ĐẶT VẤN ĐỀ Giao tiếp ở động vật là hoạt động giao tiếp giữa các loài động vật với nhau, có thể là các cá thể trong cùng một loài (giữa bầy đàn này với bầy đàn khác), giữa các cá thể khác loài và việc giao tiếp giữa động vật với con ngƣời thông qua các tín hiệu của động vật gửi đi những thông tin đến đối tƣợng. Theo kết quả nghiên cứu của các nhà sinh vật học, tất cả các loài động vật trên thế giới đều có ngôn ngữ giao tiếp của riêng chúng mà con ngƣời chỉ hiểu đơn giản đó là tiếng kêu, tiếng hót, tiếng hú. Việt Nam đƣợc đánh giá là một trong các nƣớc có mức độ đa dạng sinh học cao (Đỗ Quang Huy và cộng sự, 2009). Theo thống kê nƣớc ta có 225 loài thú thuộc 37 họ, 12 bộ (Giáo trình Động vật rừng, Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy, 1998).
Nhƣng gần đây, do tình trạng chặt phá rừng cũng nhƣ biến đổi khí hậu đã đang và sẽ thay đổi rất nghiều tới các loài động vật, đặc biệt là những loài động vật ăn thịt vì nó làm mất không gian sống, nguồn thức ăn … trong đó có các loài thuộc họ Mèo (Felidea). Vì vậy, để nghiên cứu về động vật ăn thịt họ Mèo trong điều kiện tự nhiên rất khó. Đến nay có khá ít nghiên cứu về chủ đề trên, để thuận tiện cho việc nghiên cứu, tôi đã chọn Vƣờn thú Hà Nội, nơi mà có các loài thú ăn thịt điển hình nhƣ: Hổ đông dƣơng (Panthera tigris corbetti) và Báo gấm (Neofelis nebulosa). Đặc biệt nghiên cứu về đặc điểm tiếng kêu, thƣờng không đƣợc nghiên cứu sâu.
Đề tài đi sâu vào nghiên cứu đặc điểm tiếng kêu, thời gian và các hoạt động khi kêu cũng nhƣ so sánh tiếng kêu trong điều kiện nuôi nhốt và ngoài tự nhiên. Từ thực tế trên và để góp phần tạo cơ sở khoa học và nghiên cứu về Hổ đông dƣơng và Báo gấm, tôi đã tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm về tiếng kêu của một số loài thú ăn thịt tại Vườn thú Hà Nội”. 1 TÓM TẮTKHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Tên khóa luận: “Nghiên cứu đặc điểm về tiếng kêu của một số loài thú ăn thịt tại Vườn thú Hà Nội”.TS Vũ Tiến Thịnh GVHD 2: ThS Trần Văn Dũng Sinh viên thực hiện: Phùng Thanh Nam 1. Mục tiêu nghiên cứu: - Mục tiêu chung: Xác định đƣợc đặc điểm tiếng kêu của một số loài thú ăn thịt, để từ đó làm cơ sở cung cấp thông tin, dữ liệu nhằm góp phần vào phát hiện và bảo tồn tính đa dạng sinh học của những loài đó.
- Mục tiêu cụ thể: + Xác định đƣợc đặc điểm tiếng kêu của Hổ đông dƣơng và Báo gấm trong điều kiện nuôi nhốt. + So sánh đƣợc đặc điểm tiếng kêu của Hổ đông dƣơng và Báo gấm trong điều kiện nuôi nhốt và ngoài tự nhiên. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 2. Đối tượng nghiên cứu: Hổ đông dƣơng (Panthera tigris corbetti) và Báo gấm (Neofelis nebulosa).Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu một số loài thú ăn thịt họ Mèo đƣợc nuôi nhốt tại Vƣờn thú Hà Nội.
Nội dung nghiên cứu Để thực hiện mục tiêu đặt ra, đề tài tiến hành thực hiện những nội dung sau: (1) Nghiên cứu đặc điểm và mô tả các loại tiếng kêu của Hổ đông dƣơng và Báo gấm tại Vƣờn thú Hà Nội. 2 (2) Xác định thời gian và các hoạt động của loài Hổ đông dƣơng và Báo gấm thƣờng phát ra tiếng kêu trong ngày. (3) So sánh đặc điểm tiếng kêu của Hổ đông dƣơng và Báo gấm trong điều kiện nuôi nhốt và ngoài tự nhiên. Phƣơng pháp nghiên cứu 4.
Phương pháp kế thừa số liệu 4. Phương pháp xử lý số liệu nội nghiệp 4. Phương pháp điều tra ngoại nghiệp a. Phương pháp phỏng vấn b.
Phương pháp điều tra ngoại nghiệp 4. Phƣơng pháp xử lý số liệu nội nghiệp 5. Kết quả nghiên cứu Đối với loài Hổ đông dƣơng: Thứ nhất: Qua quá trình điều tra và phân tích tôi đã xác định đƣợc 3 dạng tiếng kêu đặc trƣng của Hổ đông dƣơng và phiên âm là: tiếng thứ nhất: Mow… mow… mow; tiếng thứ 2: hực… hực… hực và tiếng thứ 3 gào… gào. Tiếng kêu phát ra khá liên tục, khoảng cách giữa các tiếng ngắn, âm vang và rõ.
Thứ hai: Xác định đƣợc thời gian mà các cá thể Hổ đông dƣơng thƣờng phát ra tiếng kêu là vào chiều tối và sáng sớm, giảm hẳn vào trƣa và đầu giờ chiều. Những hoạt động khi chúng phát ra tiếng kêu thƣờng là đi lại quanh cửa chuồng, đùa giớn với nhau và cào cửa khi đƣợc cho ăn bữa ăn phụ. Tuy nhiên tiếng kêu của những cá thể Hổ đông dƣơng này phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện ngoại cảnh, ví dụ nhƣ có sự tiếp cận của nhân viên xí nghiệp hoặc thay đổi thời tiết. Thứ ba: Khi tiến hành so sánh tiếng kêu của Hổ đông dƣơng giữa ngoài tự nhiên và trong điều kiện nuôi nhốt thì có sự tƣơng đồng khá cao ở dạng tiếng kêu số 2, trong khi ở dạng tiếng kêu số 1 thì có sai khác song không quá lớn.
3 Đối với loài Báo gấm Thứ nhất: Qua quá trình điều tra và phân tích tôi đã xác định đƣợc 2 dạng tiếng kêu đặc trƣng của Báo gấm và phiên âm là: tiếng thứ nhất:khè… khè (khì… khì); tiếng thứ 2: gừ… gừ… gừ. Tiếng kêu phát ra khá liên tục, khoảng cách giữa các tiếng ngắn, âm phát ra không quá lớn. Thứ hai: Xác định đƣợc thời gian mà cá thể Báo gấm thƣờng phát ra tiếng kêu là vào chiều tối, giảm hẳn vào trƣa và chiều. Hoạt động chính khi phát ra tiếng kêu của Báo gấm là đi lại quanh chuồng, đánh dấu lãnh thổ, tự vệ.
Cá thể Báo gấm chỉ phát ra tiếng kêu khi có tác động từ bên ngoài khi có nhân viên xí nghiệp hoặc có ngƣời cố tình tiếp cận. Thứ ba: Do không đủ dữ liệu về tiếng kêu ngoài tự nhiên nên việc so sánh không khả thi. 4 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về lớp Thú và Bộ thú ăn thịt 1.
Khái quát về lớp Thú Lớp thú (Mammalia) gồm những loài có tổ chức cao nhất trong các lớp động vật có xƣơng sống. Chúng có thân nhiệt cao và khá ổn định. Hệ thần kinh rất phát triển, đặc biệt là lớp vỏ xám của não bộ. Đẻ con và nuôi con bằng sữa.
Thú còn đƣợc gọi là “Động vật có vú” hoặc “Động vật hữu nhũ” vì đặc điểm chúng có nhiều tuyến da dƣới ngực, gọi là vú để nuôi con khi mới sinh. Ngoài ra thú còn là một nhánh động vật có màng ối nội nhiệt đƣợc phân biệt với chim bởi sự xuất hiện của lông mao (trừ bộ Cá voi Cetacea), ba xƣơng tai giữa, tuyến vú, và vỏ não mới. Cho đến ngày nay, dƣới tác động của chọn lọc tự nhiên cũng nhƣ sự khai thác bừa bãi của con ngƣời số lƣợng loài thú đã có sự thay đổi đáng kể. Lớp thú đƣợc phân thành 1.229 chi, 153 họ và 29 bộ.
Năm 2008, IUCN đã hoàn thành việc khảo sát đánh giá động vật có vú toàn cầu kéo dài 5 năm với sự tham gia của 1.700 nhà khoa học để lập Sách đỏ IUCN, trong đó ghi nhận 5.488 loài đƣợc công nhận vào cuối thời kỳ đó. Khái quát về Bộ ăn thịt Bộ ăn thịt (Canivora) gồm các loài thú có hình dạng, kích thƣớc và trọng lƣợng khác nhau. Đa số loài sống trên mặt đất, nhiều loài có khả năng leo trèo, ít loài thích nghi sống nửa nƣớc nửa cạn. Đặc điểm nổi bật là bộ răng thể hiện sự chuyển hóa với chế độ ăn thịt.
Dạ dày một ngăn. Não bộ phát triển, nhiều khe rãnh và nếp nhăn. Bộ ăn thịt ở nƣớc ta có 37 loài xếp trong 6 họ gồm: Họ Chó (Canidae); Họ Gấu (Ursidae); Họ Triết (Mustelidae); Họ Cầy (Viverridae); Họ Mèo (Felidae). Trong số các họ trên thì họ Mèo là họ ăn thịt điển hình.
Loài Hổ đông dƣơng và Báo gấm. Loài Hổ đông dƣơng Phân loại khoa học Giới (regnum): Animalia Ngành (Phylum): Chordata Lớp (class): Mammalia Bộ (ordo): Carnivora Họ (familia): Felidae Chi (genus): Panthera Loài (species): P.tigris Phân loài (subspecies): (Panthera tigris corbetti) Đặc điểm nhận dạng: Cỡ lớn nhất trong Họ Mèo (Felidae) có thể nặng 200 - 250kg. Nền lông vàng hoặc vàng sáng, phần bụng trắng. Mặt và dọc thân có nhiều sọc đen.Hổ dễ phân biệt bằng các dải đen này.Thế giới có 5 phân loài hổ.Hổ sống ở vùng Đông nam Á gồm cả Việt Nam thuộc phân loài Hổ đông dƣơng (Panthera tigris corbetti Mazak, 1968) có kích thƣớc nhỏ hơn các phân loài khác.
Sinh học, sinh thái: Thức ăn gồm nhiều loài thú rừng và gia súc. Hổ sống và hoạt động ở vùng rừng núi với các kiểu rừng, kể cả vùng cây bụi lau lách, trảng cỏ tranh trong rừng.Hổ có vùng hoạt động rất lớn.Chúng không sống cố định, thƣờng hoạt động di chuyển trong vùng rừng của 2 - 3 tỉnh kế cận, hoạt động ban đêm. Hổ có thể giao phối quanh năm nhƣng tập trung vào một số tháng nhất định tuỳ từng vùng. Thời gian mang thai khoảng 100 ngày, mỗi lứa đẻ thƣờng 2 - 3 con nhƣng có thể hơn.
Hổ con tách mẹ sống độc lập khi 18 – 28 tháng tuổi. Hổ cái bắt đầu sinh sản ở 3 – 4 năm tuổi, hổ đực trƣởng thành muộn hơn 4 – 6 năm. Phân bố: 6 Trong nƣớc: Phân bố rộng. Nơi thu mẫu: Lai Châu, Lào Cai, Bắc Kạn, Phú Yên, Khánh Hoà, Kontum, Gia Lai, Lâm Đồng, Tây Ninh, Biên Hoà.
Thế giới: Bănglađét, Myanma, Inđônêxia, Malaixia, Thái Lan, Lào, Cămpuchia. Giá trị: Loài thú qúy, hiếm có giá trị nghiên cứu khoa học, đồng thời góp phần điều hoà số lƣợng cá thể các quần thể con mồi. Tình trạng: Trƣớc đây, hổ tƣơng đối phong phú trong các khu rừng già của cả nƣớc. Hiện nay, trữ lƣợng của chúng đã giảm sút nghiêm trọng, ƣớc tính còn không quá 150 cá thể, sống tản mạn, biệt lập ở các vùng rừng khác nhau.
Phân hạng: CR A1d C1+2a. Biện pháp bảo vệ: Đã đƣợc đƣa vào Sách đỏ Việt Nam và Nhóm IB Nghị định 32/2006/NĐ-CP.Nhiều hội nghị khoa học quốc tế và trong nƣớc đã đƣợc tổ chức bàn biện pháp bảo vệ. Việt Nam đã tham gia Diễn đàn hổ (Tiger Forum) quốc tế để phối hợp với các nƣớc và các tổ chức quốc tế bảo vệ hổ. Cần kiểm soát chặt chẽ hơn nữa việc săn bắt và buôn bán, sử dụng hổ và các sản phẩm làm từ hổ.
Cần tổ chức nhân nuôi sinh sản bán tự nhiên để bảo tồn loài và thả lại vào thiên nhiên khi có điều kiện phù hợp.