Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ "Nghiên cứu cơ sở khoa học đánh giá mức độ gây ô nhiễm không khí trong việc giải quyết tranh chấp môi trường" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Cấn Anh Tuấn, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hoàng Xuân Cơ. Luận án thuộc chuyên ngành Môi trường không khí (mã số: 62.10), bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2013. Công trình có độ dài 156 trang A4, gồm 17 bảng số liệu, 22 hình vẽ minh họa, 9 công trình khoa học đã công bố của tác giả và 122 tài liệu tham khảo trong nước và quốc tế.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ bối cảnh tranh chấp môi trường ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại Việt Nam. Theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, cả nước ghi nhận 284 cơ sở sản xuất công nghiệp thuộc 8 nhóm ngành gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Số liệu thống kê từ Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường giai đoạn 2008–2010 cho thấy các vụ việc vi phạm pháp luật môi trường gia tăng nhanh chóng. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ rõ: các nghiên cứu về tranh chấp môi trường ở Việt Nam trước đó chủ yếu tiếp cận dưới góc độ pháp lý thuần túy (trách nhiệm bồi thường, cơ chế giải quyết) hoặc chỉ tập trung vào môi trường nước. Hoàn toàn thiếu vắng các nghiên cứu tổng thể định lượng thiệt hại do ô nhiễm không khí đối với sức khỏe con người và cây trồng. Về mặt quản lý nhà nước, Nghị định số 113/2010/NĐ-CP ngày 03/10/2010 mới chỉ quy định xác định thiệt hại đối với môi trường nước, đất và hệ sinh thái tự nhiên, chưa có văn bản nào hướng dẫn xác định thiệt hại do ô nhiễm không khí. Thực tiễn giải quyết bồi thường ô nhiễm không khí phần lớn mang tính tự phát, thiếu cơ sở khoa học thuyết phục, dẫn đến tình trạng tranh chấp kéo dài.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm:
- a) Xác định được cơ sở khoa học tính toán mức độ ô nhiễm và thiệt hại do ô nhiễm không khí phục vụ giải quyết tranh chấp môi trường ở Việt Nam.
- b) Thử nghiệm tính toán mức độ ô nhiễm và thiệt hại do ô nhiễm không khí của Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại và Nhà máy gạch tuynel Việt Long.
Các luận điểm bảo vệ của luận án được xác định gồm:
- Luận điểm 1: Trong hoạt động giải quyết tranh chấp môi trường, mức độ ô nhiễm và thiệt hại do ô nhiễm không khí có thể tính toán được bằng mô hình toán học với số liệu đầu vào có khả năng bảo đảm được trong điều kiện thực tiễn ở Việt Nam.
- Luận điểm 2: Việc tính toán mức độ ô nhiễm và thiệt hại do ô nhiễm không khí trong hoạt động giải quyết tranh chấp môi trường có thể được thực hiện theo một quy trình có cơ sở khoa học, bảo đảm tính khả thi (thuận tiện, chi phí thấp) và được thử nghiệm áp dụng đối với Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại, Nhà máy gạch tuynel Việt Long.
- Luận điểm 3: Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về xác định mức độ ô nhiễm, thiệt hại do ô nhiễm không khí trong giải quyết tranh chấp môi trường ở Việt Nam còn có những hạn chế, bất cập dẫn đến khó khăn khi áp dụng thực tế. Việc hoàn thiện hệ thống các văn bản này có thể được thực hiện bằng việc xây dựng các quy định dựa trên cơ sở phương pháp tính toán bằng mô hình lan truyền, mô hình tính toán thiệt hại đối với sức khỏe con người, cây trồng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở khoa học tính toán phạm vi, mức độ ô nhiễm không khí và thiệt hại do ô nhiễm không khí từ cơ sở sản xuất công nghiệp phục vụ hoạt động giải quyết tranh chấp môi trường. Trong đó, luận án tập trung vào 3 chất ô nhiễm phát sinh từ ống khói công nghiệp gồm bụi, sulfur dioxide ($SO_2$) và nitrogen dioxide ($NO_2$), tác động đến hai đối tượng tiếp nhận là sức khỏe con người và năng suất cây trồng (lúa).
- Phạm vi nghiên cứu: Về không gian, nghiên cứu thử nghiệm tại hai địa bàn có cơ sở sản xuất công nghiệp là Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại (tỉnh Hải Dương) và Nhà máy gạch tuynel Việt Long (tỉnh Lai Châu). Về thời gian, dữ liệu vi phạm và các vụ việc tranh chấp được thu thập, phân tích tập trung trong giai đoạn 2008–2010 và các mốc thời gian phát sinh tranh chấp thực tế tại các cơ sở nghiên cứu điển hình.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn trong nước và quốc tế về tranh chấp môi trường và lượng giá thiệt hại do ô nhiễm không khí:
Về nghiên cứu quốc tế:
- Tác giả Moore tiếp cận tranh chấp môi trường dưới góc độ xung đột về các yếu tố của môi trường tự nhiên. Susskind (1987) định nghĩa tranh chấp môi trường là những bất đồng liên quan đến chất lượng môi trường hoặc quản lý tài nguyên thiên nhiên trong phạm vi tranh chấp công. Bringham (1986) phân loại tranh chấp môi trường thành 6 dạng: sử dụng đất; quản lý tài nguyên thiên nhiên và sử dụng đất công; tài nguyên nước; năng lượng; chất lượng không khí; hóa chất độc hại.
- Về phương thức giải quyết: James E. Crowfoot nhấn mạnh phương thức dựa trên sự tham gia của cộng đồng; Spector xem xét thương lượng, đàm phán, hòa giải là các giải pháp giải quyết tranh chấp môi trường xuyên biên giới; Peter T. Ailen nghiên cứu thực tiễn tại Đức và Australia, chỉ ra vai trò của công chúng cũng như hạn chế của việc đại diện và xu hướng thỏa hiệp.
- Về pháp lý: Các nước theo hệ thống luật dân sự (Civil Law System - như Pháp, Đức, Nhật Bản) tiếp cận tranh chấp môi trường theo hướng định tính hóa, dựa vào chủ thể và yếu tố tài sản để phân định thủ tục tố tụng dân sự hay hành chính. Ngược lại, các nước thuộc hệ thống luật án lệ (Common Law System - như Anh, Mỹ) tiếp cận theo hướng định lượng và phân loại cụ thể các dạng kiện tụng, dẫn tới việc thiết lập hệ thống Tòa môi trường (Environmental Courts) chuyên biệt.
- Các án lệ và sự kiện quốc tế được điểm lại: Vụ kiện lò luyện kim Trail Smelter giữa Mỹ và Canada (1939–1941) về phát thải khí độc qua biên giới; vụ thử vũ khí hạt nhân giữa Australia, New Zealand và Pháp (1973–1974); sự cố cháy rừng tại đảo Kalimantan và Sumatra của Indonesia (1997–1998) gây ô nhiễm không khí sang Singapore, Malaysia, Brunei, Philippines; vụ hòa giải môi trường tại Ontario (1980). Nguyên tắc Người gây ô nhiễm phải trả tiền (Polluter Pays Principle - PPP) do OECD đưa ra năm 1972 cũng được phân tích như nền tảng pháp lý quốc tế cốt lõi.
Về nghiên cứu tại Việt Nam:
- Nhóm tác giả Bộ môn Luật Môi trường - Trường Đại học Luật Hà Nội và tác giả Vũ Thu Hạnh nghiên cứu bản chất pháp lý, cơ chế giải quyết tranh chấp môi trường. Vũ Cao Đàm phân tích quan hệ cộng tác và đồng thuận xã hội trong điều hòa xung đột môi trường. Đào Thanh Trường phân chia tranh chấp môi trường theo 4 cấp độ (không nghiêm trọng, ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng). Tuy nhiên, luận án chỉ rõ cách phân loại 4 cấp độ này khó áp dụng vì Điều 92 Luật Bảo vệ môi trường 2005 chỉ quy định 3 cấp độ: có ô nhiễm, ô nhiễm nghiêm trọng và ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình tại Việt Nam mới dừng lại ở việc luận giải các quy định pháp luật hoặc tập trung vào ô nhiễm nguồn nước, thiếu hụt phương pháp luận và công cụ kỹ thuật để tính toán định lượng nồng độ phát tán ô nhiễm không khí và quy đổi mức độ ảnh hưởng sức khỏe, cây trồng thành giá trị kinh tế bằng tiền tệ. Luận án đặt vị trí nghiên cứu là công trình liên ngành, kết hợp khoa học kỹ thuật môi trường không khí với pháp lý giải quyết tranh chấp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm pháp lý và mô hình lượng giá kinh tế môi trường:
- Khái niệm và đặc điểm tranh chấp môi trường do ô nhiễm không khí: Luận án phân tích tranh chấp môi trường có các đặc trưng cơ bản gồm: đan xen giữa xung đột lợi ích tư và lợi ích công; có thể phát sinh ngay từ khi chưa có sự xâm hại thực tế (mang tính phòng ngừa); vị thế giữa các bên không cân bằng (doanh nghiệp phát thải nắm ưu thế so với người dân chịu ảnh hưởng); tác động trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của nhiều người; diễn ra trên không gian rộng; giá trị thiệt hại lớn và phức tạp, khó bóc tách rạch ròi bằng các phương pháp dân sự thông thường.
- Phân loại tranh chấp môi trường do ô nhiễm không khí: Phân chia theo 3 tiêu chí chính:
- Theo quy mô: khu vực nhỏ hẹp; cấp vùng/địa phương/quốc gia; xuyên biên giới.
- Theo mức độ: có thiệt hại; thiệt hại nghiêm trọng; thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng (đồng bộ với Điều 92 Luật Bảo vệ môi trường 2005).
- Theo lợi ích: xung đột lợi ích tư; xung đột lợi ích công; xung đột hỗn hợp công - tư.
- Khung lý thuyết và nguyên tắc giải quyết: Áp dụng nguyên tắc công quyền can thiệp (dựa trên học thuyết ủy thác công cộng); nguyên tắc phòng ngừa; nguyên tắc phối hợp, hợp tác; nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (PPP - cụ thể hóa tại Khoản 5 Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường 2005). Các phương thức giải quyết gồm: giải quyết tranh chấp theo lựa chọn (ADR: thương lượng, hòa giải) và giải quyết theo luật định (DDSDM: thông qua cơ quan quản lý nhà nước về môi trường 4 cấp hoặc hệ thống Tòa án nhân dân theo Bộ luật Tố tụng Dân sự).
- Khung phân tích tính toán thiệt hại: Luận án áp dụng phương pháp tiếp cận chuyển tiếp tác động (Impact Pathway Approach - IPA). Chuỗi tính toán diễn ra tuần tự: Nguồn phát thải $\rightarrow$ Nồng độ môi trường không khí $\rightarrow$ Mức độ phơi nhiễm/liều lượng $\rightarrow$ Tác động tổn thất $\rightarrow$ Lượng giá kinh tế. Các công cụ tính toán gồm: Hàm đáp ứng nồng độ (CRF), Hàm đáp ứng liều lượng (DRF), Hàm tổn thất tương ứng (ERF) với hệ số góc ERFs. Về kinh tế y tế, tác giả sử dụng các khái niệm: Chi phí ngoại ứng (External cost - ExC), Mức sẵn lòng chi trả (Willingness To Pay - WTP), Giá trị tổn thất năm tuổi thọ (Value of a Life Year Lost - VLYL) và Số năm giảm tuổi thọ (Years Of Life Lost - YOLL).
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Phương pháp mô hình hóa khuếch tán chất ô nhiễm không khí: Sử dụng lý thuyết khuếch tán từ nguồn công nghiệp (tham chiếu các mô hình như ISC, Meti-Lis, SUWM, RUWM) để mô phỏng trường nồng độ bụi, $SO_2$, $NO_2$ theo các kịch bản phát thải.
- Phương pháp mô hình đánh giá thiệt hại (IPA): Định lượng tác động của ô nhiễm không khí đối với sức khỏe con người (các bệnh hô hấp, tử vong sớm) và suy giảm năng suất cây trồng (lúa).
- Phương pháp lập bản đồ ô nhiễm và công cụ hệ thống thông tin địa lý (GIS) để thể hiện không gian phân bố chất ô nhiễm.
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: Thu thập số liệu khí tượng, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và số liệu thông số công nghệ, nguồn thải ống khói tại cơ sở nghiên cứu.
- Phương pháp thống kê và phương pháp luật học so sánh.
Nguồn tư liệu và dữ liệu:
- Số liệu thống kê các vụ vi phạm pháp luật môi trường giai đoạn 2008–2010 từ Báo cáo của Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường - Bộ Công an.
- Báo cáo môi trường quốc gia năm 2007; các tài liệu giải quyết tranh chấp thực tế tại các địa phương (Hải Dương, Lai Châu, Hòa Bình, Thái Nguyên, Đồng Nai).
- Số liệu thiết kế kỹ thuật, thông số ống khói, nhiên liệu tiêu thụ và kết quả quan trắc tại Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại và Nhà máy gạch tuynel Việt Long.
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Luật Bảo vệ môi trường 2005, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004 và 2011, Nghị định số 113/2010/NĐ-CP, Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan về tranh chấp và bồi thường thiệt hại do ô nhiễm không khí trong giải quyết tranh chấp môi trường
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về tranh chấp môi trường, phân tích các nguyên tắc, phương thức và thực trạng giải quyết tranh chấp do ô nhiễm không khí từ hoạt động sản xuất công nghiệp tại Việt Nam. Tác giả phân tích cơ chế giải quyết tranh chấp môi trường thông qua hai hệ thống cơ quan: cơ quan quản lý môi trường (từ cấp xã, huyện, Sở Tài nguyên và Môi trường đến Tổng cục Môi trường) và cơ quan Tòa án nhân dân các cấp. Luận án chỉ ra sự bất cập khi Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định thẩm quyền giải quyết theo nơi cư trú của bị đơn hoặc nơi xảy ra thiệt hại, vốn chỉ phù hợp với các tranh chấp đơn giản, trong khi tranh chấp ô nhiễm không khí thường phức tạp và diễn ra trên diện rộng liên tỉnh.
Về thực trạng, chương tổng hợp số liệu vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường tại Việt Nam từ năm 2008 đến năm 2010 thông qua bảng số liệu thống kê:
| STT |
Lĩnh vực / Hành vi vi phạm |
Số vụ năm 2008 |
Số vụ năm 2009 |
Số vụ năm 2010 |
| 1 |
Hành vi gây ô nhiễm đất, nguồn nước, môi trường không khí |
183 |
594 |
952 |
| 2 |
Vi phạm quy định về nhập khẩu công nghệ, phế liệu gây ô nhiễm môi trường |
26 |
21 |
67 |
| 3 |
Vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, làm lây lan dịch bệnh cho người, động thực vật |
83 |
639 |
806 |
| 4 |
Hành vi hủy hoại nguồn lợi thủy sản |
33 |
- |
- |
| 5 |
Vi phạm các quy định về bảo vệ rừng |
109 |
483 |
650 |
| 6 |
Vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm |
68 |
226 |
347 |
| 7 |
Vi phạm quy định về quản lý, xử lý chất thải, chất thải nguy hại |
132 |
322 |
526 |
| 8 |
Các hành vi khác vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường |
364 |
426 |
689 |
| 9 |
Vi phạm quy định về an toàn hóa chất, bức xạ |
- |
25 |
53 |
| 10 |
Vi phạm về thủ tục hồ sơ công tác bảo vệ môi trường |
- |
435 |
615 |
| 11 |
Vi phạm quy định về phòng ngừa sự cố môi trường |
- |
3 |
18 |
| 12 |
Xâm phạm, hủy hoại tài nguyên thiên nhiên |
- |
812 |
1.050 |
| Tổng cộng |
|
998 |
3.773 |
- |
Trong xử lý vi phạm: Năm 2008 khởi tố 18 vụ (30 đối tượng), xử phạt và truy thu phí môi trường hơn 135 tỷ đồng; năm 2009 xử lý vi phạm hành chính 3.401 vụ (1.057 tổ chức, 1.919 cá nhân), phạt tiền 28,755 tỷ đồng, đình chỉ hoặc buộc di dời 79 cơ sở; năm 2010 xử lý hành chính 2.288 vụ, phạt 25,88 tỷ đồng và cơ quan chức năng các cấp phạt tiếp 2.483 vụ với 29,9 tỷ đồng. Riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh, giai đoạn 2008–2010 có 213 vụ khiếu kiện môi trường (năm 2008: 93 vụ; năm 2009: 72 vụ; năm 2010: 48 vụ).
Thực tế giải quyết tranh chấp ô nhiễm không khí tại Việt Nam được luận án phân tích qua các vụ việc điển hình:
| STT |
Tên vụ việc tranh chấp |
Địa điểm |
Hình thức giải quyết và bồi thường |
| 1 |
Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại (1998) |
Hải Dương |
Thỏa thuận, hỗ trợ |
| 2 |
Công ty TNHH Kim loại màu Thái Nguyên (2006) |
Thái Nguyên |
Thỏa thuận, hỗ trợ |
| 3 |
Công ty Cổ phần Xi măng Vinaconex Lương Sơn (2005–2006) |
Hòa Bình |
Thỏa thuận, hỗ trợ |
| 4 |
Công ty TNHH AB Mauri Việt Nam (2010–2011) |
Đồng Nai |
Thỏa thuận, hỗ trợ |
| 5 |
Nhà máy gạch tuynel Việt Long (2008) |
Lai Châu |
Thỏa thuận, hỗ trợ |
Tác giả rút ra kết luận: Tất cả các vụ việc nêu trên đều giải quyết theo phương thức tự thỏa thuận, bồi thường dưới dạng hỗ trợ kinh phí mang tính đối phó, thiếu phương pháp định lượng khoa học, bên bị hại luôn chịu thiệt thòi do không chứng minh được mức độ thiệt hại thực tế.
Chương 2. Đối tượng, phương pháp nghiên cứu mức độ ô nhiễm và thiệt hại do ô nhiễm không khí trong giải quyết tranh chấp môi trường ở Việt Nam
Chương 2 trình bày căn cứ lựa chọn đối tượng và xây dựng phương pháp luận nghiên cứu:
- Căn cứ lựa chọn đối tượng thực nghiệm:
- Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại: Đại diện cho loại hình sản xuất công nghiệp quy mô lớn, sử dụng lượng than rất lớn, phát thải lưu lượng khí thải và nồng độ chất ô nhiễm (bụi, $SO_2$, $NO_2$) cao qua ống khói lớn, từng có lịch sử phát sinh tranh chấp môi trường với cư dân nông nghiệp xung quanh.
- Nhà máy gạch tuynel Việt Long: Đại diện cho cơ sở sản xuất công nghiệp quy mô vừa và nhỏ (sản xuất vật liệu xây dựng), phân bố xen kẽ gần khu dân cư và đất canh tác vùng miền núi, có nguồn phát thải thấp, dễ phát sinh tranh chấp trực tiếp với cộng đồng lân cận.
- Phương pháp mô hình hóa khuếch tán: Tác giả tổng hợp, so sánh các mô hình khuếch tán công nghiệp trên thế giới. Xác định phương pháp tính toán nồng độ bụi, khí $SO_2$, $NO_2$ trên hệ tọa độ không gian xung quanh nguồn thải, kết hợp với các thông số khí tượng (tốc độ gió, hướng gió, độ ổn định khí quyển) và thông số kỹ thuật nguồn thải (chiều cao ống khói, đường kính miệng ống khói, nhiệt độ và vận tốc khí thải).
- Phương pháp tính toán thiệt hại: Thiết lập quy trình đánh giá thiệt hại kinh tế dựa trên tiếp cận chuyển tiếp tác động (IPA). Tác giả sử dụng các hàm đáp ứng nồng độ (CRF/ERF) để xác định tỷ lệ gia tăng các ca bệnh đường hô hấp, tỷ lệ tử vong sớm ở người và mức độ suy giảm năng suất mùa màng (đối với cây lúa). Từ đó, áp dụng các chỉ số kinh tế y tế (chi phí điều trị, tổn thất ngày công lao động, VLYL, YOLL) để lượng giá thành tiền tệ (đồng Việt Nam).
Chương 3. Kết quả nghiên cứu mức độ ô nhiễm và thiệt hại do ô nhiễm không khí trong việc giải quyết tranh chấp môi trường ở Việt Nam
Chương 3 trình bày các kết quả tính toán mô phỏng và đề xuất giải pháp chính sách:
- Xây dựng quy trình tính toán thiệt hại do ô nhiễm không khí: Quy trình gồm các bước chuẩn hóa:
- Thu thập dữ liệu nguồn thải công nghiệp và điều kiện khí tượng khu vực;
- Ứng dụng mô hình toán khuếch tán tính toán nồng độ chất ô nhiễm gia tăng trong không khí xung quanh;
- Xác định quy mô dân số và diện tích lúa phân bố trong vùng ảnh hưởng thông qua bản đồ và GIS;
- Sử dụng hàm tổn thất tương ứng (ERF/CRF) để tính toán số ca ảnh hưởng sức khỏe và tỷ lệ suy giảm năng suất lúa;
- Quy đổi các tác động thành chi phí thiệt hại bằng tiền tệ (VND).
- Kết quả tính toán tại Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại:
- Trường nồng độ chất ô nhiễm được mô phỏng theo các kịch bản: nồng độ bụi khi hệ thống lọc bụi không hoạt động; khi hệ thống lọc bụi đạt hiệu suất 90%; khi hệ thống lọc bụi đạt hiệu suất 98%. Nồng độ khí $SO_2$ và $NO_2$ được mô phỏng trong trường hợp không có biện pháp xử lý khí.
- Thiệt hại sức khỏe: Luận án tính toán chi phí thiệt hại đối với sức khỏe con người do ô nhiễm bụi, $SO_2$, $NO_2$ theo từng mức hiệu suất xử lý khí thải và tổng hợp tổng chi phí thiệt hại. Kết quả cho thấy chi phí thiệt hại sức khỏe giảm mạnh khi hiệu suất xử lý của hệ thống lọc bụi tăng lên mức 90% và 98%.
- Thiệt hại nông nghiệp: Luận án tính toán mức độ thiệt hại kinh tế đối với diện tích canh tác lúa chịu ảnh hưởng bởi nồng độ khí $SO_2$ phát tán trong trường hợp nhà máy không vận hành hệ thống xử lý khí.
- Kết quả tính toán tại Nhà máy gạch tuynel Việt Long:
- Trường nồng độ bụi được mô phỏng theo 3 kịch bản: không có hệ thống xử lý bụi; có hệ thống lọc bụi đạt hiệu suất 60%; có hệ thống lọc bụi đạt hiệu suất 70%. Trường nồng độ khí $SO_2$ và $NO_2$ được tính toán cho trường hợp không có hệ thống xử lý.
- Luận án xác định chi phí thiệt hại đối với sức khỏe con người tương ứng với từng mức hiệu suất xử lý bụi. Đáng chú ý, tác giả tính toán chi phí thiệt hại sức khỏe phân bổ trên một đơn vị sản phẩm (chi phí thiệt hại sức khỏe khi sản xuất 1 viên gạch) và so sánh trực tiếp với giá thành sản xuất của 1 viên gạch.
- Nhóm giải pháp hoàn thiện cơ sở khoa học và pháp lý:
- Về nhận thức và lý luận: Thống nhất khái niệm pháp lý về thiệt hại do ô nhiễm không khí gây ra, tách bạch thiệt hại môi trường và thiệt hại đối với tính mạng, sức khỏe, tài sản của cá nhân, tổ chức.
- Về lập pháp: Bổ sung các quy định cụ thể về xác định mức độ ô nhiễm và bồi thường thiệt hại do ô nhiễm không khí vào hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường, bổ sung nghị định thay thế hoặc hoàn thiện Nghị định số 113/2010/NĐ-CP).
- Về công cụ kỹ thuật: Chuẩn hóa quy trình quan trắc phát thải tại cơ sở sản xuất công nghiệp; ban hành hướng dẫn áp dụng thống nhất mô hình khuếch tán khí thải và hàm tổn thất sức khỏe trong hoạt động giám định tư pháp về môi trường.
Kết quả và những đóng góp mới
Các đóng góp mới của luận án được tác giả xác định cụ thể như sau:
- Về mặt phương pháp: Lần đầu tiên xây dựng được quy trình tính toán mức độ ô nhiễm và thiệt hại do ô nhiễm không khí từ cơ sở sản xuất công nghiệp phục vụ giải quyết tranh chấp môi trường ở Việt Nam. Quy trình có cơ sở khoa học, tính khả thi, dễ thực hiện và chi phí thấp, phù hợp với năng lực kỹ thuật và dữ liệu thực tế tại Việt Nam.
- Về mặt định lượng thực tiễn: Lần đầu tiên tính toán được mức độ thiệt hại (quy đổi sang giá trị tiền tệ VND) đối với sức khỏe con người và cây trồng (lúa) do ô nhiễm không khí tại Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại và Nhà máy gạch tuynel Việt Long theo các phương án tương ứng với các mức hiệu suất xử lý bụi và khí độc khác nhau. Việc xác định được chi phí ngoại ứng y tế phân bổ trên một đơn vị sản phẩm (1 viên gạch) tại Nhà máy gạch tuynel Việt Long cung cấp số liệu thực tế phục vụ trực tiếp cho việc xác định nghĩa vụ bồi thường trong giải quyết tranh chấp.
- Về mặt chính sách và pháp luật: Luận án cung cấp hệ thống luận cứ khoa học để hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường tại Việt Nam, đặc biệt là cơ sở để xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết về đánh giá thiệt hại do ô nhiễm không khí, khắc phục khoảng trống pháp lý của Nghị định số 113/2010/NĐ-CP.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Về phạm vi chất ô nhiễm và đối tượng tiếp nhận: Nghiên cứu mới tập trung giải quyết định lượng đối với 3 thông số ô nhiễm không khí chính gồm bụi, $SO_2$ và $NO_2$ từ nguồn thải ống khói tĩnh công nghiệp. Về đối tượng chịu thiệt hại, luận án mới lượng giá tác động đối với sức khỏe con người và cây lúa, chưa mở rộng đánh giá đối với các loại cây trồng khác, vật nuôi, sự ăn mòn công trình kiến trúc hoặc suy thoái các hệ sinh thái tự nhiên.
- Về phạm vi thực nghiệm: Thử nghiệm tính toán mới dừng lại ở hai cơ sở đại diện (nhiệt điện đốt than và sản xuất gạch nung tuynel), chưa bao quát hết các loại hình công nghiệp có nguy cơ ô nhiễm không khí cao khác (như luyện kim, hóa chất, xi măng).
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng kiểm chứng và hoàn thiện quy trình tính toán cho nhiều loại hình cơ sở sản xuất công nghiệp khác nhau.
- Nghiên cứu xác lập và chuẩn hóa hệ thống các hệ số hàm tổn thất tương ứng (ERF/CRF) đặc thù cho thể trạng, mô hình bệnh tật của người dân và điều kiện khí hậu, nông nghiệp tại từng vùng sinh thái ở Việt Nam.
- Xây dựng cơ sở dữ liệu khí tượng và nguồn thải công nghiệp đồng bộ nhằm phục vụ việc tính toán nhanh thiệt hại khi phát sinh tranh chấp môi trường.
Giá trị tham khảo
Kết quả nghiên cứu của luận án có giá trị tham khảo cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân:
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường (Tổng cục Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường các địa phương): Luận án cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng, ban hành các văn bản hướng dẫn kỹ thuật đánh giá thiệt hại do ô nhiễm không khí, bổ sung vào các quy định đang thiếu vắng trong pháp luật hiện hành.
- Đối với cơ quan tiến hành tố tụng và giải quyết tranh chấp (Tòa án nhân dân các cấp, Trọng tài thương mại, Hội đồng hòa giải): Cung cấp phương pháp định lượng khoa học để xác định giá trị thiệt hại khách quan, giúp các bên thoát khỏi tình trạng thỏa thuận cảm tính hoặc bồi thường thiếu căn cứ.
- Đối với các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp: Cung cấp công cụ giúp doanh nghiệp tự đánh giá chi phí ngoại ứng môi trường, nhận thức rõ mối tương quan giữa chi phí đầu tư công nghệ xử lý khí thải và rủi ro phải bồi thường thiệt hại đối với cộng đồng xung quanh.
- Đối với nghiên cứu sinh, giảng viên và sinh viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường và Luật Môi trường: Là tài liệu nghiên cứu liên ngành kết hợp giữa mô hình hóa môi trường và khoa học pháp lý. Các phần đáng tham khảo gồm: quy trình tính toán IPA tại Chương 2 và Chương 3, cùng hệ thống tổng quan các vụ việc tranh chấp môi trường thực tế tại Việt Nam ở Chương 1.
Câu hỏi thường gặp
-
Tại thời điểm tác giả thực hiện luận án (năm 2013), hệ thống pháp luật Việt Nam đã có quy định cụ thể về việc xác định thiệt hại do ô nhiễm không khí trong tranh chấp môi trường hay chưa?
Chưa. Tại thời điểm đó, văn bản quản lý nhà nước duy nhất quy định việc xác định thiệt hại đối với môi trường là Nghị định số 113/2010/NĐ-CP (ngày 03/10/2010), nhưng nghị định này chỉ mới điều chỉnh thiệt hại đối với đất, nước và các hệ sinh thái tự nhiên, hoàn toàn chưa có quy định xác định thiệt hại do ô nhiễm không khí đối với sức khỏe con người, cây trồng và công trình.
-
Luận án lựa chọn hai cơ sở sản xuất công nghiệp nào để tính toán thử nghiệm và lý do lựa chọn là gì?
Tác giả lựa chọn Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại (tại Hải Dương) và Nhà máy gạch tuynel Việt Long (tại Lai Châu). Lý do lựa chọn: Nhiệt điện Phả Lại đại diện cho cơ sở sản xuất công nghiệp quy mô lớn, tiêu thụ nhiều than đá, phát thải lưu lượng lớn qua ống khói cao; còn Nhà máy gạch tuynel Việt Long đại diện cho cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng quy mô vừa và nhỏ, nằm gần khu dân cư và đất canh tác nông nghiệp, điển hình cho các tranh chấp môi trường ở quy mô địa phương.
-
Quy trình tính toán thiệt hại do ô nhiễm không khí trong luận án dựa trên phương pháp tiếp cận cốt lõi nào?
Quy trình dựa trên phương pháp tiếp cận chuyển tiếp tác động (Impact Pathway Approach - IPA). Chuỗi tính toán liên kết từ nguồn thải của cơ sở sản xuất, tính toán nồng độ khuếch tán trong không khí xung quanh, áp dụng hàm đáp ứng nồng độ và hàm tổn thất tương ứng (CRF/ERF) để định lượng số ca ảnh hưởng sức khỏe và tỷ lệ sụt giảm năng suất lúa, sau đó sử dụng các chỉ số kinh tế y tế (VLYL, YOLL, WTP) để quy đổi thành giá trị tiền tệ VND.
-
Theo số liệu trong luận án, thực trạng giải quyết các vụ tranh chấp môi trường do ô nhiễm không khí ở Việt Nam trước đây diễn ra như thế nào?
Các vụ việc tranh chấp điển hình (như tại Nhiệt điện Phả Lại năm 1998, Kim loại màu Thái Nguyên năm 2006, Xi măng Vinaconex Lương Sơn năm 2005–2006, Gạch tuynel Việt Long năm 2008, AB Mauri Đồng Nai năm 2010–2011) đều được giải quyết thông qua hình thức tự thỏa thuận và hỗ trợ kinh phí mang tính đối phó. Việc đền bù chưa dựa trên cơ sở tính toán khoa học, phụ thuộc vào ưu thế vị thế của các bên, dẫn đến việc giải quyết thường kéo dài và không giải quyết triệt để mâu thuẫn.
-
Luận án đã tính toán thông số định lượng cụ thể nào gắn với sản phẩm của Nhà máy gạch tuynel Việt Long?
Tác giả đã tính toán được chi phí thiệt hại đối với sức khỏe con người phân bổ trên một đơn vị sản phẩm (tính bằng đồng/viên gạch) theo các mức hiệu suất xử lý bụi khác nhau và đối chiếu trực tiếp con số này với giá thành sản xuất của một viên gạch, cung cấp bằng chứng định lượng rõ ràng phục vụ nghĩa vụ bồi thường môi trường.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Cấn Anh Tuấn là công trình nghiên cứu ứng dụng phương pháp mô hình hóa khuếch tán không khí và phương pháp tiếp cận chuyển tiếp tác động (IPA) để giải quyết bài toán định lượng mức độ ô nhiễm và thiệt hại kinh tế phục vụ giải quyết tranh chấp môi trường tại Việt Nam. Thông qua việc thử nghiệm thành công tại Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại và Nhà máy gạch tuynel Việt Long, tác giả đã chứng minh tính khả thi của quy trình tính toán quy đổi thiệt hại sức khỏe và cây trồng thành giá trị tiền tệ. Công trình không chỉ cung cấp công cụ kỹ thuật khách quan cho các cơ quan giải quyết tranh chấp mà còn đóng góp luận cứ khoa học để hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đánh giá thiệt hại môi trường không khí tại Việt Nam.