Chương 1 TONG QUAN VAN DE NGHIEN CUU 1. Tống quan về tài nguyên nước ở Việt Nam Nước có vai trò quan trọng đối với sự sống trên Trái Đất, không có nước thì không có sự tồn tại. Nước chiếm khoảng 70% trọng lượng cơ thé, 65-75% trọng lượng cơ, 50% trọng lượng mỡ, 50% trong lượng xương. Nước tồn tại ở hai dạng: nước trong tế bào và nước ngoài tế bào.
Nước trong tế bào cé trong huyét tuong mau, dich limpho, nước bọt. Huyết tương chiếm khoảng 20% lượng dịch ngoài tế bào của cơ thê (3-4 lít). Nước là chất quan trong dé các phản ứng hóa học và sự trao đổi chất:diễn ra không ngừng trong cơ thể. Nước là dung môi, nhờ đó tất cả các &hất dinh dưỡng được đưa vào cơ thể, sau đó được chuyên vào máu dưới dạn8:dung dịch nước.
Nước là tài nguyên hết sức quan trọng đối với sự sống của con người và thiên nhiên, tham gia thường xuyên vào các quá trình sinh hóa trong cơ thê sống. Phần lớn các phản ứng hóa học liên quan đến sự trao đôi chất trong cơ thể đều có dung môi là nước. Đốf%ới cơ thể sống, thì thiếu nước là một hiểm họa, thiếu ăn con người có thể Sóng được một vài tuần, còn thiếu nước con người không thê sống trong vài ngầy. Nhu cầu sinh lý của con người I ngày cần ít nhất 1,83 lít nước vảo Êơ thể và có thể nhiều hơn tùy cường độ lao động và tính chất của môi trường: xung quanh.
Tài nguyên nước mặt Hệ thống sông ngồi Việt Nam dày đặc với 2.360 sông có chiều dài trên 10km, trong số các sông này có lưu vực sông lớn diện tích lớn hơn 10. Tổng lượng dòng chảy hàng năm trên tất cả các sông suối chảy qua Việt Nam khoảng 853 km”/năm tương đương 27. Tổng lượng dòng chảy thuộc phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam là 317kmỶ/năm, chiếm 37% tông lượng dòng chảy, phần còn lại được sản sinh từ các nước láng giềng 536 km”/năm, chiếm 63% tổng lượng dòng chảy năm. Sông ngòi Việt Nam được chia làm 3 nhóm hệ thống.
Nhóm I1: Nhóm hệ thống sông mà thượng nguồn của lưu vực nằm ngoài lãnh thổ Việt Nam gồm các sông Sêsan, Nậm Rồn, hệ thống sông Bằng Giang- Kỳ Cùng, Sông thuộc Tây Thừa Thiên Huế. Tổng lượng dòng chảy của nhóm các hệ thống sông này 38,85 km”/năm chiếm khoảng 4,6 tổng lượng toàn bộ dòng chảy, trong đó có 1,6§km”/năm phát sinh ở Trung Quốc thuộc thượng nguồn sông Quang Sơn rồi chảy qua địa phận Việt Nam rồi lại đồ về Trung Quốc. Nhóm 2: Nhóm hệ thống sông ngòi mà phần trung lưu và phần hạ lưu của lưu vực nằm trong lãnh thổ Việt Nam. Trong nhóm này có 4 lưu vực sông chính là sông Mêkông, sông Hồng, sông Mã, sông Cả với tổng lượng dòng chảy toàn bộ 716,9km”/năm chiếm gần 84% tông lượng dòng chảy trong toàn quốc.
Trong số 716,9km”/năm phần sinh ra trên lãnh thô Việt Nam là 189,62 km”/năm, chiếm 25,4% và phần sinh ra ở “nước ngoài là 534,28 km”/năm chiếm 74,6%. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến sử dụng nước ở Việt Nam khi các nước ở thượng nguồn khai thác triệt đề nguồn nước sinh ra trên lãnh thổ của nước mình. Như sông Mêkông với lượng nước hàng năm 505,0 km”/năm nhưng phần sinh ra ở đồng bằng sông Cửu Long chỉ có 25,2 km”/năm, chiếm 5% tổng lượng dòng chảy. Còn sôñg/Hồng và sông Thái Bình với tổng lượng dòng chảy là 137,0 km”/năm tfoñg đó lượng dòng chảy sinh ra ở Việt Nam là 93,0 km”/năm, chiếm tới 6§% tổng lượng dòng chảy của sông Hồng.
Đối với sông Mã và sông Cả tổng lửợng dòng chảy sản sinh ra ở Việt Nam là tương đối lớn cho nên việc điều tiết dồng chảy bằng các biện pháp công trình có thé thực hiện được. Nhóm 3: Nhóm hệ thống sông mà lưu vực nằm hoàn toàn trong lãnh thổ Việt Nam. Các sông thuộc nhóm này bao gồm toàn bộ các sông còn lại ở Việt Nam với tổng lượng dòng chảy tương ứng là 92,7 km /năm, chiếm 11,4% tổng lượng dòng chảy toàn bộ. Lượng nước này chúng ta hoàn toàn chủ động khai thác không ảnh hưởng đến các quốc gia khác.
Tài nguyên nước dưới đất Nước tàng trữ trong lòng đất cũng là một bộ phận quan trọng của nguồn tài nguyên nước Việt Nam. Mặc dù nước dưới đất được khai thác đề sử dụng cho sinh hoạt đã có từ lâu đời nay, tuy nhiên việc điều tra nghiên cứu nguồn tài nguyên này một cách toàn diện và có hệ thống chỉ mới được tiến hành trong chừng mấy chục năm trước đây. Trước kia phong trào đào giếng để khai thác nước dưới đất được thực hiện ở nhiều nơi nhất là ở vùng nông thôn bằng các phương tiện thủ công, còn sự khai thác bằng các phương tiện hiện đại cũng đã được tiến hành nhưng còn rất hạn chế chỉ nhằm phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt ở các trung tâm công nghiệp và khu dân cư lớn mà thôi. Nước dưới đất là nguồn cung cấp nước rất quan trọng cho sinh hoạt, công nghiệp và nông nghiệp.
Hiện nay nguồn nước dưới đất chiếm 35-50% tổng lượng nước cấp sinh hoạt cho các đô thị trên toàn quốc, nhưng đang suy giảm trữ lượng đồng thời bị ô nhiễm nghiêm trọng. Nhiều nơi, nguồn nước dưới đất đang phải đối mặt với vẫn đề xâm hập mắn trên diện rộng, ô nhiễm vi sinh, ô nhiễm kim loại nặng như Hà Nội?Thành phố Hồ Chí Minh do khoan nước dưới đất thiếu quy hoạch và không có kế hoạch bảo vệ nguồn nước. Theo báo cáo của Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), nguồn nước dưới đất của“Việt Nam khá phong phú nhờ mưa nhiều. Hiện tông trữ lượng khai thác nứỡe:đưới đất trên toàn quốc đạt gần 20 triệu m’, tổng công suất của hơn 3Ø0:nhà máy khai thác nguồn nước này vào khoảng 1,47 triệu mÌ/ngày, Những trên thực tế các nhà máy chỉ khai thác được 60-70% so với công sưất thiết kế.
Vấn đề đáng báo động là nguồn nước dưới đất của Việt Nam-đang đố mặt với dấu hiệu ô nhiễm Coliform vượt quy chuẩn cho phép tir hang tram dén hang nghin lần. Tình trạng ô nhiễm phốt phát (P-PO¿”) cũng có xu hướng tăng theo thời gian. Tại Hà Nội, số giếng khoan có hàm lượng (P-PO¿ `) cao hơn mức cho phép (0,4mg/l) chiếm tới 71%. Còn lại khu vực Hà Giang-Tuyên Quang, hàm lượng Sắt ở một số nơi cao vượt mức cho phép trên Img/1, có nơi trên 15-20 mg/I, tập trung chủ yếu quanh các mỏ khai thác Sunfua.
Ngoài ra, việc khai thác nước quá mức ở tầng holocen cũng làm cho hàm lượng Asen trong nước dưới đất tăng lên rõ rệt, vượt mức giới hạn cho phép 10mg/1. Đặc biệt vùng nhiễm Asen phân bố gần như trùng với diện tích phân bố của vùng có hàm lượng Amoni cao, tập trung chủ yếu ở khu vực Đồng bằng Bắc Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả quan trắc của Trung tâm Quan trắc và Dự báo tài nguyên nước (Bộ Tài nguyên Môi trường) cũng cho thấy mực nước đưới đất đang sụt giảm mạnh, chất lượng nước ở nhiều nơi không đạt tiêu chuẩn. Ở đồng bằng Bắc bộ, mực nước dưới đất hạ sâu, đặc biệt ở khu vực Mai Dịch (Cầu Giấy, Hà Nội).
Vào mùa khô, cả 07/7 mẫu đều có hàm lượng Amomi cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần. Riêng ở Tân Lập (Đan Phượng, Hà Nội), hàm lượng Amoni lên đến 23,3 mg/1 (gấp 233 lần tiêu chuẩn cho phép). Ngoài ra, còn có 17/32 mẫu có hàm lượng mangan (Mn) vượt quá hàm lượng tiêu chuẩn, 4/32 mẫu có hàm lượng Asen (As) vượt tiêu chuẩn. Tổng quan về tài nguyên nước ở tỉnh Sơn Da Sơn La là một tỉnh có tiềm năng về tài nguyên nước với 35 suối lớn; 2 sông lớn là sông Đà dai 280 km với 32 phụilưu và sông Mã dài 90 km với 17 phụ lưu; 7.900 ha mặt nước hồ Hòa Bình`và 1400 ha mặt nước ao hồ.
Mật độ sông suối 1,8 km/km? nhưng phân bố không đều, sông suối có độ dốc lớn, nhiều thác ghềnh do địa hình núi ao, chia cắt sâu. Dòng chảy biến đổi theo mùa, biên độ dao động giữa mừa mmưa:và mùa khô khá lớn. Mùa lũ thường diễn ra từ tháng 6 đến tháng 10 tfong năm nhưng diễn ra sớm hơn ở các nhánh thượng lưu và muộn hơn ở-hạ lưu: Có đến 65 - 80% tổng lượng dòng chảy trong năm tập trung trong tñùa lũ này. Việc khai thác thế mạnh tài nguyên nước phục vụ cho sự nghiệp phát triên kinh tế - xã hội là cần thiết và cấp bách.
Tài nguyên nước mặt Sơn La nằm trong Tưu vực của 2 con sông lớn là sông Đà và sông Mã. Sông Đà gồm các phụ lưu chính: Suối Muội, suối Nậm Bú, suối Sập Vạt, suối Nậm Giôn, suối Nậm Mu, suối Sập. Sông Mã gồm các phụ lưu chính: Nậm Công, Nậm Ty, Nậm Sọi, Nậm LỆ ngoài ra còn có rất nhiều các con suối nhỏ khác nhau đã tạo cho Sơn La có mạng lưới sông suối tương đối lớn 1,§km/kmỶ, trong đó có hai hệ thống sông lớn chảy qua địa bàn tỉnh Sơn La là sông Đà và sông Mã. Mạng sông thưa ở vùng đá vôi: Mộc Châu, Sơn La, mạng sông dày hơn ở vùng Mường La, Phù Yên, Bắc Yên, Quỳnh Nhai.
Sông Đà: Sông Đà là phụ lưu có diện tích lưu vực lớn nhất của lưu vực sông Hồng, diện tích lưu vực sông Hồng tính đến Sơn Tây là 143.300knm' thì sông Đà có 52.900km” chiếm 36,9% nhưng chiếm tới 47% tổng lượng nước sông Hồng (56,Ikm)) trong 118,2km' (tại Sơn Tây), chiều dài sông chảy qua địa bàn tỉnh Sơn La 238km. Sông Mã: Bắt nguồn từ Tuần Giáo tỉnh Điện Biên, đoạn chảy qua tỉnh Sơn La có chiều đài 94km, diện tích lưu vực tính đến tỉnh Sơn La tại Xã Là — Chiềng Khương khoảng 6. Suối Nậm La: Có diện tích 446,5km”, bat nguồn từ dãy núi cao Phu Ta Lan thuộc cao nguyên Son La — Na Sany Mat do suối ở lưu vực 0.42km/kn? so với các lưu vực khác trong tỉnh thì mật độ suối của lưu vực ở mức nghèo và dưới trung bình so với sông §uối ở Các vùng trong tỉnh. Suối Nậm Pàn: Bắt nguồn từ vùng cao biên giới Việt - Lào thuộc huyện Yên Châu chảy qua huyện Mai Sơn, Mường La và nhập lưu với Nậm La thành suối Nậm Bú.
Diện tích lưu*Vực: 610km”, mật độ sông suối 0,43km/km” ở mức nghèo và dướïtmức-tfung bình so với lưu vực sông suối khác trong tỉnh, dòng chảy Nậm'Pàn theo hướng Đông Nam — Tây Bắc với chiều dài suối tính từ nguồn tới Cửara 87,27km. Suối Sập: Là nhánh Sông cấp 1 của sông Đà, chiều dai khoảng 68km, bắt nguồn từ cao nguyên Mộc Châu đến xã Sập Vạt, Yên Châu nhập lưu với Suối Vạt, sau đó chảy rã sông Đà.