảng dạy các mô đun bắt buộc. Kết quả thực nghiệm sư phạm tại Trường Cao đẳng nghề số 8/BQP đã minh chứng tính khả thi và hiệu quả của phương pháp trong việc nâng cao kỹ năng nghề, tính tự lực, khả năng cộng tác nhóm và chất lượng đào tạo nghề đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động.