Chương 1: Tổ ng quan về tình hình nghiên cứu Chương 2: Lý luận chung về đầu tư phát triển tại doanh nghiê ̣p sản xuất mây tre đan Chương 3: Thực tra ̣ng đầ u tư phát triể n ta ̣i công ty TNHH Mây Tre Ngo ̣c Sơn giai đoa ̣n 2010-2015 Chương 4 :Mô ̣t số giải pháp tăng cường hoa ̣t đô ̣ng đầ u tư phát triể n của công ty TNHH Mây Tre Ngo ̣c Sơn giai đoa ̣n 2016-2025 16 CHƢƠNG 2: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN TẠI DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT MÂY TRE ĐAN 2.1 Khái quát về đầu tƣ phát triển trong doanh nghiêp̣ mây tre đan: 2.1 Đặc trưng của doanh nghiê ̣p mây tre đan ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư phát triển: Trước khi đi vào khái niệm của đầu tư phát triển tại doanh nghiê ̣p mây tre đan, chúng ta đi vào phân tích các đặc trưng tại doanh nghiê ̣p mây tre đan ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư phát triển: a/ Đặc trưng về sản phẩm: Sản phẩm mây tre đan có 3 đặc trưng nổi bật sau đây: “Tính văn hóa: Sản phẩm mây tre làm ra vừa có giá trị sử dụng nhưng lại vừa mang dấu ấn bàn tay tài hoa của người thợ và phong vị độc đáo của một miền quê nào đó.Cũng chính vì vậy mà hàm lượng văn hoá ở các sản phẩm mây tre đan nói riêng được đánh giá cao hơn nhiều so với hàng công nghiệp sản xuất hàng loạt.” “Tính mỹ thuật: Điểm khác biệt lớn nhất giữa sản phẩm công nghiệp được sản xuất hàng loạt thì hàng mây tre đan có giá trị cao ở phương diện nghệ thuật sáng tạo vì được sản xuất bằng công nghệ mang tính thủ công và chủ yếu dựa vào sự khéo léo của người thợ. Do đó mỗi sản phẩm mây tre đan đều mang nét riêng biệt của mỗi tác giả, mỗi làng nghề, mỗi dân tộc.” “Tính đa dạng: Sản phẩm mây tre đan có thể được làm theo nhiều phương thức, kết hợp với nhiều nguyên liệu khác nhau và thể hiện nét văn hóa đặc trưng của từng vùng, của thời đại. Mỗi loại sẽ tạo nên một sản phẩm với những sắc thái khác nhau, cho người sử dụng có những cảm nhận khác nhau về sản phẩm.” “Từ những đă ̣c trưng trên khi ến cho giá tri ha ̣ ̀ ng mây tre đan khó có thể đinh ̣ giá được. Giá trị hàng mây tre đan không chỉ phụ thuộc vào giá đầu vào của nguyên vâ ̣t liê ̣u mà còn bao gồ m giá trị văn hóa , nghê ̣ thuâ ̣tcủa chính nó.
Do đó đầu tư vào nguồn nhân lực được coi là nội dung quan trọng hàng đầu của doanh nghiê ̣p mây tre 17 đan. Bởi chất lượng, tính văn hóa, tính mỹ thuật và tính đa dạng của sản phẩm mây tre đan phụ thuộc lớn vào tài hoa của người thợ tạo ra nó nên nội dung đầu tư vào nguồn nhân lực nên là nội dung được quan tâm. Nhóm khách hàng mục tiêu: “Bởi những đặc trưng nổi bật của sản phẩm mây tre đã nêu trên, nên nhóm khách hàng mục tiêu mà ngành này nhắm tới là những khách hàng có thu nhập khá cao, nhưng người có yêu cầu cao về chất lượng cuộc sống, đặc biệt khách hàng chính hiện nay mà ngành mây tre trong nước nhắm tới là nhóm khách hàng ở nước ngoài, như thị trường Nhật Bản, EU, Mỹ,…. Với nhóm khách hàng này thì yếu tố về chất lượng chất lượng sản phẩm luôn được đặt lên hàng đầu.
Vì với đối tượng là những khách hàng có thu nhập khá cao khi mua sản phẩm cái mà họ để ý là chất lượng và mẫu mã sản phẩm: Nó có mới lạ không? Có tính nghệ thuật không? Và phù hợp với phong cách sống của họ không? Do vậy giá cả không phải là yếu tố quyết định chính, đặc biệt là với các thị trường ngoài nước. Giá cả chỉ bị gây áp lực chủ yếu từ các nhà phân phối cung cấp, các siêu thị lớn,các doanh nghiê ̣p xuất nhập khẩu lớn.” Do đặc trưng về nhóm khách hàng mục tiêu nên nội dung đầu tư phát triển hàng đầu ở doanh nghiê ̣p mây tre đan là đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm: Đầu tư phát triển mẫu mã sản phẩm, đầu tư phát triển nguồn nhiên liệu chất lượng tốt, đầu tư công nghệ để tăng năng suất lao động. Đặc trưng về thị trường: + Thị trường cung ứng nguồn vật liệu: Còn hết sức nhỏ hẹp, thông qua mua bán tại chỗ, phương thức phục vụ theo kiểu cung cầu truyền thống, hoàn toàn dựa trên thỏa thuận ngầ m , cũng có những dịch vụ cung cấp theo hợp đồng lớn cho các hộ gia đình và cơ sở sản xuất ở làng nghề. + Thị trường tiêu thụ sản phẩm: thị trường tại chỗ nhỏ hẹp khả năng tiêu thụ còn hạn chế và không ổn định, thị trường nước ngoài phong phú, rông lớn, nhưng có sự đòi hỏi khắt khe chất lượng, chủng loại và sự thay đổi mẫu mã.
+ Giá thành: Hàng mây tre có một đặc trưng rất nổi bật, đó là khác với hàng công nghiệp sản xuất càng nhiều thì giá thành càng hạ, mặt hàng này sản xuất ngày 18 càng nhiều thì giá thành càng có khả năng tăng cao. Có nhiều lý do nhưng một trong những lý do chủ yếu là nguồn nguyên liệu thường không dồi dào, vẫn khai thác tự nhiên nên khi sản xuất nhiều thì giá nguyên liệu cũng tăng theo vì khan hiếm, công lao động của người thợ thủ công cũng tăng theo vì không còn dùng lao động nông nhàn nữa mà đi vào sản xuất chuyên nghiệp. Đối với mặt hàng mây tre, nhất là mây tre mỹ nghệ hàng cao cấp giá không còn là nhân tố quyết đ ịnh, bởi như đã xác định ở trên nhóm khách hàng mục tiêu mà những sản phẩm này nhắm đến là những khách hàng có thu nhập cao, yêu cầ u tin ́ h thẩ m mỹ cao. Chính vì vậy, chấ t lượng và mẫu mã mới là yếu tố quyết định.
Giá đầu vào và đầu ra của mặt hàng này cũng thường xuyên không ổn định, giá đầu vào hay thay đổi là do nguồn nguyên liệu tự nhiên, số nhiên liệu hạn chế. Trong cơ chế hiện nay, khi mà đất nước đang đi lên con đường công nghiệp hóa các loại nguyên liệu như mây, tre, trúc, nứa, đất sét cũng dần bị biến mất thay vào đó là các khu công nghiệp đô thị do đó giá đầu vào thường không ổn định.Đặc trưng về mặt công nghệ: “Hàng mây tre thuộc nhóm sản phẩm thủ công mỹ ngh ệ, ta có th ể cảm nhận ngay tính thủ công qua tên gọi của sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Trong sản xuât mây tre đan, tính chất thủ công được thể hiện cực kì rõ nét. Mặc dù hiện nay càng ngày càng xuất hiện nhiều máy móc hiện đại có sức sản xuất gấp ba, bốn sức sản xuất của con người, nhưng trong sản xuất sản phẩm mây tre máy móc thiết bị luôn chỉ mang tính phụ trợ, yếu tố con người vẫn luôn được coi là yếu tố đóng góp lớn nhất vào giá trị của sản phẩm mây tre đan.
Do đó công nghệ sản xuất của ngành mây tre đan không yêu cầu sự hiện đại cao và cơ khí hóa toàn bộ. Đặc trưng về mặt kinh tế xã hội: “Trong những năm gần đây, chiến lược phát triển kinh tế của nước ta là chú trọng vào xuất khẩu những sản phẩm được coi là có lợi thế so sánh so với các quốc gia khác. Với truyền thống văn hóa Á Đông lâu đời, có nhiều nét đặc sắc, hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam, trong đó có những sản phẩm là từ mây tre đan, hiện nay đang đóng góp lượng lớn cho kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Mặt khác, những 19 năm gần đây với chiến lược phát triển kinh tế trên cơ sở mở rộng, khôi phục sự phát triển của các làng nghề truyền thống nhằm cung ứng các sản phẩm gia công, cung cấp lao động cho các doanh nghiê ̣p chuyên sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ, nhà nước ta đã có những chính sách ưu đãi nhất định cho việc sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, hàng mây tre đan.
Nghành nghề mây tre đan như trên đã nói, đó là một ngành mang tính truyền thống của nước ta, nó mang tính gần gũi với người dân Việt Nam, như một nét văn hóa Việt. Đặc trưng về lao động: Thủ công mỹ nghệ là ngành truyền thống lâu đời và có khả năng thu hút nhiều lao động từ mọi lứa tuổi tham gia sử dụng lao động dư thừa nhàn rỗi từ hoạt động nông nghiệp, bởi nó có quy trình sản xuất không quá khó và gần như được truyền từ đời này sang đời khác, người thợ sẽ làm hầu hết các khâu của hoạt động tạo ra sản phẩm. Trong giai đoạn đầu khi gia nhập ngành sản xuất có thể mang tính nhỏ lẻ, không cần những nhà thiết kế có trình độ cao. Tuy nhiên khi đã đi vào giai đoạn phát triển thì cần thiết phải có những lao động có tay nghề cao, thậm chí là những nghệ nhân trong lĩnh vực hàng thủ công mỹ nghệ.
Đặc trưng về hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh: - Hình thức tổ chức kinh doanh: + Hình thức hộ gia đình: Huy động và sử dụng đươc mọi thành viên trong gia đình tham gia vào các công việc khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh, tận dụng được thời gian lao động và mặt bằng sản xuất, quản lý dễ dàng, tuy nhiên, quy mô thường nhỏ,vốn ít lao đông ít hạn chế khả năng cải tiến và đổi mới kỹ thuật, hạn chế việc đào tạo trình độ quản lý, kỹ thuật và tay nghề. + Hình thức doanh nghiê ̣p tư nhân: Là trung tâm liên kết các hộ gia đình, thực hiện hợp đồng đặt hàng giải quyết đầu ra đầu vào cho hộ gia đình, tổ hợp tác hợp tác xã.2 Đầu tư phát triển trong doanh nghiê ̣p mây tre đan: Từ những đặc trưng được phân tích ở trên ta đưa ra được khái niệm đầu tư phát triển tại doanh nghiê ̣p mây tre đan: Khái niệm: Đầu tư phát triên trong doanh nghiê ̣p mây tre đan được hiểu là 20 việc doanh nghiê ̣p chi dùng vốn và các nguồn lực hiện có của doanh nghiêp sản xuất mây tre đan để tiến hành các hoạt động nhằm tăng thêm năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển.